Ứng Dụng Học Tiếng Việt Lớp 2 / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Theolympiashools.edu.vn

Ứng Dụng Học Tiếng Anh Lớp 7 Unit 2

Tiếng Anh lớp 7 – Unit 2: Health

Listen and read.

Nick: Hi, Phong.

Phong: Oh, hi. You woke me up, Nick.

Nick: But it’s ten o’clock already. Let’s go out.

Phong: No, count me out. I think I’ll stay at home and play Zooniverse on my computer.

Nick: What? It’s such a beautiful day. Come on! You already got enough sleep. Let’s do something outdoors – it’s healthier.

Phong: What like, Nick?

Nick: How about going swimming? Or cycling? They are both really healthy.

Phong: No, I don’t feel like it.

Nick: You sound down Phong, are you OK?

Phong: I do feel kind of sad. I eat junk food all the time, so I’m putting on weight too.

Nick: All the more reason to go out.

Phong: No, Nick. Plus, I think I have flu – I feel weak and tired. And, I might get sunburnt outside.

Nick: I won’t take no for an answer. I’m coming to your house now!

Bài dịch:

Nick: Chào Phong

Phong: Oh, xin chào. Bạn đã đánh thức mình đấy, Nick.

Nick: Nhưng 10 giờ rồi đấy. Chúng ta hãy ra ngoài chơi đi.

Phong: Không, đừng rủ mình. Mình nghĩ rằng mình sẽ ở nhà và chơi Zooniverse trên máy tính.

Nick: Cái gì? Hôm nay là một ngày đẹp trời mà. Thôi nào! Bạn đã ngủ đủ rồi. Chúng ta hãy ra ngoài làm gì đi – nó lành mạnh hơn.

Phong: Làm gì hả Nick?

Nick: Chúng ta đi bơi đi? Hay đạp xe? Chúng đều rất tốt cho sức khỏe.

Phong: Không, mình không muốn.

Nick: Cậu trông không khỏe đó Phong, cậu ổn không?

Phong: Mình cảm thấy buồn. Mình toàn ăn thức ăn nhanh, vì thế mình đang lên cân.

Nick: Vậy là càng thêm lý do để đi ra ngoài.

Phong: Không, Nick. Hơn nữa, mình nghĩ mình bị cảm – mình cảm thấy yếu ớt và mệt mỏi. Và, mình có thể bị cháy nắng bên ngoài.

Nick: Mình sẽ không chấp nhận câu trả lời không. Bây giờ mình sẽ đến nhà cậu!

Ứng dụng học tiếng Anh lớp 7 Unit 2 – App HocHay cho Android & iOS

Tổng hợp ngữ pháp tiếng Anh lớp 7 – Unit 2: Health – HocHay

Cách sử dụng MORE và LESS trong tiếng Anh

3.1.1. Từ chỉ số lượng là gì?

– Quantifiers là gì? Là từ chỉ số lượng của cái gì. Một số từ chỉ số lượng chỉ trong tiếng anh đi với danh từ đếm được, số khác lại đi với danh từ không đếm được, và một số lại có thể đi với cả danh từ đếm được và không đếm được.

– Đôi khi ta dùng từ chỉ số lượng để thay thế cho các từ hạn định.

Từ chỉ số lượng đi với danh từ đếm đượcTừ chỉ số lượng đi với danh từ không đếm đượcTừ chỉ số lượng đi với cả danh từ đếm được và không đếm được

many, a large number of, few, a few, a larger number of, hundreds of, thousands of, a couple of, several

much, a great deal of, little, a litle, a large amount of

– some, any, most, of, no– plenty,of, a lot of, heaps of– lots of, all, none of, tons of

3.1.2. Cách sử dụng MORE và LESS trong tiếng anh: a. More

Cấu trúc: most + noun (nhiều hơn)

Ví dụ:

Would you like some food?(Bạn có muốn thêm thức ăn không?)

You need to listen more and talk less!(Bạn cần phải lắng nghe nhiều hơn và nói ít lại!)

b. Less

– Cách dùng: Less có nghĩa là ít hơn, dùng với danh từ số ít không đếm được.

Ví dụ: You have less chance when competing with him.(Cậu có ít cơ hội hơn khi đối đầu với anh ta)

– Less đi kèm với giới từ of khi nó đứng trước mạo từ (a/an, the), đại từ chỉ định (this/that), tính từ sở hữu (my, his, their) hoặc đại từ nhân xưng tân ngữ (him, her, us).

Ví dụ:

I meet less of him since he move away.(Tôi ít gặp anh ấy từ khi anh ta chuyển đi)

You should eat less of the fast food.(Con nên ăn ít đồ ăn nhanh lại)

Câu ghép trong tiếng Anh

3.2.1. Câu ghép là gì?

Compound sentence là gì? Một câu ghép trong tiếng anh gồm hai mệnh đề độc lập được nối với nhau bằng các liên từ nối hoặc các cặp từ nối. Để xác định liệu mệnh đề có phải là mệnh đề độc lập không ta lược bỏ liên từ đi.

