Học Tiếng Nhật Bộ Thủ / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Theolympiashools.edu.vn

Cách Học Thuộc Nhanh Bộ Thủ Tiếng Nhật

1. Bộ thủ tiếng Nhật là gì?

Kanji là 1 trong 3 bảng chữ cái được người Nhật sử dụng bên cạnh hiragana và Katakana. Bộ thủ được coi là một phần cơ bản của Kanji, giúp sắp xếp lại để cấu hình nên các Hán tự. Dựa theo bộ thủ, giúp việc tra cứu Kanji của bạn dễ dàng hơn cả.

Đa số Hán tự là chữ hình thanh, nên tinh thông bộ thủ là một điều kiện thuận lợi tìm hiểu hình-âm-nghĩa của Hán tự. Việc bạn nắm vững các bộ thủ kanji sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc của Kanji cũng như dễ nhớ ngữ nghĩa của nó.

2. Cách học thuộc nhanh bộ thủ

Bộ thủ tiếng Nhật hiểu đơn giản là những nét viết tượng hình. Chữ tượng hình nổi tiếng khó học và rất khó thuộc đúng không nào? Với con số 214 bộ thủ tiếng Nhật thì việc học thuộc nhanh được nó sẽ là cả một quá trình đấy.

2.1. Dựa vào chữ Kanji để tưởng tượng câu chuyện ghi nhớ bộ thủ

Có nhiều bạn khi học tiếng Nhật cơ bản thì cảm thấy không thể học được bảng chữ cái Kanji và từ vựng cũng như đọc hiểu. Nguyên nhân ở đây là các bạn đó không học thuộc và nhớ kỹ phần bộ thủ tiếng Nhật, từ đó dẫn đến việc học Kanji và từ vựng cũng không khá khẩm hơn là bao. Những trường hợp như này thì bạn bắt buộc phải học bộ thủ tiếng Nhật và nắm chắc về nó.

Ví dụ như chữ Tín còn có âm đọc khác là Tin. Từ này có 2 bộ là Nhân đứng 亻và Ngôn 言. Dựa vào 2 bộ cấu thành này mà bạn có thể nhớ chữ này thành rất nhiều bộ thủ tiếng Nhật được tách ra riêng biệt nhưng vẫn mang những ý nghĩa thống nhất với nhau đó là Tín.

Như vậy, qua câu chuyện trên thì bạn có thể vừa nhớ nghĩa vừa nhớ được bộ thủ tiếng Nhật cấu thành chữ từ đó. Ngoài ra, bạn còn nhớ thêm được cách viết của chữ luôn. Việc học liên tưởng và ghi nhớ kép như vậy sẽ nhanh hơn và tiết kiệm thời gian của người học hơn rất nhiều.

2.2. Tra cứu nhiều tài liệu

2.3. Học bộ thủ qua các bài tập thực hành

Bộ thủ tiếng Nhật hay nói cách khác là bộ thủ là trợ thủ đắc lực để bạn có thể học Kanji hiệu quả. Vì vậy bạn hoàn toàn có thể dựa vào các bài tập thực hành để thông qua đó có thể nắm chắc và nhớ lâu hơn những bộ thủ tiếng Nhật. Việc ghi nhớ các bộ thủ chưa bao giờ đơn giản và dễ dàng đến thế!

2.4. Học thuộc nhanh bộ thủ tiếng Nhật trên các website

Việc học bộ thủ tiếng Nhật trên website có rất nhiều ưu điểm. Nó phù hợp cho những ai không thể sắp xếp được thời gian cũng như không thể di chuyển được đến những trung tâm tiếng Nhật. Những ai đang đi học, đi làm hay những bạn ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể tiếp cận được với tiếng Nhật.

Bộ Thủ Tiếng Nhật Là Gì Và Cách Học Thuộc Nhanh

Bộ thủ tiếng Nhật là gì? Có bao nhiêu bộ thủ?

Có rất nhiều định nghĩa về bộ thủ tiếng Nhật. Mỗi một người lại tự có cho mình những định nghĩa rất riêng về bộ thủ này. Thế nhưng, nếu các bạn muốn hiểu ngắn gọn nhất thì có thể hiểu đơn giản, bộ thủ tiếng Nhật chính là thành phần cấu tạo nên chữ Hán. Chữ Hán này còn được gọi là bảng chữ cái của Hán tự – một trong những thành phần quan trọng của tiếng Nhật.

Trong tiếng Việt, một từ hoàn chỉnh sẽ được cấu tạo từ nhiều chữ cái riêng lẻ. Ví dụ như chúng ta có từ Học được cấu tạo bởi 3 chữ cái H, O và C thì sang đến Hán tự của tiếng Nhật cũng tương tự như vậy. Ví dụ như chúng ta có chữ Minh được cấu tạo bởi 2 bộ thủ tiếng Nhật là bộ日Nhật và bộ 月Nguyệt.

