Xu Hướng 2/2023 # Từ 2022, Học Sinh Lớp 1 Học Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới # Top 9 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Từ 2022, Học Sinh Lớp 1 Học Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Từ 2022, Học Sinh Lớp 1 Học Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chương trình giáo dục phổ thông mới đang được khởi động và sẽ được áp dụng bắt đầu từ năm học tới.

Từ năm 2020 – 2021, bắt đầu áp dụng với học sinh lớp 1

Theo lộ trình được Bộ Giáo dục Đào tạo đề ra tại Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ được áp dụng như sau:

– Từ năm học 2020-2021 đối với lớp 1.

– Từ năm học 2021-2022 đối với lớp 2 và lớp 6.

– Từ năm học 2022-2023 đối với lớp 3, lớp 7 và lớp 10.

– Từ năm học 2023-2024 đối với lớp 4, lớp 8 và lớp 11.

– Từ năm học 2024-2025 đối với lớp 5, lớp 9 và lớp 12.

Như vậy, học sinh lớp 1 nhập học năm học 2020 – 2021 sẽ là khóa đầu tiên được áp dụng Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Do đó, không chỉ giáo viên, mà các bậc phụ huynh cũng nên nắm được những thay đổi quan trọng, những điểm mới của Chương trình này.

Hiện nay, việc ban hành Bộ sách giáo khoa mới đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo xúc tiến thực hiện và sẽ được công bố trước khi năm học 2020 – 2021 bắt đầu (tháng 9/2020).

3 thay đổi về Chương trình giáo dục của học sinh lớp 1

Có 7 môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc với học sinh lớp 1 bao gồm: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Tự nhiên và Xã hội; Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc và Mĩ thuật); Hoạt động trải nghiệm.

So với trước đây, số môn học đã được giảm tải (trước đây học sinh lớp 1 phải học đến 10 môn).

– Thống nhất học 2 buổi/ngày:

Nếu như trước đây, Chương trình giáo dục phổ thông cũ cho phép các trường tổ chức dạy học 02 buổi/ngày hoặc 01 buổi/ngày thì nay, Chương trình mới thống nhất thực hiện dạy học 02 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 07 tiết học; mỗi tiết học 35 phút.

Chỉ riêng những trường chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 02 buổi/ngày thì thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

– Chương trình học giảm lý thuyết, thiên về trải nghiệm:

Ngay từ lớp 1, học sinh sẽ được học về các hoạt động trải nghiệm, và đây được coi là một hoạt động giáo dục bắt buộc.

Cụ thể, học sinh được học một số việc tự chăm sóc bản thân; Sắp xếp nhà cửa gọn gàng; Làm quen với bạn mới; Thiết lập mối quan hệ với hàng xóm…

Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Tiếng Anh

Lộ trình dạy môn tiếng anh theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh mới

Khung chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh của BGDĐT

(Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐTngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

MỤC LỤC

I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC ……………………………………………………………………………………………. 3

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ……………………………………………………………. 4

III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH ……………………………………………………………………………….. 5

Mục tiêu chung ………………………………………………………………………………………………………… 5

2. Mục tiêu cụ thể …………………………………………………………………………………………………….. 6

IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT …………………………………………………………………………………………….. 8

1. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung ……………………………………………………. 8

2. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù ………………………………………………………………………. 8

V. NỘI DUNG GIÁO DỤC ………………………………………………………………………………………….. 9

1. Nội dung khái quát ……………………………………………………………………………………………….. 9

2. Nội dung cụ thể …………………………………………………………………………………………………… 26

VI. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ………………………………………………………………………………. 48

VII. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC ……………………………………………………………………….. 50

VIII. GIẢI THÍCH VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH ……………………………… 51

Nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới môn Tiếng Anh

Chương trình giáo dục phổ thông mới môn tiếng anh lớp 1-2

I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC

Chương trình Làm quen Tiếng Anh lớp 1 và lớp 2 (sau đây gọi tắt là Chương trình) được xây dựng để đáp ứng nhu cầu làm quen với tiếng Anh của học sinh lớp 1 và lớp 2 trong bối cảnh môn học Tiếng Anh được đưa vào chương trình học chính thức cho học sinh tiểu học bắt đầu từ lớp 3. Với vai trò là một trong những môn học có tính công cụ ở trường phổ thông, môn học này không chỉ giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh mà còn hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực thẩm mĩ; để sống và làm việc hiệu quả; để học tập tốt các môn học khác cũng như để học suốt đời.

Chương trình được xây dựng như một môn ngoại ngữ tự chọn cho học sinh lớp 1, lớp 2 và đảm bảo tính liên thông với chương trình môn Tiếng Anh được dạy từ lớp 3 đến lớp 12. Trong quá trình tổ chức thực hiện môn học này với tư cách là môn tự chọn, nhà trường cần xét đến các điều kiện thực hiện phù hợp để Chương trình đạt hiệu quả cao nhất.

Đặc điểm của học sinh lứa tuổi sáu, bảy là phát triển ngôn ngữ thông qua trải nghiệm thế giới. Học sinh có thiên hướng lĩnh hội ngôn ngữ một cách tự nhiên hơn là lĩnh hội ngôn ngữ một cách có chủ đích. Đồng thời, các em cũng đang trong giai đoạn học đọc và viết tiếng mẹ đẻ. Vì những lí do này, Chương trình ưu tiên phát triển kĩ năng nghe hiểu thông qua những tình huống giao tiếp đơn giản hằng ngày, câu chuyện, bài vè và bài hát. Kĩ năng nói đơn giản có thể được phát triển theo độ sẵn sàng của học sinh.

Chương trình được thiết kế và phân bổ cho 140 tiết học trong 4 học kì (2 kì của lớp 1 và 2 kì của lớp 2). Nội dung Chương trình và mục tiêu dạy học được lựa chọn và sắp xếp dựa theo mục tiêu năng lực giao tiếp. Việc kiểm tra đánh giá được lồng ghép vào các hoạt động trên lớp.

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

1. Chương trình tuân thủ các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể gồm định hướng chung cho tất cả các môn học về quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục, điều kiện thực hiện và phát triển chương trình.

2. Chương trình được xây dựng dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học hiện đại. Cơ sở lí luận và thực tiễn của chương trình: Các kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lí học và phương pháp dạy học Tiếng Anh hiện đại; các thành tựu nghiên cứu về ngôn ngữ tiếng Anh; phương pháp xây dựng chương trình môn Tiếng Anh như một ngoại ngữ của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm xây dựng chương trình của Việt Nam; thực tiễn xã hội, giáo dục, điều kiện kinh tế và truyền thống văn hoá Việt Nam, chú ý đến sự đa dạng của đối tượng học sinh xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập.

3. Chương trình được xây dựng theo đường hướng giao tiếp. Theo đó, năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học; kiến thức ngôn ngữ là một trong các phương tiện để hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp. Ở hai lớp đầu cấp Tiểu học này, việc dạy học cần nhấn mạnh đến kĩ năng nghe hiểu. Kĩ năng nói đơn giản có thể được phát triển tuỳ theo mức độ sẵn sàng của học sinh.