Ví dụ:

The sunbathers relaxed on the sand, and the surfers paddled out to sea.(Những người tắm nắng nằm thư giãn trên cát và những người lướt sóng ngoài biển.)

→ The sunbathers relaxed on the sand. (MĐ độc lập)+ The surfers paddled out to sea. (MĐ độc lập)= câu ghép

I ate breakfast, but my brother did not.(Tôi đã ăn sáng còn em trai tôi thì không.)

→ I ate breakfast. (MĐ độc lập)+ My brother did not. (MĐ độc lập)= câu ghép

3.2.2. Cách thành lập câu: trong tiếng anh, có ba cách để liên kết các mệnh đề trong một câu ghép:

– Có 7 liên từ nối thường xuyên được sử dụng trong câu ghép tiếng anh. Ngoài ra còn có các liên từ phụ thuộc, liên từ kết hợp, liên từ tương quan.

Ví dụ:

The teacher gave the assignments, and the students worte them down.(Giáo viên ra bài tập và học sinh thì chép vào vở)

The accident had been cleared, but the traffic was still stopped.(Hiện trường vụ tai nạn đã được xử lý xong nhưng dòng xe cộ thì vẫn chưa lưu thông được

b. Sử dụng dấu chấm phẩy và trạng từ nối theo sau:

Các trạng từ nối diễn đạt mối quan hệ của mệnh đề thứ hai với mệnh đề thứ nhất. Các trạng từ nối tiêu biểu là: furthermore, however, otherwise, v.v…

Lưu ý: phải chú ý thêm dấu ( ; ) sau mệnh đề độc lập thứ nhất và dấu ( , ) sau trạng từ nối.

– Những từ mang nghĩa “and”: Furthermore; besides; in addition to; also; moreover; additionally…

Ví dụ:

Florida is famous for its tourist attractions, its coastline offers excellent white sands beaches; moreover, it has warm, sunny weather.(Florida nổi tiếng với các thắng cảnh, với bờ biển cát trắng trải dài, và hơn hết, nó nổi tiếng với thời tiếc ấm áp đầy nắng)

– Những từ mang nghĩa “but, yet”: However; nevertheless; still; nonetheless; in contrast; whereas; while; meanwhile; …

Ví dụ:

I try to convince them that this contract is a disaster; however, they decide to sign without thinking of the bad aspect.(Tôi cố thuyết phục họ rằng bản hợp đồng này rất kinh khủng, tuy nhiên, họ đã quyết định ký mà không nghĩ tới hậu quả)

– Những từ mang nghĩa “or”: Otherwise

Ví dụ:

You have to change your working style; otherwise, your boss will fire you.(Bạn phải thay đổi các làm việc của bản thân thôi, nếu không bạn sẽ bị đuổi việc đó)

– Những từ mang nghĩa “so”: Consequently; therefore; thus; accordingly; according to; hence…

Ví dụ: She didn’t sleep enough; therefore, she looked so tired.(Cô ấy không ngủ đủ giấc, thế nên, trông cô ấy mới mệt mỏi làm sao)

– Các mệnh đề độc lập trong một câu ghép cũng có thể được kết nối chỉ bằng một dấu ( ; ). Kiểu câu này được sử dụng khi hai mệnh đề độc lập có quan hệ gần gũi.

– Nếu giữa chúng không có mối quan hệ gần gũi, chúng sẽ được viết tách thành hai câu đơn, tách biệt hẳn bằng dấu chấm.

Ví dụ:

Kết nối bằng dấu ( ; ): I’m studying English; my older brother is studying Math.(Tôi đang học tiếng Anh; anh trai tôi thì đang học toán)

Hai câu tách biệt bằng ( . ): I like coffee. I don’t like soft drink.(Tôi thích cafe. Tôi không thích đồ uống có ga)

HOCHAY.COM – nhận thông báo video mới nhất từ Học Hay: Học Tiếng Anh Dễ Dàng

#hochay #hoctienganh #hocanhvanonline #luyenthitienganh #hocgioitienganh #apphoctienganh #webhoctienganh #detienganhonline #nguphaptienganh #unit2lop7 #tienganhlop7unit2

Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Vào Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1

I.1. Tầm quan trọng của vấn đề:

C hủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lời ích trăm năm trồng người” Lời dạy đó cho chúng ta thấy việc giáo dục thế hệ trẻ là vô cùng quan trong.

Học sinh là thế hệ tương lai của xã hội góp phần xây dựng và một phần quyết định không nhỏ đối với vận mệnh của đất nước. Để thực hiện được nghĩa vụ vinh quang đó, trong nhà trường các em phải được học tập và trưởng thành để trở thành người vừa có đức vừa có tài để góp sức mình đưa Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đưa đất nước ta sớm thoát khỏi nguy cơ tụt hậu và có thể tiến kịp trình độ chung của thế giới.

Trong chương trình học Tiểu học, môn Tiếng việt chiếm một vị trí quan trọng.

Tiếng Việt với tư cách là một môn xã hội có hệ thống kiến thức cơ bản và rất cần thiết cho đời sống con người. Đó cũng là công cụ cơ sở để học các môn học khác và để nhận thức thế giới văn học, vận dụng vào trong thực tế đời sống.