Tiếng Nhật có 214 bộ thủ

Vậy nên các bạn có thể thấy, nếu như không biết và không học bộ thủ tiếng Nhật thì việc học Hán tự tiếng Nhật của chúng ta sẽ gian nan hơn. Đặc biệt, sẽ rất khó cho bạn để có thể phân biệt những chữ giống nhau và bạn cũng không thể nào hiểu tường tận về ý nghĩa của chữ Hán đó. Vì vậy, việc học tiếng Nhật của bạn sẽ không sâu và không thật sự hiệu quả.

Bạn đã bao giờ thắc mắc tiếng Nhật có nhiều chữ Hán như vậy thì tương đương với nó sẽ có bao nhiêu bộ thủ chưa? Đa số những bạn mới làm quen với môn ngoại ngữ mới này sẽ chưa tìm hiểu về vấn đề này.

Có một vài bộ thủ không được sử dụng phổ biến

Hiện nay, tổng cộng có 214 bộ thủ tiếng Nhật tất cả và được công nhận. Tuy nhiên, trong số đó có những bộ thủ không mấy khi sử dụng. Bạn có thể quan sát trong quá trình học tập và nhận ra tần suất xuất hiện của bộ thủ hiếm hoi này trong chữ Hán là vô cùng ít.

Chính vì vậy nên chúng ta có thể bỏ qua những bộ thủ tiếng Nhật ít được sử dụng đó cũng không sao cả. Nếu bạn vô tình bắt gặp nó thì bạn hoàn toàn có thể tra lại cũng được. Nhưng trong 214 bộ thủ tiếng Nhật ấy sẽ có gần 200 bộ thủ cơ bản mà bất kỳ ai khi học tiếng Nhật cũng cần phải nhớ để dễ dàng trong quá trình học bảng chữ cái Kanji hơn.

Cách học thuộc nhanh bộ thủ

Bộ thủ tiếng Nhật hiểu đơn giản là những nét viết tượng hình. Chữ tượng hình nổi tiếng khó học và rất khó thuộc đúng không nào? Với con số 214 bộ thủ tiếng Nhật thì việc học thuộc nhanh được nó sẽ là cả một quá trình đấy.

Dựa vào chữ Kanji để tưởng tượng câu chuyện ghi nhớ bộ thủ

Có nhiều bạn khi học tiếng Nhật cơ bản thì cảm thấy không thể học được bảng chữ cái Kanji và từ vựng cũng như đọc hiểu. Nguyên nhân ở đây là các bạn đó không học thuộc và nhớ kỹ phần bộ thủ tiếng Nhật, từ đó dẫn đến việc học Kanji và từ vựng cũng không khá khẩm hơn là bao. Những trường hợp như này thì bạn bắt buộc phải học bộ thủ tiếng Nhật và nắm chắc về nó.

Bạn có thể dựa vào Kanji để học bộ thủ

Đa phần các bạn học bộ thủ tiếng Nhật không hiệu quả là vì học quá máy móc và không có cách học đúng. Có tổng cộng 214 bộ thủ tiếng Nhật và nếu bạn chỉ nhớ dựa vào các nét viết thì sẽ rất dễ quên. Chính vì vậy lời khuyên ở đây đó là các bạn nên dựa vào chữ Kanji để từ đó tượng tượng ra câu chuyện dễ học hơn, ghi nhớ lâu hơn và học bộ thủ tiếng Nhật không còn khô khan nữa.

Ví dụ như chữ Tín còn có âm đọc khác là Tin. Từ này có 2 bộ là Nhân đứng 亻và Ngôn 言. Dựa vào 2 bộ cấu thành này mà bạn có thể nhớ chữ này thành rất nhiều bộ thủ tiếng Nhật được tách ra riêng biệt nhưng vẫn mang những ý nghĩa thống nhất với nhau đó là Tín.

Như vậy, qua câu chuyện trên thì bạn có thể vừa nhớ nghĩa vừa nhớ được bộ thủ tiếng Nhật cấu thành chữ từ đó. Ngoài ra, bạn còn nhớ thêm được cách viết của chữ luôn. Việc học liên tưởng và ghi nhớ kép như vậy sẽ nhanh hơn và tiết kiệm thời gian của người học hơn rất nhiều.

Tra cứu nhiều tài liệu

Học bộ thủ qua các bài tập thực hành

Bộ thủ tiếng Nhật hay nói cách khác là bộ thủ là trợ thủ đắc lực để bạn có thể học Kanji hiệu quả. Vì vậy bạn hoàn toàn có thể dựa vào các bài tập thực hành để thông qua đó có thể nắm chắc và nhớ lâu hơn những bộ thủ tiếng Nhật. Việc ghi nhớ các bộ thủ chưa bao giờ đơn giản và dễ dàng đến thế!