5. Chương trình được xây dựng theo quan điểm Thiết kế Trung tâm. Trong quan điểm này, phương pháp dạy học là yếu tố được xem xét đầu tiên để từ đó xác định nội dung và yêu cầu đầu ra. Chương trình nhấn mạnh đến những yếu tố sau đây:

a) Phương pháp và các nguyên tắc dạy học là nhân tố rất quan trọng trong quá trình dạy và học.

b) Tiến trình học tập của người học được chú trọng hơn mục tiêu, yêu cầu cần đạt đã xác định từ trước.

c) Học sinh phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh thông qua hoạt động học tập tích cực, chủ động và sáng tạo; thông qua hoạt động trải nghiệm; với tư cách là những cá thể độc lập. d) Điều kiện dạy học tiếng Anh đa dạng ở các địa phương.

đ) Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học, khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập.

III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH 1. Mục tiêu chung

Chương trình Làm quen Tiếng Anh lớp 1 và lớp 2 nhằm giúp học sinh bước đầu có nhận thức đơn giản nhất về tiếng Anh, làm quen, khám phá và trải nghiệm để hình thành kĩ năng tiếng Anh theo các ngữ cảnh phù hợp với năng lực tư duy, cảm xúc và tâm sinh lí của lứa tuổi, giúp các em tự tin khi bước vào học tiếng Anh lớp 3 và hình thành cho các em niềm yêu thích đối với môn học.

2. Mục tiêu cụ thể

Hoàn thành Chương trình này, học sinh có thể:

a) Nghe và nhận biết được tên các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Anh. b) Nghe và nhận biết một số âm cơ bản trong bảng chữ cái tiếng Anh.

c) Nghe hiểu các số đếm trong phạm vi 20.

d) Nghe hiểu được các từ và cụm từ gần gũi với hoạt động của học sinh trong ngữ cảnh.

đ) Nghe hiểu và hồi đáp phi ngôn ngữ trong tình huống giao tiếp đơn giản, gần gũi với đời sống của học sinh lớp 1 và lớp 2.

e) Nghe hiểu và thực hiện theo các hướng dẫn đơn giản trong lớp học bằng tiếng Anh.

g) Nghe hiểu và có phản hồi bằng tiếng Anh một cách đơn giản trong các tình huống hỏi đáp rất đơn giản, quen thuộc với người học.

h) Trả lời các câu hỏi đơn giản quen thuộc gắn liền với trải nghiệm của học sinh, có thể ở cấp độ từ hoặc câu đơn giản.

i) Bước đầu đưa ra một số chỉ dẫn quen thuộc khi tham gia vào các hoạt động đơn giản trên lớp.

k) Nhận biết và đọc thành lời các từ và một số cụm từ quen thuộc, đơn giản và cụ thể.

m) Bước đầu hình thành sự yêu thích đối với môn học.

IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT

1. Yêu cầu cần đạt về năng lực và phẩm chất

Chương trình góp phần hình thành và phát triển ở học sinh năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, tự phục vụ, tự quản, tự học và khả năng giải quyết vấn đề. Đồng thời Chương trình cũng tập trung bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất như chăm học, chăm làm, tự tin, trách nhiệm, trung thực, kỉ luật, đoàn kết và yêu thương của học sinh. Thông qua việc làm quen với tiếng Anh, học sinh có thái độ tích cực đối với bộ môn, có hiểu biết về các nền văn hoá khác và thấy được giá trị của nền văn hoá dân tộc mình.

2. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù

Các năng lực đặc thù cần đạt đối với học sinh được mô tả thông qua bốn kĩ năng giao tiếp, đặc biệt chú trọng đến kĩ năng nghe hiểu. Kĩ năng nói trong các tình huống giao tiếp rất đơn giản có thể được phát triển theo mức độ sẵn sàng của người học, bước đầu góp phần hình thành năng lực giao tiếp ở mức độ đơn giản nhất cho học sinh tiểu học.

2.1. Đối với học sinh lớp 1

Hết lớp 1, học sinh có thể:

a) Bước đầu nhắc lại được các cụm từ, câu đơn giản, bài vè, bài hát phù hợp với năng lực tư duy, cảm xúc và tâm sinh lí lứa tuổi lớp 1.

b) Nhận biết được các số từ 1 đến 10 và dùng các số đếm này để đếm hoặc trả lời một số câu hỏi về số lượng đơn giản.

d) Phản hồi được bằng tiếng Anh một cách đơn giản trong các tình huống hỏi đáp rất đơn giản, gắn liền với trải nghiệm của học sinh lớp 1.

đ) Nghe hiểu được và biết cách hồi đáp phi ngôn ngữ trong các hội thoại rất đơn giản và ngắn gọn, câu lệnh đơn giản trong lớp học.

e) Biết cách chào hỏi, tạm biệt rất đơn giản.

2.2. Đối với học sinh lớp 2

Hết lớp 2, học sinh có thể:

a) Nhắc lại được các cụm từ, câu đơn giản, bài vè, bài hát phù hợp với năng lực tư duy, cảm xúc và tâm sinh lí lứa tuổi lớp 2.

c) Nhận biết được các số từ 1 – 20 và có thể dùng các số đếm này để đếm hoặc trả lời một số câu hỏi về số lượng đơn giản.

d) Nghe hiểu và phản hồi được bằng tiếng Anh một cách đơn giản trong các tình huống hỏi đáp rất đơn giản và quen thuộc.

đ) Làm theo và thực hiện được các câu lệnh rất đơn giản trong lớp học, mở rộng hơn về số lượng và độ dài câu lệnh.

e) Đưa ra được một số câu lệnh quen thuộc khi tham gia một số hoạt động tập thể trong giờ học, có mở rộng về số lượng và cấu trúc so với lớp 1.

g) Trả lời được câu hỏi đơn giản và hồi đáp được bằng một hoặc hai từ trong ngữ cảnh cụ thể và quen thuộc.

V. NỘI DUNG GIÁO DỤC

1. Nội dung khái quát

1.1. Kiến thức ngôn ngữ

a) Ngữ âm: Một số âm cơ bản (nguyên âm, phụ âm đứng đầu và cuối của từ), tên các chữ cái trong bảng chữ cái trong chương trình học.

c) Cấu trúc: Một số cấu trúc đơn giản hay sử dụng trong tình huống giao tiếp quen thuộc.

1.2. Kĩ năng ngôn ngữ

d) Viết: Tô chữ, viết lại từ, hoàn thành từ trong ngữ cảnh cụ thể.

Màu sắc

Hoạt động hằng ngày

Hoạt động vui chơi

Động vật

Hoạt động trong lớp học

Các phòng trong nhà

Đồ chơi

Đồ dùng học tập

Các loại quả

Trường học

Bộ phận cơ thể

Thức ăn

Gia đình

Ngày trong tuần

Cảm xúc

Hình cơ bản

Quần áo

Giác quan

Địa điểm

Phương tiện giao thông

Trò chơi

Khung chương trình tiếng anh tiểu học Lớp 1

Nghe

– Nghe các chữ cái đã học (khoảng 13 chữ cái).

– Nghe các âm cơ bản đã học.

– Nghe các số đếm trong phạm vi 10.

– Nghe các từ và cụm từ gần gũi với hoạt động của học sinh trong ngữ cảnh (trong phạm vi khoảng 35 – 70 từ quen thuộc).

– Nghe và phản hồi phi ngôn ngữ trong một số tình huống giao tiếp rất đơn giản khi đã được thực hành nhiều lần.

– Nghe và thực hiện theo các hướng dẫn rất đơn giản trong lớp học khi đã được thực hành nhiều lần.

– Nghe và phản hồi bằng tiếng Anh trong một số tình huống hỏi đáp rất quen thuộc khi đã được thực hành nhiều lần.