Khả năng giáo dục của môn Tiếng Việt là rất lớn. Nó giúp con người phát triển tư duy,ngôn ngữ, bồi dưỡng vốn từ cần thiết để học sinh nhận thức văn học. Rèn luyện cho con người suy nghĩ nói năng ,lưu loát, tự tin trong cuộc sống .

Học Tiếng Việt giúp cho con người rèn luyện một số đức tính tốt như: Tính kiên trì bền bỉ, tự giác, độc lập, sáng tạo để trở thành con người có ích cho xã hội nên việc tạo hứng thú để các em tích cực tham gia học tập môn Tiếng Việt là vô cùng cần thiết.

Hiện nay trong các trường Tiểu học nói chung và học sinh trường Tiểu học Trới nói riêng thì học sinh rất ngại học môn Tiếng Việt, chất lượng môn Tiếng Việt thấp hơn nhiều so với môn Toán bởi vì các em vó vốn sống xã hội nghèo nàn, phần là do giáo viên chưa thực sự tìm tòi tổ chức các hình thức dạy học phù hợp đối tượng và sự phát triển ngày càng cao của xã hội như ứng dụng CNTT trong giảng dạy.

* Về phía giáo viên:

Khi dạy Tiếng Việt giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ:

+ Ít chú trọng đến việc tạo hứng thú học cho HS nên học sinh cảm thấy chán học, sợ học môn tiếng Việt.

+ GV chưa thật chú trọng tới việc phát triển năng lực, khả năng diễn đạt cho HS.

* Về phía học sinh:

+ Do trí tuệ phát triển còn chậm.

+ Do lơ đễnh, không tập trung trong lúc giáo viên hướng dẫn bài.

+ Do các em phát âm, đọc còn chưa chuẩn, ngại học.

I.3. Lý do chọn đề tài

Cùng với việc đổi mới cách kiểm tra, đánh giá giáo viên và học sinh thì việc đổi mới phương pháp dạy học đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong ngành giáo dục. Điều này cũng đã được chỉ rõ trong nghị quyết Trung Ương II, khoá VIII “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học.” và đặc biệt đối với học sinh lớp Một năm học 2013 – 2014 đã có sự thay đổi bước ngoặt trong việc kiểm tra đánh giá học sinh song để gây hứng thú học tập cho HS lớp 1 thì mỗi giáo viên không ngừng tìm tòi các hình thức dạy học phù hợp đối tượng HS. Xuất phát từ thực tiễn dạy học và thời đại CNTT của thế kỷ XXI, tôi nhận thấy việc tăng cường ƯDCNTT vào dạy học là rất cần thiết. Hiện nay CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo và cả việc đổi mới phương pháp dạy học. Trong thực tế tin học đã trở thành một môn học bắt buộc hoặc tự chọn ở nhiều trường phổ thông trên mọi miền đất nước. Riêng bậc Tiểu học, hiện nay Bộ giáo dục đào tạo xếp tin học là môn tự chọn cho bậc học này. Các trường học luôn khuyến khích, động viên và hỗ trợ giáo viên UDCNTT trong dạy học nhằm từng bước đưa tin học vào nhà trường Tiểu học.

Xuất phát từ đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 1 và những lý do trên đã thúc đẩy tôi chọn đề tài ” Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Tiếng Việt lớp 1″ nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của lớp mình.

I.4. Giới hạn nghiên cứu

Thời gian thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014

+ Tháng 9/2013: Điều tra thực trạng của học sinh, giáo viên

+ Tháng 10/2013- 3/2014 nghiên cứu tài liệu, chương trình Tiếng Việt lớp Một.

+ Tháng 2/2013 – 3/2013 viết đề tài

– Thực hiện tại lớp 1A3 trường Tiểu học thị trấn Trới.

II.CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Lứa tuổi học sinh Tiểu học gồm các em học sinh đang theo học từ lớp 1 đến lớp 5, tức là từ 6 đến 11 tuổi. Ở độ tuổi này sự phát triển về chiều cao và trọng lượng không nhanh như tuổi mẫu giáo. Nhưng hệ xương đang thời kỳ cốt hoá, hệ cơ đang phát triển đặc biệt là các bắp thịt lớn do vậy các em thích đùa nghịch vận động mạnh, các em không thích làm công việc đòi hỏi có sự tỉ mỉ và cẩn thận.

Vì vậy việc rèn các kỹ năng, kỹ xảo đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ.

So với lứa tuổi mẫu giáo thì não và hệ thần kinh của học sinh Tiểu học đã có biến đổi to về khối lượng và chức năng. Sự phát triển của não về cấu tạo và chức năng không đồng đều nên khả năng kìm chế của các em còn rất yếu, hưng phấn mạnh do đó ở lứa tuổi này các em rất hiếu động.

Hệ thần kinh cấp cao đang dần được hoàn thiện nhưng có sự mất cân đối giữa tín hiệu tư duy cụ thể và tín hiệu tư duy trừu tượng.