Học thuộc nhanh bộ thủ tiếng Nhật trên các website

Một trong những phương pháp học thuộc nhanh các bộ thủ tiếng Nhật đó là đăng ký khóa học trên các website tiếng Nhật uy tín. Một trong những Website hàng đầu về tiếng Nhật cũng như dành cho các bạn đang muốn học tập ngôn ngữ khó nhằn này đó chính là Dekiru.

Dekiru sinh ra với sứ mệnh truyền cảm hứng và tình yêu tiếng Nhật đối với tất cả mọi người. Vì vậy, chúng tôi luôn luôn đề cao kết quả mà các bạn nhận được sau khi đăng ký gói học tập của chúng tôi. Dekiru là một trong những cái tên hàng đầu hiện nay về học tiếng Nhật, đặc biệt là học bộ thủ tiếng Nhật online.

Việc học bộ thủ tiếng Nhật trên website có rất nhiều ưu điểm. Nó phù hợp cho những ai không thể sắp xếp được thời gian cũng như không thể di chuyển được đến những trung tâm tiếng Nhật. Những ai đang đi học, đi làm hay những bạn ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể tiếp cận được với tiếng Nhật.

Ngoài ra, việc học bộ thủ tiếng Nhật online như vậy sẽ giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thời gian di chuyển, công sức học tập cũng như là một lượng lớn kinh phí nữa. Bạn cũng sẽ được tiếp cận với nhiều phương pháp học hiện đại và linh hoạt hơn rất nhiều. Thật là tiện ích khi bạn có thể học được bộ thủ tiếng Nhật mọi lúc mọi nơi đúng không nào?

Cách Học 214 Bộ Thủ Tiếng Trung

Cách học 214 bộ thủ trong tiếng Trung

Bộ Thủ là bộ kiện có tác dụng phân loại kiểu chữ, là chữ đầu tiên của các bộ trong từ điển. Theo Khang Hy tự điển (1716), Trung Hoa đại tự điển (1915), và Từ hải (1936) công nhận có 214 bộ. Trong các cuốn từ điển tiếng Trung, chữ Hán thường được quy lại thành từng nhóm theo bộ thủ, thứ tự của các bộ thủ căn cứ vào số nét. Bộ thủ đơn giản nhất chỉ có một nét, bộ thủ phức tạp nhất có 17 nét.

2, Ý nghĩa, tác dụng của bộ thủ trong việc học chữ Hán

Dựa theo bộ thủ chúng ta có thể tra cứu chữ Hán một cách dễ dàng hơn. Khi gặp phải chữ Hán mà bạn không biết nghĩa và cách đọc của nó, bạn có thể dựa vào bộ thủ để tra từ điển, hiện nay các cuốn từ điển đều có phần tra cứu chữ Hán theo các bộ, các chữ Hán đều đã được phân loại theo các bộ và việc của bạn là chỉ cần nhớ xem đó là bộ gì và giở trang chứa bộ đó để tra cứu thôi. Việc tra cứu bằng bộ thủ sẽ nhanh và thuận tiện hơn tra bằng nét, vì bạn phải mất thời gian để đếm nét chữ, và rất có thể bạn sẽ đếm sai.

Để viết được bộ thủ cũng như chữ Hán, chúng ta cần nắm được các nét và quy tắc viết chữ Hán.

Các nét cơ bản trong chữ Hán bao gồm 8 nét cơ bản lần lượt là: Ngang (一), Sổ (丨) , Phẩy (丿), Chấm (丶), Mác (㇏), Gập (乛), Móc (亅), Hất (㇀)

Quy tắc viết chữ Hán: 7 quy tắc cơ bản

– Ngang trước sổ sau: viết các nét ngang trước sau đó viết các nét sổ, ví dụ như 十, 王 , 干 – Phẩy trước mác sau: viết các nét phẩy trước rồi viết các nét mác sau, ví dụ như 人, 八, 入 – Trên trước dưới sau: viết lần lượt từ trên xuống dưới, ví dụ như 三, 竟, 音 – Trái trước phải sau: viết các nét bên trái trước rồi đến các nét bên phải, ví dụ như: 利, 礼, 明, 湖 – Ngoài trước trong sau: ví dụ như 问, 同, 司 – Vào trong trước đóng cửa sau: viết xong bên trong rồi mới đóng lại, ví dụ như: 国, 圆, 园, 圈 – Giữa trước hai bên sau: ví dụ như 小, 水