Ngữ âm

– 13 chữ cái

– Một số âm đơn giản ở vị trí bắt đầu của từ.

Từ vựng

– Số đếm 1 – 10

– Em và những người bạn của em

– Em và trường học của em

– Em và gia đình của em

– Em và thế giới quanh em

– …

Nói

– Nhắc lại một số cụm từ, câu đơn giản, bài đọc vè, bài hát phù hợp với lứa tuổi.

– Nói các từ quen thuộc chỉ sự vật trong ngữ cảnh (trong phạm vi khoảng 35-70 từ quen thuộc).

– Nghe và nhắc lại các âm cơ bản đã học.

– Trả lời đơn giản, có thể chỉ ở cấp độ từ hoặc cụm từ, các câu hỏi rất đơn giản trong các tình huống giao tiếp đơn giản hoạt động hằng ngày.

Đọc

– Đọc thành lời các từ và một số cụm từ quen thuộc, đơn giản và cụ thể.

Khung chương trình tiếng anh tiểu học Lớp 2

Nghe

– Nghe và nhận biết các chữ cái đã học (khoảng 13 chữ cái).

– Nghe và nhận biết các âm đã học ở vị trí bắt đầu hoặc kết thúc của từ.

– Nghe hiểu các số đếm trong phạm vi 20.

– Nghe hiểu các từ và cụm từ gần gũi với hoạt động của học sinh trong ngữ cảnh (thêm khoảng 35 – 70 từ so với lớp 1).

– Nghe hiểu và phản hồi phi ngôn ngữ trong một số tình huống giao tiếp đơn giản.

– Nghe hiểu và thực hiện theo các hướng dẫn đơn giản trong lớp học.

– Nghe hiểu và tham gia vào các hoạt động trên lớp có chỉ dẫn bằng tiếng Anh.

– Nghe hiểu và phản hồi bằng tiếng Anh trong một số tình huống hỏi đáp quen thuộc.

Ngữ âm

– 13 chữ cái

– Một số âm đơn giản ở vị trí bắt đầu và kết thúc của từ.

Từ vựng

– Số đếm từ 1 – 20

– Thêm khoảng 35-70 từ vựng; ưu tiên danh từ, động từ và tính từ.

– Ngày trong tuần

– Hoạt động trong lớp

– Cảm xúc

– Hoạt động ở sân chơi

– Hình cơ bản

– Số đếm

– Quần áo

– Phương tiện giao thông

– Động vật

– Trò chơi trong lớp học

– …

– Em và những người bạn của em

– Em và trường học của em

– Em và gia đình của em

– Em và thế giới quanh em

– …

Đọc

– Đọc thành lời các từ và một số cụm từ quen thuộc, đơn giản và cụ thể.

– Đọc hiểu nội dung chính của một cụm từ hoặc câu ngắn.

Viết

– Tô hoặc chép lại chữ cái trong từ.

– Viết chữ cái trong từ.

– Viết được từ rất đơn giản.

VI. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

Chương trình Làm quen Tiếng Anh lớp 1 và lớp 2 được xây dựng theo Đường hướng giao tiếp. Các phương pháp theo đường hướng này nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp của học sinh. Năng lực giao tiếp ở giai đoạn này có thể chỉ dừng lại ở việc hiểu các ngữ cảnh giao tiếp và từng bước phản hồi phi ngôn ngữ hoặc bằng ngôn ngữ đơn giản. Ngoài ra, phương pháp dạy học cũng chú trọng đến quá trình lĩnh hội ngôn ngữ một cách tự nhiên của học sinh ở lứa tuổi này. Một số định hướng và cách tiếp cận chủ đạo trong phương pháp dạy học bao gồm:

1. Đối với giáo viên

Giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn hoạt động dạy học. Giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm tâm – sinh lí của học sinh đầu cấp Tiểu học và cách tiếp cận chủ đạo trong giảng dạy tiếng Anh ở giai đoạn này.

Giáo viên sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện dạy học cụ thể. Thông qua các phương pháp dạy học như: Hồi đáp phi ngôn ngữ (Total Physical Response), học tập trải nghiệm (Experiential Learning), học tập dựa trên nhiệm vụ (Task-based learning), học tập dựa trên dự án (Project-based learning), giáo viên giúp học sinh được trải nghiệm ngôn ngữ ở dạng tự nhiên nhất theo trình tự nghe – nói – đọc – viết với mục đích giúp học sinh làm quen và yêu thích tiếng Anh. Đặc biệt, giáo viên không dạy học sinh kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ, cấu trúc ngữ pháp) tách rời khỏi ngữ cảnh.

Giáo viên cần tôn trọng giai đoạn lĩnh hội ngôn ngữ qua nghe hiểu không đi kèm hồi đáp bằng lời (Silent Period) giúp trẻ tích luỹ đủ ngữ liệu trước khi sẵn sàng sản sinh lời nói. Do đó, học sinh cần được nghe và tham gia các hoạt động giao tiếp có ngữ cảnh nhưng không đòi hỏi phải nói khi các em chưa sẵn sàng. Các hoạt động đọc viết được giới thiệu từng bước sao cho phù hợp với khả năng nhận thức cũng như tương thích với giai đoạn đọc viết tiếng mẹ đẻ.

Giáo viên sử dụng phối hợp các tình huống, trò chơi hoặc bài hát kèm hành động, bài vè, sách truyện rất đơn giản bằng tiếng Anh, dễ nhớ, gần gũi với lứa tuổi lớp 1 và lớp 2. Đồng thời, các hoạt động dạy học giúp học sinh làm quen với hệ thống âm, bước đầu nhận diện các từ ngữ đơn giản trong các tình huống giao tiếp và có thể tham gia vào các hội thoại ngắn và quen thuộc. Giáo viên sử dụng các ứng dụng công nghệ tiên tiến và học liệu phong phú trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học.

2. Đối với học sinh

Học sinh là chủ thể tham gia tích cực trong quá trình học tập. Học sinh cần được tạo cơ hội để trải nghiệm ngôn ngữ và tự tìm ra quy luật. Học sinh học thông qua trò chơi, bài hát, bài vè, kể chuyện, học để trải nghiệm ngôn ngữ chứ không phải phân tích và ghi nhớ, phát triển khả năng nhận diện hệ thống âm, chữ viết, từ vựng và cấu trúc.

Học sinh cần được ưu tiên phát triển kĩ năng nghe hiểu và khuyến khích hồi đáp phi ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp trước khi được yêu cầu hồi đáp ngắn gọn, đơn giản bằng lời. Học sinh được phát triển kĩ năng nói trong tình huống đơn giản khi các em đã sẵn sàng.

Học sinh hình thành năng lực giao tiếp thông qua việc tham gia các hoạt động học phong phú, học mà chơi dưới các hình thức tương tác cá nhân, theo cặp, theo nhóm và cả lớp, tương tác giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học sinh và giữa học sinh với học liệu (bao gồm cả học liệu điện tử). Học sinh được tiếp cận với các ứng dụng công nghệ tiên tiến và học liệu phong phú.

Học sinh luôn cần được giúp đỡ, khích lệ để duy trì hứng thú khi tham gia các hoạt động học tập. Học sinh tích cực học tập hơn khi nhận được hướng dẫn, gợi ý kịp thời và thân thiện từ phía giáo viên. Việc khuyến khích và biểu dương thường xuyên giúp học sinh tự tin và có động lực học tập.