Lứa tuổi này hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo, sau đó là hoạt động vui chơi. Hoạt động học tập rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với các em. Đây là sự biến đổi lớn trong đời sống, đó là lần đầu tiên được cắp sách đến trường, được tiếp xúc với nhiều thầy cô và bạn bè mới, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo, giúp trẻ hình thành năng lực nhờ đó mà có sự phát triển tâm lý, nhân cách.

Ngoài hoạt động học tập ở lứa tuổi này còn có các hoạt động khác như vui chơi, lao động. Các hoạt động này có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của học sinh Tiểu học.

Nhu cầu nhận thức khám phá thế giới luôn đòi hỏi GV học sinh phải không ngừng tìm tòi, khám phá sáng tạo để tìm ra các biện th . Mức độ, tính chất và phạm vi hoạt động nhận thức của học sinh Tiểu học được bộc lộ rõ ở các quá trình tham gia hoạt động. Những cái thật

Các quá trình cảm giác về sự vật hiện tượng bên ngoài có sự phát triển khá nhanh. Những cảm giác thu được trở thành “vật liệu” để xây dựng tri thức mới. Ở độ tuổi này năng lực cảm giác của học sinh còn yếu.

Tri giác của học sinh Tiểu học phát triển khá nhanh đặc biệt là tri giác các thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng. Một số em bộc lộ khả năng quan sát các sự vật hiện tượng nhanh, chính xác và đầy đủ.

Ở độ tuổi này cả hai loại ghi nhớ đều phát triển mạnh. Đầu độ tuổi các em thiên về ghi nhớ trực quan giàu hình ảnh, ghi nhớ máy móc, học thuộc lòng các tri thức có trong sách vở.

Khả năng chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, chú ý chủ định đang phát triển song trí tưởng tượng của học sinh Tiểu học rất phát triển. Hình ảnh của tưởng tượng gắn liền với hiện thực và phù hợp với cảm xúc của học sinh Tiểu học. Trong giai đoạn lứa tuổi này, tư duy của các em phát triển nhanh chóng nhờ hoạt động học tập, hình thức tư duy của các em chủ yếu là tư duy trực quan cụ thể.

Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng qua trực quan hình ảnh.

III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Bản thân tôi nhận thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng việt của học sinh lớp 1 là rất cần thiết vì tư duy của học sinh lớp 1 chủ yếu bằng trực quan. Việc dùng hình ảnh để giải nghĩa các từ khoá, từ ứng dụng, minh hoạ cho bài học cho bài đọc, cho phần luyện nói và cho trò chơi đối với học sinh lớp 1 là điều cần thiết giúp các em nắm bắt kiến thức tốt hơn, lâu hơn. Đây cũng chính là chủ trương của ngành, của các huyện thị trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

– Do phát triển của kinh tế xã hội đòi hỏi phải có lớp người lao động mới, năng động, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với sự biến đổi diễn ra hàng ngày, thích nghi với sự phát triển nhanh của xã hội.

– Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở số đông các trường Tiểu học còn hạn chế. Cụ thể là: giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào các tài liệu sẵn có ở sách giáo khoa và sách giáo viên. Vì vậy giáo viên thường làm việc một cách máy móc, hình thức dạy học đơn điệu và ít quan tâm đến khả năng sáng tạo của học sinh. Do đó việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động thường đơn điệu, nghèo nàn, giáo viên ít quan tâm đến sự phát triển năng lực cá nhân. Nhất là khi giải nghĩa các từ ngữ cho học sinh giáo viên thường giải nghĩa bằng lời không có hình ảnh nên đôi khi học sinh sẽ thấy khó hiểu dẫn đến việc hiểu bài sẽ không tốt.

Cùng với việc dạy học chương trình Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục, đây là chương trình hiện đại phù hợp với xu thế phát triển giáo dục. Đặc biệt là dạy học Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục đã đáp ứng vấn đề đổi mới phương pháp dạy học: “thầy thiết kế – trò thi công”, “lấy học sinh làm trung tâm”. Chương trình phát huy được khả năng tư duy của học sinh, giúp các em mạnh dạn tự tin tham gia các hoạt động học tập. Học sinh nắm chắc được cấu tạo ngữ âm, phân tích ngữ âm đúng và có kỹ năng ghi mô hình nhanh, chính xác và thành thạo. Về kỹ năng đọc, học sinh đọc đúng, đọc nhanh và rõ ràng. Học sinh có kỹ năng nghe và viết chính tả tốt, nắm được luật chính tả, viết đúng cỡ chữ. Hiện tượng tái mù chữ trong học sinh sẽ không còn.

– Giáo viên là người được đánh giá kết quả học tập của học sinh mà học sinh ít được đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau.

– Tiêu chuẩn đánh giá học sinh là kết quả ghi nhớ, tái hiện lại những điều giáo viên đã giảng.

Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá HS lớp Một nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh song không gây áp lực học tập cho HS, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học.

– Bồi dưỡng phương pháp dạy học, tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh.

Đề tài này nhằm xây dựng và tổ chức giúp các em nắm tốt kiến thức bằng trực quan sinh động, nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, qua trực quan hình ảnh giúp các em hiểu được các từ ngữ và nội dung của bài học.