– Bộ thủ ở bên trên: trong chữ 家 bộ Miên (宀) nằm bên trên. Các bộ thủ thường nằm bên trên: bộ Miên (宀), bộ Quảng (广), bộ Thi (尸),bộ Thảo đầu (艹 ),… – Bộ thủ ở bên dưới: trong chữ 想 bộ Tâm (心) nằm ở bên dưới, trong chữ 尘 bộ Thổ (土) cũng nằm bên dưới,.. Các bộ thủ thường nằm bên dưới: bộ Hỏa (灬), bộ Tâm (心),… – Bộ thủ ở bên trái: trong chữ 说 bộ Ngôn (讠) nằm bên trái, trong chữ 打 bộ Tài Gẩy (扌) cũng nằm bên trái,… Các bộ thường nằm bên trái gồm có : bộ Ngôn 讠, bộ Tfai Gẩy 扌, bộ Nhân đứng 亻, bộ Dẫn 廴, bộ Quai Xước 辶, bộ Nhân kép 彳, bộ Thực 饣, bộ Tâm đứng 忄,… – Bộ thủ ở bên phải: trong chữ 我 bộ Qua戈 nằm bên phải, trong chữ 吗 bộ Mã(马) cũng nằm bên phải,… Các bộ thủ thường nằm bên phải: bộ Qua戈, … – Bộ thủ ở bên ngoài: Trong chữ 同, bộ Quynh (冂) bao bên ngoài, trong chữ 问 thì bộ Môn (门) cũng nằm bao bên ngoài,… các bộ thủ thường nằm bên ngoài: bộ Quynh (冂),bộ Môn (门), bộ Vi (囗),…

Học bộ thủ quả hình ảnh: Tiếng Trung thuộc loại chữ tượng hình nên việc học các chữ qua những hình ảnh tương quan tương đồng với chữ hay tương đồng với ý nghĩa của chữ là khá phổ biến. Việc học chữ qua hình ảnh sẽ giúp cho người học nhớ được nhanh hơn, nhớ được lâu hơn. Ví dụ ta có thể học các bộ thủ bộ Mộc, bộ Thủy, bộ Kim, bộ Hỏa, bộ Thổ qua các hình ảnh bên dưới

Học bộ thủ qua thơ: Chúng ta cũng có thể học các bộ thủ qua bài thơ diễn thủ ca. Để tải toàn bộ bài thơ 214 bộ thủ các bạn vào link https://goo.gl/zMG16m. Tiếng Trung Ánh Dương giới thiệu sơ lược với các bạn 10 câu đầu tiên trong bài thơ về 214 bộ thủ tiếng Trung

1. MỘC (木) – cây, THỦY (水) – nước, KIM (金) – vàng 2. HỎA (火) – lửa, THỔ (土) – đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) – trời 3. XUYÊN (川) – sông, SƠN (山) – núi, PHỤ (阜) – đồi 4. TỬ (子) – con, PHỤ (父) – bố, NHÂN (人) – người, SỸ (士) – quan 5. MIÊN (宀) – mái nhà, HÁN (厂) – sườn non 6. NGHIỄM (广) – hiên, HỘ (戶) – cửa, cổng – MÔN (門), LÝ (里) – làng 7. CỐC (谷)- thung lũng, HUYỆT (穴)- cái hang 8. TỊCH (夕) – khuya, THẦN (辰) – sớm (4), Dê – dương (羊), HỔ (虍) – hùm 9. NGÕA (瓦) – ngói đất, PHẪU (缶) – sành nung 10. Ruộng – ĐIỀN (田), thôn – ẤP 邑 (5), què – UÔNG (尢), LÃO (老) – già

214 Bộ Thủ Chữ Hán

214 bộ thủ chữ Hán – nhớ nhanh bộ thủ tiếng Trung qua thơ. Hôm nay thầy Phạm Dương Châu gửi tới các bạn cách học từ vựng tiếng Trung – cách nhớ chữ Hán qua thơ rất nhanh sau 24h đồng hồ, bạn có thẻ nhớ hết 214 bộ thủ trong tiếng Hán

214 bộ thủ tiếng Trung

Ghi chú : Những chữ viết Hoa là âm Hán việt, những chữ viết thường là nghĩa. Vd: Mộc 木 – cây, tức là chữ Mộc 木 nghĩa là cây cối.(Thực ra mộc là gỗ) THỦY 水 – nước, tức là chữ THỦY 水 có nghĩa là nước. v.v…

Giải thích : 1,2: nói đủ thất diệu (mặt trăng, mặt trời và 5 ngôi sao trong hệ mặt trời Kim, mộc , thuỷ, hoả , thổ)-tức là nói về Thiên. 3,4: nói về Địa và Nhân (các thứ trên mặt đất, và các dạng người) 5,6: những khái niệm do con người tạo ra, sử dụng, cư trú. 7,8: nói về thời hồng hoang, ở trong hang núi, bắt đầu có khái niệm về buổi sáng , buổi tối, cũng như thiên địch (hổ) và thức ăn (dê). Người TQ cổ đại nuôi dê rất sớm. thực ra Dương = cừu. 9,10: 2 câu cuối nói về thời kỳ đã tìm ra lửa, biết nung ngói. nung gốm sứ. Làm ruộng, đời sống con người tốt hơn, nâng cao tuổi thọ, nên có chữ Lão = người già.