Hoạt động kiểm tra đánh giá được tiến hành nhằm cung cấp thông tin phản hồi về năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh mà học sinh đạt được trong quá trình học tập để giáo viên đánh giá sự tiến bộ của học sinh, động viên, hướng dẫn học sinh và làm cơ sở cho những điều chỉnh định hướng về phương pháp, học liệu và kế hoạch học tập.

Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành thường xuyên để giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Đối với học sinh đầu cấp Tiểu học, hoạt động kiểm tra đánh giá tập trung vào việc xây dựng sự tự tin vào khả năng học tiếng Anh cho học sinh. Nội dung kiểm tra đánh giá phải bám sát mục tiêu và yêu cầu cần đạt trong Chương trình. Các hoạt động kiểm tra đánh giá tập trung vào năng lực giao tiếp của học sinh, đặc biệt ưu tiên kĩ năng nghe hiểu.

Giáo viên là người chịu trách nhiệm chính thực hiện các hoạt động kiểm tra đánh giá, giúp chỉ ra được những điểm người học đã làm được và chưa làm được, viết nhận xét chi tiết, cụ thể khi cần thiết và có biện pháp giúp đỡ kịp thời. Các hoạt động đánh giá được thực hiện một cách thân thiện, nhẹ nhàng ngay trong quá trình học tập.

Việc tổng hợp kết quả kiểm tra đánh giá thường xuyên và sử dụng kết quả đánh giá được thực hiện theo quy định hiện hành về kiểm tra đánh giá ở Tiểu học.

VIII. GIẢI THÍCH VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

1. Phân bổ thời lượng dạy học

Chương trình Làm quen Tiếng Anh lớp 1 và lớp 2 được thiết kế với thời lượng 2 tiết/ tuần.

2. Điều kiện thực hiện Chương trình

2.1. Giáo viên

Đảm bảo đủ số lượng giáo viên tham gia giảng dạy Chương trình Làm quen Tiếng Anh lớp 1 và lớp 2. Đồng thời, giáo viên phải có năng lực ngoại ngữ và năng lực sư phạm phù hợp, có hiểu biết về Chương trình và người học ở lứa tuổi này. Giáo viên và cán bộ quản lí cần được bồi dưỡng và tập huấn định kì về Chương trình, tài liệu và cách thức tổ chức triển khai, giám sát.

2.2. Cơ sở vật chất

Các trường triển khai Chương trình phải có phòng học rộng rãi, thoáng mát, đầy đủ ánh sáng cho học sinh đầu cấp Tiểu học. Các phòng học có đủ trang thiết bị tối thiểu cho việc dạy và học Chương trình theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ở các nơi có điều kiện, khuyến khích sử dụng các trang thiết bị đa phương tiện như máy chiếu, ti vi, bảng thông minh, máy tính có kết nối Internet.

2.3. Điều kiện về kế hoạch dạy học

Khi triển khai Chương trình Làm quen Tiếng Anh lớp 1 và lớp 2, đơn vị quản lí giáo dục xây dựng hướng dẫn triển khai dạy học tiếng Anh cấp Tiểu học cho từng năm học trong đó có các hướng dẫn cơ bản về dạy học Tiếng Anh lớp 1, lớp 2; bao gồm các yêu cầu về chương trình, tài liệu, thời lượng, đội ngũ giáo viên, trang thiết bị dạy học, chế độ cho giáo viên, tình nguyện viên, giám sát, các quy định về kiểm tra đánh giá, đảm bảo tính liên thông, liên tục, hiệu quả, đảm bảo thực hiện các mục tiêu giáo dục và nhiệm vụ giáo dục của địa phương.

Việc lựa chọn tài liệu dạy học được thực hiện dựa trên các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo để phù hợp với điều kiện và kế hoạch triển khai của địa phương.

2.4. Điều kiện về nội dung và hình thức dạy học

Nội dung và hình thức dạy học phải phù hợp với lứa tuổi, được thực hiện thông qua các hoạt động ngôn ngữ vui vẻ, nhẹ nhàng như trò chơi, bài vè, bài hát, ghép tranh ảnh, tô màu, đố vui, diễn kịch, xem phim hoạt hình để tạo niềm vui, hứng thú cho học sinh. Trong quá trình phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh, cần ưu tiên phát triển kĩ năng nghe hiểu trên nền tảng ngữ âm tốt.

Chương trình giáo dục phổ thông mới môn tiếng anh lớp 3-12

I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC

Tiếng Anh là môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông từ lớp 3 đến lớp 12. Là một trong những môn học công cụ ở trường phổ thông, môn Tiếng Anh không chỉ giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh mà còn góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung, để sống và làm việc hiệu quả hơn, để học tập tốt các môn học khác cũng như để học suốt đời.

Môn Tiếng Anh cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp quốc tế quan trọng, giúp các em trao đổi thông tin, tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá, qua đó góp phần tạo dựng sự hiểu biết giữa các dân tộc, hình thành ý thức công dân toàn cầu, góp phần vào việc phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân. Thông qua việc học Tiếng Anh và tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau, học sinh có thể hiểu rõ hơn, thêm yêu ngôn ngữ và nền văn hóa của dân tộc mình.

Nội dung của Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh thể hiện những định hướng cơ bản được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cụ thể là:

Ở cấp tiểu học (lớp 3-5), việc dạy học Tiếng Anh giúp học sinh bước đầu hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, chú trọng nhiều hơn đến hai kỹ năng nghe và nói.

Ở cấp trung học cơ sở, việc dạy học Tiếng Anh tiếp tục giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, đồng thời phát triển năng lực tư duy và nâng cao sự hiểu biết của học sinh về văn hoá, xã hội của các quốc gia trên thế giới cũng như hiểu biết sâu hơn về văn hoá, xã hội của dân tộc mình.

Ở cấp trung học phổ thông, việc dạy học Tiếng Anh giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh dựa trên nền tảng chương trình Tiếng Anh các cấp tiểu học và trung học cơ sở, trang bị cho học sinh kỹ năng học tập suốt đời để không ngừng học tập và phát triển năng lực làm việc trong tương lai.

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

1. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh tuân thủ các quy định được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm các định hướng chung về quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, đánh giá kết quả học tập và điều kiện thực hiện chương trình.

2. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh được xây dựng theo quan điểm lấy năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học; kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp thông qua nghe, nói, đọc, viết. Ở cấp tiểu học (lớp 3-5), cần ưu tiên phát triển hai kỹ năng nghe và nói. Ở cấp trung học cơ sở, các kỹ năng giao tiếp nghe và nói vẫn được tiếp tục phát triển và thông qua luyện tập kết hợp các kỹ năng để tiến tới phát triển đồng đều cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết ở cấp trung học phổ thông.

4. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh đảm bảo lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học. Năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh của học sinh được phát triển thông qua hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học, khuyến khích học sinh tham gia hoạt động luyện tập ngôn ngữ ở mức tối đa và từng bước nâng cao khả năng tự học.

5. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh đảm bảo tính liên thông và tiếp nối của việc dạy học Tiếng Anh giữa các cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tính liên thông và tiếp nối được thể hiện ở chỗ sau mỗi cấp học, học sinh đạt một bậc trình độ theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

6. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo và tính mở nhằm đáp ứng nhu cầu và phù hợp với điều kiện dạy học Tiếng Anh đa dạng ở các địa phương.