Đề tài nhằm kiểm nghiệm một giả thuyết khoa học “Nếu xây dựng được một phương án áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học một số mạch kiến thức ở môn Tiếng Việt lớp Một một cách thích hợp thì sẽ góp phần tạo lập được một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học.

V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

V.1. Chương trình Tiếng I Việt lớp 1:

– Phần học âm có 28 bài

– Phần học vần có 75 bài

– Phần học tập đọc có 33 bài

Chị bổ sung thêm kết quả khảo sát môn TV đầu năm

V.2. Các phần mềm ứng dụng trong thiết kế bài giảng.

Hiện nay ở Tiểu học có thể ứng dụng CNTT theo các hướng:

– Sử dụng máy vi tính với hệ thống đa phương tiện cho phép sử dụng nhiều dạng truyền thông tin như: văn bản, đồ hoạ, âm thanh… đã đảm bảo được tính chân thực của các đối tượng nghiên cứu, làm tăng niềm tin vào tri thức, kích thích hứng thú học tập, tạo động cơ học tập góp phần phát triển tính tự giác, độc lập, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức.

– Sử dụng các phần mềm dạy học góp phần tạo sự phân hoá cao trong quá trình dạy học.

– Sử dụng phần mềm trong soạn giảng như: Word, paint brush, power point.

“Giải ô chữ”: Là phần mềm giúp giáo viên thiết lập những trò chơi thú vị và bổ ích cho học sinh. Các em đóng vai trò là những người thợ săn, mục tiêu mà các em cần săn là những kiến thức có trong bài vừa học giúp các em giải quyết các bài tập mà giáo viên đặt ra.

Chị xem lại đề mục 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Một thực tế cho thấy rằng dạy học truyền thống đối với học sinh lớp 1, giáo viên phải sử dụng rất nhiều đồ dùng trong một tiết dạy. Từ khâu kẻ vẽ, soạn đồ dùng trên lớp rất mất nhiều thời gian mà không có tính khả thi dẫn đến giáo viên ngại sử dụng đồ dùng trực quan thường dạy chay.

Trong quá trình thực hiện dạy PowerPoint một số học sinh không chú ý phần thực hành mà chỉ chú ý quan sát màn hình.

Nhiều giáo viên soạn giảng lạm dụng đến màu sắc phông chữ và hình nền loè loẹt gây phản cảm, hiệu ứng nhảy nhót gây mất sự chú ý tìm hiểu trọng tâm bài học.

Để bài soạn có cấu trúc chặt chẽ, logic được quy định bởi cấu trúc của bài học giáo viên phải xác định mục tiêu, trọng tâm và kiến thức cơ bản của bài học để làm nổi bật các mối quan hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài.Từ đó xây dựng kịch bản, lấy tư liệu cho các hoạt động: hoạt cảnh, ảnh chụp; âm thanh;và phim vi deo (videoclip). Sau đó, giáo viên lựa chọn phần mềm công cụ và số hoá nội dung tạo hiệu ứng trong các tương tác. Cuối cùng, chỉnh sửa, chạy thử và hoàn thiện nội dung bài dạy.

– Sau khi cho häc sinh ghÐp, ®¸nh vÇn, ®äc tr¬n ©m, tiÕng, tõ míi gi¸o viªn cho häc sinh quan s¸t h×nh ¶nh con bª vµ con ve kÌm theo lêi gi¶ng gi¶i ®Ó häc sinh nhËn biÕt ®­îc con vËt ®ã. V× nhiÒu häc sinh ch­a biÕt ®­îc vÒ h×nh ¶nh hai con vËt nµy đã làm kích thích tình ham học trong học sinh, chính điều đó làm cho HS ham thích học môn tiếng Việt..

b, Khi dạy vần mới: VD: Bài 46: en- ên

Sau khi cho häc sinh ghÐp, ®¸nh vÇn, ®äc tr¬n vÇn, tiÕng, tõ míi gi¸o viªn cho häc sinh quan s¸t tranh kÌm theo lêi gi¶i thÝch, c©u hái ®¬n gi¶n ®Ó häc sinh hiÓu tõ tèt h¬n.

– Gv giíi thiÖu tranh:

+ Tranh vÏ g×?

– Gv: L¸ sen cã mµu xanh thÉm, b¶n réng, trßn, th­êng dïng ®Ó gãi cèm, lµm cho cèm mÒm vµ dÎo h¬n. L¸ sen cßn dïng ®Ó gi¶i nãng trong ng­êi, bít ®au ®Çu vµ cÇm m¸u.

– Gv giíi thiÖu tranh:

+ C¸c em ®· nh×n thÊy con nhÖn bao giê ch­a?

+ Con nhÖn ®ang lµm g×?

– Gv: §©y lµ con nhÖn. Con nhÖn ®ang gi¨ng t¬ ®Ó b¾t måi nh­ : ruåi, muçi, cµo cµo, ch©u chÊu….

– Hs nhÈm tõ.

– Hs ®äc tr¬n tõ.

– Gi¶i nghÜa tõ.

+ ¸o len: Lµ lo¹i ¸o ®­­îc ®an hoÆc dÖt b”ng len.