Phụ chú : (1).Phụ nghĩa gốc là quả đồi đất, thường dùng trong các chữ Hán chỉ địa danh. (2).Sỹ là người có học, ở đây vì bắt vần, nên tôi cho Sỹ = quan lại. Vì chỉ có người có học mới có thể làm quan. (3)Hán nghĩa gốc là chỗ sườn núi(non) rộng rãi, dùng để làm nơi sản xuất, vì vậy mà người ta mới lấy nó làm chữ Chang3(công xưởng) (4).Chữ Thần nghĩa là Thìn (1 trong 12 con giáp),cũng có nghĩa là ngày giờ (vd: cát nhật lương thần = ngày lành giờ tốt).Cổ văn dùng giống như chữ 晨 là buổi sớm, ở đây vì bắt vần, tôi cho Thần = buổi sớm. (5).Chữ Ấp nghĩa là đất vua ban, nhưng người vn ở miền nam thường dùng chữ Ấp với nghĩa là 1 khu vực, 1 thôn làng, vì vậy tôi cho thôn = Ấp.

Giải thích : 11,12: nói về các động tác của con người (chân và tay) 13: nói đến loài chim 14: có tính biền ngẫu : Túc, Diện, Thủ, Hiệt- Thủ

Phụ chú : (1)Hai bộ Dẫn, Sước có ý nghĩa rất rộng, thường chỉ về hành động, đặcbiệt là sự đi lại, ở đây tôi tạm dịch Dẫn=đi trong phạm vi gần, Sước=đi trong phạm vi xa. (Cũng là để cho bắt vần) (2) Bao = bao bọc, ôm ấp,bao che. Nên tôi viết Bao = ôm. Bỉ = sosánh. Bộ Củng có nghĩa là 2 tay chắp lại để nâng 1 vật nào đó , hoặcchắp tay lại. (Cổ văn vẽ bộ Củng là hình 2 bàn tay) (3) Bộ Hiệt vẽ cái đầu người . Chú ý phân biệt với bộ Thủ(vẽ đầu con thú, nghĩa gốc Thủ= đầu con thú- Lý Lạc Nghị) (4) Bộ Tiêu nghĩa là tóc dài, các chữ chỉ về râu tóc thường có bộnày. Bộ Nhi vốn là 1 chữ tượng hình, vẽ chòm râu dưới cằm (Lý LạcNghị). Sau này người ta giả tá (mượn chữ Nhi này để chỉ 1 nghĩa khác).Cho nên ngày nay bộ Nhi trở thành 1 hư tự trong tiếng Hán.Trong 1 vàichữ Hán có chứa bộ Nhi, bộ Nhi vẫn mang ý nghĩa là râu cằm. 耐 (nhẫn nại, bị nhổ râu,đau, phải nhẫn nại), 耍 (chơi đùa, đàn bà vốn ko có râu, thế mà bộ Nữ lại đi với bộ Nhi(râu). (5) Bộ Dực = cọc buộc mũi tên, hoặc súc vật. Ở đây tôi dịch là cọc buộc trâu, cũng chỉ là để liên tưởng mà thôi. Bộ Kỷ cũng là vẽ 1 sợi dây thừng(Lý Lạc Nghị) sau đó, người ta cũng giảtá nó làm 1 trong 10 thiên can. (vd: năm Kỷ mùi).Và còn giả tá làmnghĩa Kỷ= tôi, bản thân, mình.Nghĩa gốc của chữ Kỷ 己là chữ Kỷ 紀. Người nguyên thủy ghi nhớ bằng cách lấy 1 sợi dây thừng thắt lại nhiều nút. Mỗi nút là 1 sự kiện. (6) 芝麻 Nghĩa là Vừng(hoặc Mè trongtiếng miền nam).Người miền nam VN gọi vừng là Mè vì họ bắt chước cách đọc chữ zhima của người Quảng đông.Bộ Ma còn có nghĩa là cây gai v.v