III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH

1. Mục tiêu chung

1.1. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh giúp học sinh có một công cụ giao tiếp mới, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh thông qua các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Kết thúc chương trình giáo dục phổ thông, học sinh có khả năng giao tiếp đạt trình độ Bậc 3 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, tạo nền tảng cho học sinh sử dụng tiếng Anh trong học tập, hình thành thói quen học tập suốt đời để trở thành những công dân toàn cầu trong thời kỳ hội nhập.

1.2. Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh giúp học sinh có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số quốc gia nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới; có thái độ và tình cảm tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các quốc gia đó. Ngoài ra, Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh còn góp phần hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất và năng lực cần thiết đối với người lao động: ý thức và trách nhiệm lao động, định hướng và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích, khả năng thích ứng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp mới.

2. Mục tiêu các cấp học

2.1. Mục tiêu cấp tiểu học

Sau khi hoàn thành chương trình môn Tiếng Anh cấp tiểu học, học sinh có thể:

– Giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó nhấn mạnh hai kỹ năng nghe và nói.

– Có kiến thức cơ bản và tối thiểu về tiếng Anh bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; thông qua tiếng Anh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hoá của các quốc gia nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới.

– Có thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý và trân trọng nền văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc mình.

– Hình thành cách học tiếng Anh hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học các ngoại ngữ khác trong tương lai.

2.2. Mục tiêu cấp trung học cơ sở

Sau khi hoàn thành chương trình môn Tiếng Anh cấp trung học cơ sở, học sinh có thể:

– Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp thông qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm đáp ứng các nhu cầu giao tiếp cơ bản và trực tiếp trong những tình huống gần gũi và thường nhật.

– Có kiến thức cơ bản về tiếng Anh, bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; thông qua tiếng Anh, có những hiểu biết khái quát về đất nước, con người, nền văn hoá của các quốc gia nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới, đồng thời có hiểu biết và tự hào về những giá trị của nền văn hoá dân tộc mình.

– Có thái độ tích cực đối với môn học và việc học tiếng Anh, bước đầu biết sử dụng tiếng Anh để tìm hiểu các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông.

– Hình thành và áp dụng các phương pháp và chiến lược học tập khác nhau để phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh trong và ngoài lớp học, quản lý thời gian học tập và hình thành thói quen tự học.

2.3. Mục tiêu cấp trung học phổ thông

Sau khi hoàn thành chương trình môn Tiếng Anh cấp trung học phổ thông, học sinh có thể:

– Tiếp tục hình thành và phát triển kiến thức cơ bản về tiếng Anh, bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; thông qua tiếng Anh có những hiểu biết sâu rộng hơn về đất nước, con người, nền văn hoá của các nước nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới, hiểu và tôn trọng sự đa dạng của các nền văn hoá, đồng thời bước đầu phản ánh được giá trị nền văn hoá Việt Nam bằng tiếng Anh.

– Sử dụng tiếng Anh để nâng cao chất lượng học tập các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông.

– Sử dụng tiếng Anh để theo đuổi mục tiêu học tập cao hơn hoặc có thể làm việc ngay sau khi học xong cấp trung học phổ thông.

– Áp dụng các phương pháp học tập khác nhau để quản lý thời gian học tập, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc học và tự học, củng cố phương pháp tự học, tự đánh giá và chịu trách nhiệm về kết quả học tập, hình thành thói quen học tập suốt đời.

IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT

1. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung

Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo).

2. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù

2.1. Cấp tiểu học

– Sau khi học xong môn Tiếng Anh cấp tiểu học, học sinh có thể đạt được trình độ tiếng Anh Bậc 1 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam. Cụ thể là: “Có thể hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật; các từ ngữ cơ bản đáp ứng nhu cầu giao tiếp cụ thể. Có thể tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân/bạn bè, … Có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ”.

– Thông qua môn Tiếng Anh, học sinh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới; có thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý và trân trọng ngôn ngữ và nền văn hoá của dân tộc mình; phát triển các phẩm chất như yêu thương, tôn trọng bản thân, bạn bè, gia đình, môi trường, chăm chỉ và trung thực.

2.2. Cấp trung học cơ sở

– Thông qua môn Tiếng Anh, học sinh có những hiểu biết khái quát về đất nước, con người, nền văn hoá của các nước nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới; có thái độ tích cực đối với môn học và việc học Tiếng Anh; đồng thời có hiểu biết và tự hào về những giá trị của nền văn hoá dân tộc mình; phát triển các phẩm chất như nhân ái, yêu thương gia đình, tự hào về quê hương, bảo vệ môi trường, có ý thức tự rèn luyện học tập, có trách nhiệm với bản thân và gia đình.

2.3. Cấp trung học phổ thông

– Thông qua môn Tiếng Anh, học sinh có những hiểu biết sâu rộng hơn về đất nước, con người, nền văn hoá của các nước nói tiếng Anh và của các quốc gia khác trên thế giới; hiểu và tôn trọng sự đa dạng của các nền văn hoá, đồng thời bước đầu phản ánh được giá trị nền văn hoá của Việt Nam bằng tiếng Anh; phát triển các phẩm chất yêu đất nước, con người, trung thực, nhân ái và có trách nhiệm với môi trường, cộng đồng.

V. NỘI DUNG GIÁO DỤC

1. Nội dung khái quát

Nội dung dạy học trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh được thiết kế theo kết cấu đa thành phần, bao gồm:

1.1.1. Hệ thống chủ điểm

Các chủ điểm gợi ý trong dạy học môn Tiếng Anh ở các cấp học là:

– Cấp tiểu học: Em và những người bạn của em, Em và trường học của em, Em và gia đình em, Em và thế giới quanh em.

– Cấp trung học cơ sở: Cộng đồng của chúng ta, Di sản của chúng ta, Thế giới của chúng ta, Tầm nhìn tương lai.

– Cấp trung học phổ thông: Cuộc sống của chúng ta, Xã hội của chúng ta, Môi trường của chúng ta, Tương lai của chúng ta.

1.2.1. Cấp tiểu học 1.2.2. Cấp trung học cơ sở 1.2.3. Cấp trung học phổ thông

………………………………………..

Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Tiếng Trung Quốc

Dự thảo môn Ngoại ngữ 2 chương trình giáo dục phổ thông mới

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Trung

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN TIẾNG TRUNG QUỐC – NGOẠI NGỮ 2(Dự thảo ngày 19 tháng 01 năm 2018)

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

1. Chương trình Tiếng Trung Quốc tuân thủ các quy định cơ bản được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, gồm: a) Định hướng chung cho tất cả các môn học như: quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục, điều kiện thực hiện và phát triển chương trình; b) Định hướng xây dựng chương trình môn Ngoại ngữ.

2. Chương trình Tiếng Trung Quốc được thiết kế dựa trên nền tảng các kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học và phương pháp dạy học ngoại ngữ hiện đại; kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Ngoại ngữ của Việt Nam, đặc biệt từ đầu thế kỷ XXI đến nay và xu thế quốc tế trong phát triển chương trình giáo dục nói chung và chương trình môn Ngoại ngữ nói riêng những năm gần đây, nhất là của những quốc gia phát triển; thực tiễn xã hội, giáo dục, điều kiện kinh tế và truyền thống văn hoá Việt Nam, chú ý đến sự đa dạng của đối tượng học sinh xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập.

3. Đảm bảo hình thành và phát triển năng lực giao tiếp tổng hợp bằng tiếng Trung Quốc cho học sinh. Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp nghe, nói, đọc, viết thông qua việc vận dụng các kiến thức ngữ âm, chữ viết, từ vựng và ngữ pháp.

7. Đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo của chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu và phù hợp với từng điều kiện dạy học tiếng Trung Quốc của các vùng miền, địa phương.

8. Đảm bảo sau khi học xong chương trình môn Tiếng Trung Quốc, học sinh đạt trình độ tiếng Trung Quốc Bậc 2 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

Mời các bạn tải file đầy đủ về tham khảo.

Tiếng Việt Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Sau 2022

I. Vị trí và tầm quan trọng của Tiếng Việt trong chương trình GD phổ thông

Cho đến nay, không chương trình GDPT của quốc gia nào lại không chú ý, đề cao và coi trọng dạy học ngôn ngữ quốc gia (chủ yếu là tiếng mẹ đẻ). Biết đọc, biết viết (literacy) là cơ sở và công cụ cho việc học những kiến thức khác, những môn học khác. Ban đầu là học để biết đọc, biết viết và sau đó thông qua đọc và viết để học; học trong nhà trường, ngoài xã hội và học suốt đời. Cũng phải thông qua đọc và viết mà làm, thì làm mới có hiệu quả cao. Làm những công việc thô sơ, đơn giản đã thế; trong thế giới hiện đại, nhiều công việc không thể làm được nếu không có học, không được học; trong đó có khả năng “đọc ra”, “đọc thủng” văn bản để nắm được thông tin, những chỉ dẫn và ý nghĩa của thông điệp một cách chính xác; không phải chỉ ở những văn bản phức tạp chuyên sâu mà ngay từ một tờ rơi, đơn thuốc…Chính xuất phát từ tầm quan trọng này mà cho đến đầu thế kỷ XXI, yêu cầu biết đọc, biết viết cho tất cả mọi người vẫn là một trong những mục tiêu quan trọng mà UNESCO[2] kêu gọi tất cả các quốc gia hoàn thành vào năm 2015. Chính vì thế, hầu như tất cả các nước đều xác định đây là môn học độc lập, môn học công cụ. Chương trình Tiếng Nga của Cộng hòa Nga (2011) ghi rõ: “Trong nhà trường phổ thông, môn Tiếng Nga giữ vai trò chủ đạo. Bởi những thành tích của việc học tiếng Nga – trong nhiều trường hợp – quyết định kết quả học tập của học sinh ở các môn học khác, nó cũng như đảm bảo được việc thích nghi và thành công trong cộng đồng trẻ”[3].

Mục tiêu bao trùm của Chương trình Tiếng Anh (2010) của Singapore là “Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ lưu loát và các khả năng có thể có của học sinh, hướng tới việc sử dụng ngôn ngữ hiệu quả….Sự thành thạo của học sinh trong việc sử dụng ngôn ngữ được đánh giá bởi những kết quả học tập mà họ đạt được “ [4].

Như thế cũng như tiếng Nga ở nước Nga, việc dạy học tiếng Anh ở Singapore chú trọng vào năng lực sử dụng ngôn ngữ và đánh giá năng lực ấy không chỉ ở môn học này mà ở tất cả các “kết quả học tập mà họ đạt được”.

Ý thức được sứ mệnh mang tính “công cụ, phương tiện” quyết định chất lượng giáo dục của ngôn ngữ quốc gia trong chương trình giáo dục phổ thông, vào năm 2010, Hội đồng các Thống đốc và Giám đốc giáo dục các bang của Hoa Kỳ đã thống nhất Chuẩn chung cốt lõi về môn tiếng Anh cùng với những yêu cầu đọc/viết tối thiểu cho các môn học khác, với mục đích “phát triển và hỗ trợ các kỹ năng học trên đại học và đi tìm việc làm về đọc, viết, nói, nghe và diễn đạt ngôn ngữ… Chuẩn đưa ra các yêu cầu chung chẳng những cho môn Tiếng Anh nghệ thuật (ELA) mà còn cho các môn Lịch sử/nghiên cứu xã hội, Khoa học tự nhiên và kỹ thuật…”[5]

Từ lâu, Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò công cụ của tiếng Việt trong nhiều văn bản từ tiểu học đến THPT. Nhưng trên thực tế dường như tiếng Việt chỉ được chú ý tập trung cao độ ở cấp tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp. Các lớp này nếu không biết đọc, biết viết thì không thể học lên cao hơn. Và do vậy việc coi tiếng Việt như là công cụ, phương tiện là tất yếu, không có gì phải bàn cãi, tranh luận cả. Vấn đề chỉ xuất hiện khi HS càng học lên cao (THCS và THPT, ĐH-CĐ…) thì dường như tiếng Việt không được coi trọng nữa. Hầu hết mọi người bằng lòng với vốn tiếng Việt ở trình độ tối thiểu đã được trang bị ở Tiểu học cộng với bản năng tiếng mẹ đẻ của mình. Càng lớn lên, họ càng cảm thấy không cần học tiếng Việt nữa cũng được, miễn là đọc được, viết được tiếng Việt. Tình trạng cứ nhìn vào mặt chữ trên trang giấy đọc được ra tiếng Việt là coi như đã biết đọc, đã hiểu văn bản…khá phổ biến. Rất nhiều người không phân biệt được “mù chữ” và “mù văn”. Trong khi cuộc sống, khoa học- công nghệ vẫn phát triển liên tục, mạnh mẽ. Để giao tiếp có hiệu quả trong thế giới hiện đại, các kỹ năng ngôn ngữ cần được trang bị và rèn luyện liên tục, không ngưng nghỉ. Chính cuộc sống hiện đại đòi hỏi chương trình GD nhiều nước phải bổ sung thêm các kỹ năng mới, ngoài 4 kỹ năng cơ bản (đọc, nghe, nói viết) cần có thêm nhìn/quan sát (viewing) và trình bày (presenting). Trong xu thế đó, ngay cả yêu cầu của trình độ literacy cũng phải thay đổi và ngày càng được mở rộng. Theo PISA[6], định nghĩa về đọc và đọc-hiểu có sự thay đổi theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của từng quốc gia. Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về đọc hiểu.Xác định tầm quan trọng của năng lực này, OECD cho rằng “Đọc hiểu không chỉ là một yêu cầu của suốt thời kỳ tuổi thơ trong nhà trường phổ thông mà nó còn là một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kỹ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cộng đồng.”[7].

Không phải chỉ có đọc-hiểu, mỗi kỹ năng đều có nhiều thang bậc, yêu cầu, trình độ rất khác nhau mà literacy chỉ là tối thiểu, là bước khởi đầu.

Chương trình giáo dục nói chung và môn Ngữ văn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử không phải là không thấy, không coi trọng vấn đề ấy, nhưng các giải pháp và chiến lược dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông từ trước tới nay lại chưa phù hợp, chưa có hiệu quả cao, ít nhất trên các phương diện lớn sau đây:

Một là mục tiêu và đối tượng dạy học tiếng Việt cho nhà trường phổ thông được xác định nhiều khi chưa phù hợp.

Hai là tiếng Việt bị dạy tách biệt với văn học như một môn học/ phần riêng, CT Ngữ văn ( THCS và THPT) sau 2000 thực hiện tích hợp nhưng vẫn thiếu triệt để và còn nhiều chỗ gượng ép .

Ba là nội dung chương trình tiếng Việt trong nhà trường phổ thông như là môn ngôn ngữ học, Việt ngữ học thu nhỏ của các đại học chuyên ngành.