+ khen ngîi: nãi lªn sù ®¸nh gi¸ tèt vÒ ai, vÒ c¸i g×, viÖc g× víi ý võa lßng.

+ Mòi tªn: mòi tªn cã hai c¸nh ë ®u”i lµ lo¹i tªn b¾n ®i b”ng cung, ná, th­êng ®­îc lµm b”ng tre hoÆc s¾t. Cßn mòi tªn kh”ng cã c¸nh ë ®u”i lµ dÊu hiÖu th­êng dïng ®Ó chØ h­íng.

– c©y sen, hoa sen, l¸ sen.

Áo len mũi tên

khen ngợi nền nhà

Phần luyện viết giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể viết ở bảng lớp để học sinh dễ theo dõi cách đưa các nét. Với cách làm như vậy, học sinh được quan sát một cách trực tiếp qua những hình ảnh động sẽ tiếp thu đọc bài rất tốt.

* Phần Tập đọc học kì 2 Lớp 1. Dạy học truyền thống thì giáo viên phải viết mẫu bài tập đọc trên bảng lớp nên rất mất thời gian và không chủ động. Còn dạy Power Point học sinh được quan sát tranh và đọc bài với phông chữ to, rõ ràng, trình tự các bước của bài dạy xuất hiện làm gây hứng thú học của các em

Hoạt động 1: Giới thiệu bài:

Giáo viên cho học sinh quan sát tranh trên màn hình cảnh hồ gươm vào các thời gian khác nhau để giới thiệu bài.

Trên màn hình xuất hiện một số bức tranh cho học sinh quan sát và kết hợp giảng từ.

Hoạt động 2: Luyện đọc bài

Trên màn hình xuất hiện bài tập đọc.

Giáo viên đọc mẫu- Hướng dẫn cách đọc.

Yêu cầu 1 học sinh đọc – cả lớp tìm từ

khó đọc trong bài.

Luyện từ khó:

Trên màn hình xuất hiện gạch chân dưới từ khó đọc.

Yêu cầu học sinh phân tích – đánh vần – đọc trơn

Yêu cầu học sinh nêu thứ tự các câu trong bài.

Luyện đọc câu:

Đọc nối tiếp câu.

Luyện đọc đoạn

Giải nghĩa một số từ bằng hình ảnh động dù học ở tại lớp nhưng học sinh như cảm thấy được chính mình đang đứng đó để ngắm nhìn. Ví dụ từ: mái đền lấp ló hay từ Tháp Rùa tường rêu cổ kính, giáo viên cho xuất hiện hình ảnh trên màn hình học sinh sẽ thấy cụ thể hơn.

Dạy thực hiện công nghệ thông tin giúp học sinh tìm từ, đặt câu tốt. ở mỗi bài tập đọc đều yêu cầu học sinh tìm tiếng trong bài có vần mới học.

Học sinh tìm đúng, trên màn hình xuất hiện dòng thơ và tiếng cần tìm nên cho màu đỏ để học sinh dễ nhận thấy:

– Em yêu nhà em

– Em yêu tiếng chim

– Em yêu ngôi nhà

– Như yêu đất nước

Ví dụ : Bài: Chú sẻ thông minh.

Xếp các ô chữ sau thành câu nói đúng về chú Sẻ trong bài:

V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Sau khi áp dụng CNTT vào trong các giờ học vần, tập đọc (cụ thể là lớp 1A3) thì không khí học tập khác hẳn, các em học tập tích cực, năng động hơn, có khả năng bộc lộ tài năng cá nhân, rèn trí thông minh, nhanh nhẹn hơn khi xử lí các tính huống khó và diễn đạt ý kiến, không bị căng thẳng, tránh được sự mệt mỏi trong học tập, không khí lớp học sinh động, HS được thực tế nhiều hơn.

* CUỐI HỌC KỲ I KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC NHƯ SAU:

100% học sinh biết đọc, biết viết.

Trong gần một năm thực hiện đưa đề tài vào thực nghiệm, tôi nhận thấy rằng sáng kiến kinh nghiệm của tôi không những giúp các em năng động, sáng tạo mà còn giúp các em biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, cùng giúp nhau tiến bộ. Các em biết nhường nhịn nhau và ngoan hơn rất nhiều. Vì vậy việc tăng cường UDCNTT vào dạy học môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác là thực sự cần thiết.

VI . KẾT LUẬN:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Tiếng Việt” đã thu được kết quả sau:

Chị bổ sung thêm kết quả, đánh giá những ưu điểm khi UDCNTT trong dạy môn TV

Quá trình thực hiện đề tài tôi có một số ý kiến sau, Chị đưa vào phần kiến nghị

– Việc đưa CNTT vào ứng dụng trong dạy học TV nói riêng cũng như trong dạy học các môn học khác ở Tiểu học nói chung là cần thiết và hữu ích. Vì vậy các trường Tiểu học cần tăng cường CNTT vào ứng dụng trọng dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh.

– Các phòng giáo dục tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các máy móc thiết bị phục vụ cho việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở các trường Tiểu học.