50. Tường (爿) giường, Suyễn (舛) dẫm, Phiến (片) tờ, Vi (韋) vây (10)

Giải thích: 1. Thực (食) là đồ ăn, bởi vì ăn uống mà con người tranh giành (đấu, đánh nhau). Bộ Thực gồm Nhân (人) và Lương (良, nghĩa gốc là lương thực). Bộ Đấu có 2 chữ Vương (王 vua), có thể coi như 2 ông vua vác cây mâu đến gần để đánh nhau. 2. Đánh nhau thì phải dùng đến vũ khí nên có : Thỉ (矢) là mũi tên, Cung (弓) là cái cung (để bắt vần, nên gọi là Nỏ), Mâu (矛), cái mâu (vũ khí của Trương Phi là cái Bát xà mâu), Qua (戈) là cái đòng, 1 thứ vũ khí cổ xưa (Truyện kiều có câu : Vác Đòng chật sân). 3. Đánh nhau thì máu đổ xương rơi nên có bộ Đãi (歹) là xương tàn, Huyết (血) là máu, và Tâm là tim (心), tấm lòng (luôn đi cùng với chữ Huyết). 4. Đánh nhau thì có kẻ còn sống, giữ được Thân (身), kẻ bỏ xác (bộ Thi 尸), kẻ làm vua thì có Đỉnh (鼎) tượng trưng thân phận (như cửu đỉnh ở Huế), có nồi to (Cách 鬲, cái nồi rất lớn). 5. Kẻ thua trận phải thần phục làm bề tôi (bộ Thần 臣), bề tôi thì luôn luôn thiếu thốn hơn chủ, thiếu sót (bộ Khiếm欠) 6. Câu này chuyển ngoặt, khuyên răn bề tôi, chớ làm điều phi pháp (Vô 毋, Phi 非) và nói về động vật Mãnh (黽, con baba). 7. Tiếp theo nói về động vật, Nhữu (禸) là vết chân thú, Thiệt (舌) là lưỡi, và Cách (革) là da thú đã thuộc, có thể làm giày, quần áo, túi v.v… là nguyên liệu làm vật dụng. 8. Tiếp đến là các loài ngũ cốc. Mạch (麥) chính là lúa mạch, gồm chữ Mộc (木) và 2 chữ Nhân (人tượng trưng cho 2 bông lúa mạch) và bên dưới vẽ rễ cây lúa mạch. 木+人+人+夂. Bộ Hòa (禾) gồm bộ Mộc 木 thêm 1 phết bên trên ngụ ý bông lúa gạo. Bộ Thử (黍) gồm bộ Hòa (禾) ngụ ý cây lúa. Bộ Nhân人 tượng hình vỏ trái bắp ngô, bên dưới vẽ 1 cái lõi bắp ngô, và 4 hạt bắp ngô. (氺 giống bộ Thủy nhưng không có nghĩa là nước 水)。 9. Tiểu (小) nhỏ, Đại (大) to, là nói đến những bộ có nghĩa đối nhau. 10. Tiếp theo sẽ là Tường đối ngược dạng chữ với Phiến (片). Tường vẽ cái giường (chữ Sàng, giường có bộ tường. 牀 = 床). Quay bộ Tường 90 độ theo chiều ngược kim đồng hồ, sẽ thấy hình dạng cái giường. Bộ Phiến (片) ngược với bộ Tường (爿), nghĩa là mỏng (như tờ giấy, nên tôi tạm dịch Phiến là tờ). Bộ Suyễn (舛) vẽ 2 bàn chân dẫm trên mặt đất, nhưng vì thời gian dài biến đổi tự dạng, nên khó mà nhận ra 2 bàn chân. (bạn có thể thấy nó trong chữ Vũ 舞 là múa). Bộ Vi (韋) ở giữa có 1 chữ Khẩu tượng trưng cho 1 tòa thành. Bên trên bên dưới vẽ 2 bàn chân đang đi vòng quanh tòa thành (ngụ ý bao vây). Tương tự bộ Suyễn (舛), tự dạng biến đổi nhiều, ta khó nhận ra được. ( nguồn Lý Lạc Nghị – bộ Vi, bộ Suyễn)

Giải thích : 1. Bộ Trỉ (夂) vẽ hình 1 cái bàn chân đang đi xuống. Vd : a) Giáng 降 gồm các tổ hợp nét : 阝(phụ : đồi cao), 夂 (trỉ : bàn chân), ヰcũng là hình vẽ của 1 bàn chân. Một quả đồi (阝, phụ) và 2 bàn chân đi từ trên đồi xuống thì có nghĩa là “Giáng” (đi xuống). (Hình vẽ 2 bàn chân bên phải đã trải qua hàng nghìn năm biến đổi tự dạng, nên hơi khó nhận ra, bạn nào muốn coi diễn biến của hình vẽ này, xin tìm nguồn tư liệu “汉字演变五百例” của 李乐毅) . b) Phùng 逢 : Gồm bộ 辶 (Sước), 夂 (Trỉ), 丰(Phong). Ban đầu viết như thế này 夆 (phong), Phùng nghĩa là gặp gỡ, muốn gặp được thì phải đi tới (bộ Trỉ, bàn chân) bên dưới là chữ Phong chỉ âm đọc, Phong biến âm thành “Phung” rồi “Phùng”. Sau đó người ta thêm bộ Sước vào cho rõ nghĩa hơn. (Sước là đi xa, ngụ ý hành động). Bộ Tuy (夊) trông rất giống bộ Trỉ (夂), nên đôi khi người học dễ bị nhầm lẫn. Nhưng bạn chỉ cần để ý 1 chút là sẽ phân biệt được. Vd : Chữ 麥 = 木+人+人+夊 . Chữ Mạch là cây lúa mạch, nên có chữ Mộc chỉ cây, hai chữ Nhân là vẽ 2 bông lúa nặng trĩu, bên dưới vẽ rễ cây lúa mạch.