Năm là phương pháp dạy học tiếng Việt một thời chủ yếu theo quan điểm cấu trúc tĩnh, gần đây tuy đã thay đổi theo hướng giao tiếp nhưng quán tính của cách dạy cũ vẫn rất nặng nề, các yếu tố đổi mới chưa đồng bộ nên hiệu quả vẫn thấp.

Sáu là việc thi cử, kiểm tra-đánh giá còn nhiều hạn chế, bất cập trong việc ứng xử với tiếng Việt và cách đánh giá năng lực tiếng Việt.

Từ vị trí và vai trò quan trọng của việc dạy ngôn ngữ quốc gia trong CTGDPT, nhìn lại tổng quát hiện trạng dạy học tiếng Việt không thể không thúc đẩy việc đổi mới dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông trong giai đoạn tới.

II. Định hướng dạy học tiếng Việt trong chương trình sau 2015

Từ sau nghị quyết XI của Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Bộ GD&ĐT đang khẩn trương cùng một lúc chuẩn bị 2 đề án để trình Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội. Một là Đề án Đổi mới căn bản – toàn diện giáo dục và đạo tạo Việt Nam và hai là Đổi mới chương trình và sách giáo khoa GD phổ thông. Sau khi 02 đề án được phê duyệt sẽ tiến hành xây dựng Chương trình các môn học, trong đó có môn Ngữ văn. Từ những quan điểm và định hướng lớn đã tương đối ổn định và đồng thuận, chúng tôi xin nêu lên một số suy nghĩ nhằm cụ thể hóa những tư tưởng đổi mới ấy vào vấn đề xây dựng nội dung và chiến lược dạy học tiếng Việt trong chương trình GDPT sắp tới .

1) Chương trình GDPT sau 2015 sẽ được xây dựng như một chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 thành một hệ thống nhất quán, liên thông, gắn bó nhằm tránh trùng lặp và thiếu tính phát triển. Vì thế các môn học nói chung và Ngữ văn nói riêng cũng phải tuân thủ nguyên tắc này. Tương ứng với CT là chuẩn cần đạt theo nhiều mức độ tương ứng với từng cấp/ lớp, phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Cấu trúc chương trình sẽ vừa đồng tâm, vừa tuyến tính; nhưng ưu tiên cho tuyến tính (nhất là về nội dung) nhằm tránh lặp lại các đơn vị kiến thức không cần thiết giữa các lớp, các cấp. Nếu lặp lại phải thấy rõ sự tiếp nối và phát triển. Như thế với tiếng Việt, cần hình dung ra tổng số các đơn vị tri thức và kỹ năng thiết yếu nhất cần trang bị cho một HS phổ thông từ lớp 1- lớp 12. Từ đó mới thiết kế ma trận nội dung dạy học cho toàn cấp/ lớp như một quy hoạch tổng thể bảo đảm tính khoa học và phù hợp với mục tiêu cần đạt của CT.

2) Chương trình GDPT sau 2015 đổi mới theo hướng tiếp cận năng lực, lấy việc hình thành và phát triển năng lực cho người học làm mục tiêu trực tiếp; không lấy nội dung, chạy theo nội dung là chính như CT hiện hành. CT theo năng lực chú trọng việc HS làm được, thực hành được; biết vận dụng những gì đã học vào phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Trong các năng lực (năng lực chung và chuyên biệt) cần hình thành và phát triển cho mọi HS là năng lực giao tiếp ngôn ngữ- một năng lực mang tính công cụ hết sức quan trọng không thể thiếu. Bên cạnh đó là năng lực xúc cảm người (human emotion) để HS biết thông cảm sẻ chia, tương thân, tương ái; biết trân trọng những tình cảm và hành vi nhân văn, cao đẹp; biết xúc động, biết yêu thương, căm giận… Cả hai năng lực này tiếng Việt đều đóng một vai trò hết sức quan trọng.

Giao tiếp ngôn ngữ muốn có hiệu quả theo yêu cầu phát triển năng lực, người học cần biết vận dụng thành thạo các kỹ năng cơ bản ( đọc, nghe, viết, nói, quan sát, trình bày) vào/trong cuộc sống hàng ngày ở mọi nơi, mọi lúc, mọi đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, chứ không phải là việc nhớ máy móc một mớ lý thuyết về các đơn vị tiếng Việt. Năng lực xúc cảm cũng không phải tự nhiên mà có, nó hình thành bằng nhiều con đường trong đó có việc đọc-hiểu văn bản. Đọc nhiều tác phẩm văn học, thấu hiểu nội dung các thông điệp nhân văn trong đó sẽ làm cho HS dẫn dần có khả năng xúc cảm, đồng cảm, thấu hiểu và dĩ nhiên điều đó cần phải vận dụng, thực hành với các tình huống hàng ngày.

4) Hệ quả của các định hướng nêu trên sẽ là:

a) Cần đổi mới mục tiêu môn học; chuyển từ việc cung cấp kiến thức được coi là mục tiêu số một (như CT hiện hành) sang ưu tiên cho việc hình thành và phát triển năng lực; cụ thể là năng lực giao tiếp ngôn ngữ; năng lực xúc cảm người và các năng lực đặc thù. Chú trọng năng lực sử dụng tiếng Việt chứ không nghiêng về trang bị kiến thức tiếng Việt, nhất là kiến thức hàn lâm. Thông qua việc phát triển năng lực Ngữ văn mà hình thành, bồi dưỡng các phẩm chất cao đẹp, nhân văn cho người học.

b) Việc lựa chọn kiến thức (văn học, tiếng Việt…) cần cơ bản, hiện đại nhưng phải hướng tới phục vụ cho yêu cầu phát triển năng lực, tránh kinh viện, không thiết thực và không quá chú trọng tính hệ thống (hệ thống lịch sử văn học, hệ thống ngôn ngữ…). Tất cả các tác phẩm/ văn bản văn học không theo lịch sử văn học mà theo yêu cầu mức độ khác nhau của các kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng đọc- hiểu. Việc xác định nội dung môn học vừa phải chú ý mục tiêu GD, đáp ứng yêu cầu của giáo dục; vừa quan tâm đến nhu cầu, sở thích của cá nhân người học và người dạy.

c) Chuẩn kết quả cần đạt của CT Ngữ văn được xây dựng theo yêu cầu năng lực giao tiếp thông qua 4 kỹ năng với các mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp; từ dễ đến khó. Chương trình và chuẩn được xây dựng theo hướng mở, chỉ nêu định hướng và yêu cầu khái quát cần đạt, không quy định quá chi tiết mà để khoảng trống cho tác giả SGK và quyền tự chọn của người GV.

d) Kiến thức văn học (tác giả, tác phẩm) được cung cấp chủ yếu thông qua hệ thống văn bản dùng để phát triển kỹ năng đọc và năng lực đọc hiểu. Đọc hiểu với nhiều kiểu loại văn bản chứ không chỉ mình văn bản văn học. Văn học vừa là một trong những nguồn ngữ liệu quan trọng để học tiếng, vừa là đối tượng tìm hiểu, khám phá, thưởng thức…

e) Kiến thức ngôn ngữ được hình thành cũng chủ yếu qua việc rèn luyện các kỹ năng, rút ra từ thực hành kỹ năng giao tiếp; giúp người học sử dụng các kỹ năng giao tiếp một cách có ý thức, hiểu biết, lý giải được các hiện tượng ngôn ngữ trong tiếp nhận và tạo lập (sản sinh) văn bản (nói và viết).