– Giáo viên phải có chuyên môn vững vàng, có sự hiểu biết về máy tính điện tử và các phần mềm ứng dụng, phần mềm dạy học để thiết kế giáo án và dạy học theo phương pháp có ứng dụng CNTT đạt kết quả cao.

Quá trình thực hiện đề tài tôi thấy công việc này rất lý thú và bổ ích. Nó giúp tôi hiểu rõ hơn về vấn đề mình nghiên cứu, vững vàng hơn và tự tin hơn khi đứng trên bục giảng.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Đào tạo giáo viên Tiểu học, các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bài tập lớn của mình.

VII: ĐỀ NGHỊ:

Để ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong giảng dạy đòi hỏi người giáo viên cần phải biết sử dụng máy vi tính, trang thiết bị phải đầy đủ máy chiếu Projector, đèn, máy vi tính, webcam, trang bị các phòng học chức năng.

Với sự phát triển về công nghệ thông tin hiện nay mỗi trường nên lắp hệ thống mạng không dây(Wifi) để các giáo viên có điều kiện tra cứu thông tin, hình ảnh hay download các đoạn video clip hoặc một bài giảng….

Nhà trường, tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn cần thường xuyên dự giờ thăm lớp góp ý kiến xây dựng tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin song tránh bị lạm dụng.

VIII.TÀI LIỆU THAM KHẢO Chị xem lại tài liệu tham khảo ( Tác giả để xuống sau)

1. Hỏi đáp về đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học của tác giả Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (1996), NXBGD.

2. Chú trọng ứng dụng CNTT trong dạy học ở bậc Tiểu học ( Tác giả Vũ Thị Thái 2004, NXBGD)

3. Viện chiến lược và chương trình giáo dục của tác giả Đào Thái Lai

4. Khoa tâm lý giáo dục (1997), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, trường ĐHSPTN.

5. Quách Tuấn Ngọc (1999) Đổi mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin – Xu thế của thời đại.

6. Triển khai ứng dụng CNTT trong trường Tiểu học

I X. MỤC LỤC:

XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG

……………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..XÁ NHẬN CỦA HỘI ĐỘNG CẤP PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI

Trần Hải Hà @ 10:24 26/03/2014 Số lượt xem: 1602

Hướng Dẫn Sử Dụng Phần Mềm Học, Dạy Tiếng Việt Lớp 2

Hướng dẫn sử dụng phần mềm HỌC, DẠY TIẾNG VIỆT LỚP 2: 4. Bài học Luyện Từ và Câu (phần III)

Bùi Việt Hà, công ty Công nghệ Tin học Nhà trường

4. Ghép từ thành câu

Ghép từ thành câu là bài luyện cho trước các từ hoặc cụm từ cho trước, học sinh cần ghép các từ, cụm từ này để tạo thành một câu tiếng Việt hoàn chỉnh.

Chúng ta sẽ tìm hiểu các mô phỏng bài luyện này trong phần mềm Học – Dạy Tiếng Việt lớp 2.

Cho truớc một số câu tiếng Việt hoàn chỉnh. Các câu này được tách ngẫu nhiên thành 2, 3 hoặc 4 phần và các phần này được hiện trên màn hình, phía trên của bảng.

Nhiệm vụ của học sinh là di chuyển các thành phần này lần lượt vào các ô của bảng phía dưới sao cho mỗi hàng sẽ tạo thành 1 câu hoàn chỉnh.

Dạng 2: ghép các thành phần của một thành ngữ để tạo thành 1 thành ngữ hoàn chỉnh.

Trên màn hình tại cột bên phải sẽ hiện một danh sách các cụm từ. Học sinh cần quan sát và ghép 2 cụm từ trong chúng để tạo thành 1 thành ngữ. Để thực hiện việc này, học sinh cần kéo thả các cụm từ này vào các ô màu đen phía bên phải màn hình. Phần mềm sẽ tự động kiểm tra xem việc ghép này có đúng không, nếu đúng thì câu, thành ngữ sẽ được xác định và đưa vào khung chính bên trái màn hình.

Học sinh cần làm liên tục các thao tác này cho đến khi ghép hết các từ có trong cột bên phải.

5. Thi tìm từ nhanh nhất

Thi tìm từ là một hoạt động rất đặc biệt hữu ích được sử dụng trong các bài học Chính tả hay Luyện từ và câu của phần mềm HỌC -DẠY Tiếng Việt lớp 2. Mục đích chính của hoạt động này là tạo ra một sân chơi cho toàn bộ học sinh trong lớp tham gia, thông qua cuộc thi sẽ cùng nhau hiểu thêm ý nghĩa của các từ, mở rộng vốn từ, câu trong Tiếng Việt.

Có 2 dạng chính của hoạt động này.

Dạng 1: Thi tìm nhiều từ nhất.

Mô tả: trong 1 thời gian nhất định (ví dụ 2 phút) cần tìm ra nhiều từ nhất có thể theo yêu cầu đưa ra của giáo viên hoặc bài luyện.

Giao diện màn hình có dạng sau:

Phía trên màn hình là yêu cầu cụ thể của bài luyện. Khi bắt đầu cuộc thi, đồng hồ thời gian sẽ hiện phía bên phải và bắt đầu tính thời gian.