2. Chữ Tự (自) ban đầu chính là vẽ cái mũi. Sau đó người ta mượn chữ “Mũi” này để chỉ nghĩa Tự như “Tự mình”. Vì vậy cần phải tạo ra 1 chữ khác chỉ cái mũi, chính là chữ Tỵ. (âm đọc cổ của chữ Tự 自 và Tỵ 鼻 gần giống nhau) 鼻(Tỵ) = 自 (tự) + 畀(tý). Chữ Tỵ = mũi được tạo mới là 1 chữ Hình thanh (bộ Tự bên trên chỉ nghĩa, chữ Tý bên dưới chỉ âm đọc) 畀Tý ghép bởi hai tổ hợp nét là 田(điền) và 廾(Củng). Tý nghĩa là đem cho. Bên trên vẽ bộ Điền 田, tượng trưng 1 gói quà, ta có thể coi như 1 chiếc bánh chưng cho dễ nhớ. Bên dưới vẽ hai bàn tay (bộ Củng 廾vẽ hai bàn tay chắp lại nâng một vật). Ngụ ý, đem quà đi tặng. Bộ Nhĩ (耳) vẽ cái tai. Đã bị biến đổi tự dạng rất nhiều Bộ Thủ (首)vẽ đầu con thú, có 2 sừng phía trên, khá giống đầu 1 con vật có sừng. Chú ý phân biệt với bộ Hiệt (頁, câu 14) vẽ đầu người, không có 2 sừng bên trên.

3. Bộ Thanh (青) nghĩa là màu xanh, ghép từ hai tổ hợp nét 生 và 丹. Chữ Hán cổ viết bên trên là Sinh (Sanh) chỉ âm đọc (Ghi chú : âm đọc Hán cổ và âm Hán hiện đại khác nhau, có lẽ thời cổ đại, chữ Sinh và chữ Thanh có âm đọc tương đối giống nhau). Bên dưới là Đan chỉ màu đỏ, ngụ ý màu xanh luôn đi đôi với màu đỏ, nay viết thành chữ nguyệt 月. Bộ Thảo (艹) vẽ 2 ngọn cỏ, cổ văn (艸) và hiện nay (艹) đều dễ dàng nhận ra điều đó. Bộ Sắc (色) trong màu sắc, vẽ con Kỳ nhông đuôi dài, 2 nét trên cùng là cái đầu con kỳ nhông, phần ở giữa vẽ cái thân con kỳ nhông, nét cong dưới cùng là cái đuôi con kỳ nhông. Vì con kỳ nhông thường thay đổi màu nhanh chóng, nên người Trung Quốc lấy hình dạng con vật này để chỉ nghĩa màu sắc.

4. Bộ Trĩ (豸, hoặc Sãi, Trãi) vẽ hình 1 con thú đuôi dài, bên trên là cái đầu có mõm nhọn, răng dài. có thể phân ra thành : – Đầu con thú tượng hình bằng bộ nguyệt viết nghiêng – Lưng và đuôi con thú là nét cong bao bên ngoài – 4 chân con thú tượng hình bằng 2 nét cong bên trong (vì đây là hình vẽ con thú nhìn nghiêng) Những loài thú dữ có xương sống thường dùng bộ Trĩ này để chỉ ý. Vd : 豹,豺,豼,貇,貅 Bộ Kệ (彑) vẽ cái đầu con heo, có mõm dài, rất khó nhận ra, nhưng ta có thể thấy tàn dư của nó trong các chữ Hán đang dùng ngày nay : 彖 [tuàn], âm Hán Việt là thoán, vốn là 1 loài heo rừng, sau mượn dùng làm chữ Soán trong kinh dịch.

5. Bộ Thử (鼠) là con chuột, cổ văn vẽ hình 1 con chuột, sau đó diễn biến thành chữ như ngày nay. Nếu bạn lấy chữ Thử tiểu triện quay ngược kim đồng hồ 90 độ, sẽ thấy khá giống 1 con chuột đang bò 鼠. hiện nay, muốn nhớ được chữ này, bạn có thể nhớ theo cách sau : Thử thuộc bộ Cữu (臼 cối xay gạo). Con chuột “xay” gạo cũng khá dữ dội, cho nên lấy bộ Cữu (臼) tượng trưng cho cái đầu của nó. Phần bên dưới vẽ 3 nét dài 4 nét ngắn. 3 nét dài tượng trưng cho mình và đuôi con chuột, 4 nét ngắn tượng trưng cho 4 chân. Học tiếng Trung qua bài hát có thể giúp bạn nghe tiếng Trung tốt hơn.