h) Định hướng lấy người học làm trung tâm được thực hiện đồng bộ từ việc lựa chọn các văn bản đọc phù hợp với lứa tuổi, sở thích, thị hiếu của các em đến các yêu cầu tạo lập các loại văn bản thiết thực và gần gũi trong cuộc sống; từ phương pháp dạy cho HS cách học, cách đọc hiểu mà hình thành năng lực tự học, tự đọc; thực hiện cách kiểm tra, đánh giá theo hướng mở, khuyến khích sáng tạo, dám thể hiện cá tính…

i) Coi trọng đánh giá năng lực Ngữ văn trên cả 02 bình diện: ý tưởng sáng tạo và khả năng diễn đạt, thể hiện/ trình bày ý tưởng đó một cách sáng sủa mạch lạc (cả nói và viết)

III. Chiến lược dạy học tiếng Việt

Với mục tiêu và định hướng nội dung dạy học tiếng Việt như trên, cần xác định được một chiến lược dạy học phù hợp. Chiến lược ấy thể hiện trên nhiều bình diện, nhưng chủ yếu xoay quanh phương pháp và tư liệu dạy học tiếng Việt.

Theo tinh thần mới việc dạy học tiếng Việt sẽ chịu sự chi phối của các tư tưởng và quan điểm sau:

– Phát huy tính chủ động tích cực của người học. Với tiếng Việt quan điểm này cần được quán triệt mạnh mẽ hơn theo tinh thần dạy học tiếng Việt cho người bản ngữ, bản thân HS có bản năng/ trực cảm ngôn ngữ và một vốn liếng khá phong phú về tiếng Việt, khác hẳn dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Vì thế cần khai thác và chủ yếu đưa HS vào các tình huống ngôn ngữ và yêu cầu vận dụng tiếng Việt,

– Dạy học theo nguyên tắc và yêu cầu tích hợp. Với quan điểm này, các đơn vị và hiện tượng tiếng Việt gắn bó chặt chẽ với các văn bản ngữ liệu (văn học, cận văn học, không phải văn bản văn học) khai thác các đơn vị tiếng Việt đồng thời chính là khai thác giá trị của văn bản (thông điệp nội dung, giá trị hình thức), làm sáng tỏ văn bản; ngược lại giá trị và ý nghĩa của nội dung văn bản sẽ soi sáng cho vai trò và tác dụng của các yếu tố ngôn ngữ.

– Góp phần hình thành và phát triển năng lực. Quan điểm này yêu cầu dạy học tiếng Việt cần chú ý khẳng năng vận dụng kiến thức tiếng Việt vào thực tiễn cuộc sống, nhằm hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thông qua hai nhóm kỹ năng lớn: a) tiếp nhận gồm đọc, nghe, quan sát và b) tạo lập gồm nói, viết, trình bày. Không nghiêng về trang bị kiến thức Ngôn ngữ và Việt ngữ học theo hướng quá chú trọng tính hệ thống, hàn lâm.

– Tiếp tục thực hiện tốt dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Hình thành năng lực giao tiếp tất yếu phải sử dụng PPDH theo quan điểm giao tiếp. Linh hồn của quan điểm này là đưa HS vào các tình huống giao tiếp hàng ngày trong cuộc sống để sử dụng các đơn vị tiếng Việt một cách phù hợp và có hiệu quả. Theo cách đó tiếng Việt sẽ thể hiện được sự giàu có và vẻ đẹp của nó một cách sinh động, phong phú và biến hóa linh hoạt; chứ không phải là các đơn vị ngôn ngữ chết nằm trong một cấu trúc cứng nhắc.

– Tổ chức dạy học theo các kỹ năng cơ bản, ngữ liệu học tập bao gồm 02 nguồn chính: Văn bản văn học và các loại văn bản khác (không phải văn học, nhiều nước gọi là văn bản thông tin)

– Văn bản đọc hiểu cho kỹ năng đọc tuyển lựa theo thể loại văn học và kiểu văn bản, số lượng không nhiều, ưu tiên chất lượng văn bản. Các văn bản này chỉ là ngữ liệu để dạy và học trên lớp nhằm hình thành các kỹ năng giao tiếp và phương pháp đọc hiểu, năng lực tiếp nhận văn bản; không thi vào các văn bản này.

– Bên cạnh sách học trên lớp, cần có bộ sách văn tuyển[8] cung cấp một số lượng lớn các văn bản- tác phẩm tương ứng với mỗi thể loại đã học để HS đọc ở nhà và là ngữ liệu để ra đề thi, kiểm tra nhằm đánh gía khách quan năng lực vận dụng sáng tạo của HS trong học tập Ngữ văn.

3) Rèn luyện và phát triển năng lực tiếng Việt không chỉ mình môn Ngữ văn

Trong cuốn của bang California (Hoa Kỳ) bên cạnh việc hướng dẫn Đọc các thể loại khác nhau (truyện ngắn, thơ, kịch, và không hư cấu), HS còn được học cách Đọc các dạng thức khác nhau (một văn bản trên mạng; một bài báo, tạp chí; một cuốn sách giáo khoa; một trang web; một bản hướng dẫn kỹ thuật; bản hướng dẫn nấu ăn, chế biến thực phẩm; bản hướng dẫn điều khiển TV…). Chỉ riêng dạy kỹ năng đọc hiểu đã có đến mấy chục cuốn dạy cách đọc: đọc hiểu văn bản hư cấu; đọc hiểu văn bản không hư cấu; đọc hiểu ngôn ngữ tượng trưng; đọc hiểu các văn bản khoa học; đọc giữa các dòng; đọc đoán trước kết quả; đọc nắm tư tưởng chính; đọc chi tiết; đọc theo văn cảnh- văn mạch; kỹ năng đọc hiểu[10]….

Có thể thấy, để xác định một chiến lược đúng đắn nhằm cải thiện chất lượng dạy học tiếng Việt, trong nhà trường phổ thông, cần chuẩn bị và tiến hành đồng bộ ở tất cả các yếu tố của quá trình dạy học; không những thế còn phải chú ý đến mối quan hệ của tiếng Việt với toàn bộ các môn học và các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường cũng như gia đình và ngoài xã hội.

1) Bộ GD&ĐT(2013): Đề án Đổi mới cản bản toàn diện giáo dục và đào tạo VN ( dự thảo)

2) Bộ GD&ĐT(2013): Đề án Đổi mới chương trình và SGKGDPT sau 2015 ( dự thảo)

3) Bộ GD&ĐT(2006): Chương trình GDPT – môn Ngữ văn

4) Bộ GD&ĐT(2013): Kỷ yếu Hội thảo khao học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thống Việt Nam– NXB Đại học sư phạm Hà Nội.

5) California Teacher’s Edition, Mc. Dougal Littell (2002)- The Language of Literature – Grade 10

6) California Departement of education (2009)- English language arts content standards for California puplic schools Kindergarten though grade Twelve –

7) Council of Chief State School Officers and the National Governors Association ( 2010) – The Common Core State Standards for English Language Arts & Literacy in History/Social Studies, Science, and Technical Subjects

8) Ministry of Education Singapore: The English Language Syllabus 2010 for Primary (Foundation) and Secondary (Normal [Technical])

9) Российский общеобразовательный портал – http://mon.gov.ru

10) OECD – The PISA 2003 & PISA 2009 – Assessment Framework (Reading)

Cập nhật thông tin chi tiết về Từ 2022, Học Sinh Lớp 1 Học Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!