Nhiệm vụ của học sinh là phải tìm ra nhiều từ nhất có thể thỏa mãn yêu cầu của bài luyện. học sinh nhập trực tiếp từ hoặc cụm từ cần tìm tại dòng nhập dữ liệu. Nhập xong nhấn phím Enter hoặc nháynút . Các từ đã nhập sẽ hiện tại khung cửa sổ chính của màn hình. Khi thời gian kết thúc, giáo viên sẽ cùng học sinh kiểm tra kết quả làm bài của học sinh.

Dạng 2: tìm từ chính xác trong thời gian nhanh nhất.

Mô tả: học sinh cần tìm ra một từ chính xác theo yêu cầu trong thời gian nhanh nhất.

Phía trên màn hình là yêu cầu cụ thể của bài luyện. Khi bắt đầu cuộc thi, đồng hồ thời gian sẽ hiện phía bên phải và bắt đầu tính thời gian.

Nhiệm vụ của học sinh là cần tìm ra từ theo yêu cầu.

Học sinh sẽ nhập trực tiếp từ hoặc cụm từ cần tìm tại dòng nhập dữ liệu. Nhập xong nhấn phím Enter hoặc nháy nút .

Nếu nhập sai, phần mềm sẽ thông báo ngay và học sinh lại được quyền nhập tiếp tục cho đến khi nào đúng thì thôi. Các từ do học sinh nhập sẽ hiện trong cửa sổ chính của màn hình kể các các từ nhập sai.

Ngay sau khi học sinh nhập được từ đúng, phần mềm sẽ thông báo kết thúc và thông báo thời gian tìm từ của bài luyện này.

Ứng Dụng Học Tiếng Anh Lớp 9 Unit 9

Tiếng Anh lớp 9 – Unit 9: English in the World

Listen and Read

Teacher: Welcome to English Club. Today, I’m going to do a quick quiz to check your knowledge of the English language. Question one: Is English the language which is spoken as a first language by most people in the world?

Duong: Of course, it is.

Teacher: Incorrect. Chinese is. Question two: Does English have the largest vocabulary?

Vy: Yes, with approximately 500,000 words and 300,000 technical terms.

Teacher: Yes, spot on! This is due to the openness of the English language. English has borrowed words from many other languages.

Duong: Yeah, if there weren’t so many words, it would be easier for us to master it!

Teacher: Ha ha… But the simplicity of form makes English easy to learn. Many English words have been simplified over the centuries. Now, question three: Who can tell me an English word that can operate as a noun, a verb, and an adjective?

Mai: I think the word subject can operate as a noun, a verb and an adjective.

Teacher: Excellent. In English, the same word can operate as many parts of speech. That’s due to its flexibility. Question four: What is the longest word in English which has only one vowel?

Duong: Is it length?

Vy: No, I think it’s strengths.

Teacher: That’s right, Vy. Lastly, question five: Who can tell me at least three varieties of English?

Mai: American English, Australian English, and… er, yes, Indian English.

Bài dịch:

Giáo viên: Chào mừng các em đến với câu lạc bộ tiếng Anh. Hôm nay, thầy cho các em chơi trò đố vui để kiểm tra kiến thức của các em về tiếng Anh. Câu 1: Có phải tiếng Anh được nói như ngôn ngữ mẹ đẻ bởi nhiều người nhất trên thế giới.

Dương: Chắc chắc rồi ạ.

Giáo viên: Không đúng. Đó là tiếng Trung Quốc. Câu 2: Tiếng Anh có vốn từ vựng rộng nhất đúng không?

Vy: Vâng ạ, với khoảng 500,000 từ và 300,000 thuật ngữ kỹ thuật.

Giáo viên: Chính xác. Đó là vì việc mở rộng của tiếng Anh, tiếng Anh đã mượn từ vựng từ nhiều nước khác.

Dương: Vâng, nếu không có quá nhiều từ sẽ dễ dàng hơn cho chúng ta để học thành thạo nó.

Giáo viên: Haha…nhưng sự đơn giản về cấu tạo từ đã làm cho tiếng Anh dễ học. Nhiều từ tiếng Anh đã được đơn giản hóa nhiều thế kỷ qua. Bây giờ, câu 3: Em nào có thể nói cho thầy biết một từ tiếng Anh có thể là danh từ, động từ và tính từ?

Mai: Em nghĩ từ “subject” có thể đóng vai trò như 1 danh từ, động từ và tính từ ạ.

Giáo viên: Xuất sắc. Trong tiếng Anh, cùng 1 từ có thể đóng nhiều vai trò khác nhau. Đó là do sự linh hoạt của nó. Câu 4: Từ nào dài nhất trong tiếng Anh mà chỉ có 1 nguyên âm?

Dương: Là từ length hả thầy?

Vy: Không tớ nghĩ là strengths.

Giáo viên: Đúng rồi Vy. Cuối cùng, câu 5: em nào có thể kể cho thầy ít nhất 3 sự đa dạng của tiếng Anh?

Mai: Anh Mỹ, Anh Úc, và à… Anh Ấn ạ.