6. Bộ Hương (香) nghĩa là thơm, bên trên viết bộ Hòa (禾cây lúa), bên dưới viết bộ Cam (甘 nghĩa là ngọt ngào, sau biến thành chữ Viết 曰). Gộp 2 ý lại thành mùi bông lúa chín ngọt ngào và thơm tho. 香 = 禾 + 甘 = 禾 + 曰 Bộ Mễ (米) vẽ hình 1 bông lúa, sau có nghĩa là gạo. Trông hình dạng chữ khá giống bông lúa. Những chữ Hán có chứa bộ Mễ (米) thường chỉ về các loại hạt, hạt nhỏ, thậm chí nhỏ đến mức không nhìn thấy vd : 精, 氣 Bộ Triệt (屮) vẽ 1 ngọn cỏ, tượng trưng cho loài rêu, bộ này ít dùng. Bộ Dụng (用) vẽ hình 1 quả chuông (không có núm). Người xưa đặt nó trên bàn làm việc, khi cần “DÙNG” đến lính hầu, người ở thì dùng tay nắm lấy lắc cho kêu. do vậy mà người TQ vẽ cái chuông này để chỉ nghĩa Dùng, sử dụng.

7. Bộ Đấu (斗) vẽ hình 1 cái đấu đong gạo. Người TQ cổ đại đong bằng đấu. Ở miền bắc vẫn dùng đơn vị “đấu” để đong gạo cho đến tận nhưng năm 80 của thế kỷ 20.

8. Bộ Can (干) là cái lá chắn, họăc là dụng cụ dùng để dựng giáo mác thời xưa. Nay đã biến đổi dạng chữ, khó nhận ra, tuy nhiên nó cũng rất đơn giản, chỉ có 3 nét, nên cũng khá dễ nhớ. Bộ Công (工) vẽ hình cái thước thợ (giống như thước kẹp thợ sắt ngày nay) 1 dụng cụ để lấy góc vuông của người thợ Trung quốc cổ đại. Nếu bạn nào có chuyên môn về xây dựng sẽ dễ dàng hình dung ra hơn.

9. Bộ Thị (示) vẽ hình 1 cái bàn thờ thời tiền sử (họ dùng 1 mặt đá làm mặt bàn, chụm 3 khúc gỗ làm chân), nên bộ Thị hiện nay viết : Nét trên cùng là thức ăn cúng tế, nét ngang thứ 2 là mặt bàn thờ, 3 nét có chiều thẳng là vẽ chân bàn. bộ Thị hiện có 2 cách viết được chấp nhận : 示, 礻 như : 福,社,祭,。。。

10. Bộ Ngọc (玉) vẽ 1 chuỗi ngọc, cổ văn viết chữ Ngọc玉 và chữ Vương 王 giống nhau, sau này người ta mới thêm 1 chấm nhỏ vào bộ Ngọc để phân biệt với chữ Vương. Rất nhiều người học chữ Hán thường nhầm là bộ “Vương”. Thực ra, không hề có bộ Vương, chỉ có bộ Ngọc, bộ ngọc khi nằm trong các chữ Hán phức tạp, có hình dạng của chữ Vương. Vd : 珍珠, 琥珀, 玻璃, … Bộ Bối (貝) vẽ hình cái vỏ sò, hai nét dưới cùng là hai cái khớp trên vỏ con sò biển. Người Trung quốc cổ đại trao đổi hàng hóa bằng vỏ sò, họ dùng vỏ sò thay thế tiền. Do vậy, Bối có nghĩa mở rộng là tiền bạc, đồ quý hiếm, của báu. Vd trong tiếng việt : Bảo bối, Qua 1 thời gian dài biến hình, bộ Bối khó nhận ra được hình dạng vỏ sò, nhưng nó thường nằm trong các chữ chỉ về tiền bạc, 貴賤 quý tiện, 買賣mua bán, 賠償bồi thường v.v

Giải thích : 61, 62: vẫn tiếp tục nói đến bàn thờ, và các thứ đặt trên bàn thờ : Đậu (豆) là bát đựng đồ thờ, Sưởng (鬯) là rượu cúng, dậu (酉) là vò rượu, y (衣) là áo (giấy), cân (巾) là khăn (giấy), đều là cá thứ dùng để cúng tế.

Giải thích : 71. Câu 70 nói về duật (聿) là bút, nên câu tiếp theo 71 này nói về văn, chữ viết.