Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Dân Tộc Giẻ Triêng (Hoàng Minh Thái)

Tổng số dân: 30.243 (1999)

Khu vực có số dân đáng kể: Kon Tum, Quảng Nam Việt Nam

Ngôn ngữ: Tiếng Giẻ Triêng, tiếng Việt, khác

Tôn giáo: Tín ngưỡng dân gian

Dân tộc Giẻ Triêng là người dân một dân tộc nhỏ, với số dân khoảng 30.000 người[1], sinh sống chủ yếu tại tỉnh Kon Tum, vùng miền núi tỉnh Quảng Nam (trên 99,2%). Người Giẻ Triêng nói bằng ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Dân tộc Giẻ Triêng còn biết qua các tên: Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang. Có thể cùng là một dân tộc với người Talieng tạiLào.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Giẻ Triêng ở Việt Nam có dân số 50.962 người, cư trú tại 29 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Giẻ Triêng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (32.644 người, chiếm 62,1% tổng số người Giẻ Triêng tại Việt Nam), Quảng Nam (19.007 người, chiếm 37,3% tổng số người Giẻ Triêng tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Đắk Lắk (78 người) và một số ít ở các tỉnh khác[2].

Dân tộc Giẻ Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy. Ngoài ra học còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả, nấm… làm thức ăn hàng ngày. Người Giẻ Triêng còn nuôi trâu, bò, lợn, gà nhưng chủ yếu chỉ dùng vào lễ hiến sinh.

Mỗi người dân tộc Giẻ Triêng (trừ nhóm Bnoong) đều có họ kèm theo tên, nhưng họ của đàn ông khác với họ của đàn bà. Mỗi họ đều có việc kiêng kỵ, một truyện cổ giải thích về tên họ và điều kiêng kỵ đó. Xưa kia, con trai theo họ bố, con gái theo họ mẹ.

Theo tục lệ cũ, con trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông, khoảng 13-15 tuổi thì cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con cái được cha mẹ tôn trọng. Trước khi lập gia đình, con trai phải biết đan lát, biết tấu chiêng cồng, các cô gái phải thạo đan chiếu, dệt vải (ở những vùng có nghề dệt). Cô gái phải chuẩn bị đủ 100 bó củi đẹp để nộp cho nhà trai trong lễ cưới. Sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ phải sống và luân phiên chuyển nhà từ nhà cha mẹ vợ sang nhà cha mẹ chồng, và ngược lại cứ ba đến bốn năm một lần, cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới định cư một chỗ.

Dân tộc Giẻ Triêng khi chết được chôn trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu, huyệt đào rất nông, đưa đám tang chỉ có vài người nhà và sau một thời gian thì làm lễ bỏ mả để đoạn tang.

Dân tộc Giẻ Triêng ở nhà sàn dài, nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa. Thường thì các nhà trong làng được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông. Khác với nhà rông của một số dân tộc khác, nhà sàn Giẻ Triêng được hành lang chạy dọc chia đôi: một nửa dành cho nam giới, nửa kia dành cho phụ nữ.

Hiện nay, dân tộc Giẻ Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau. Những nhà này cũng có những đặc trưng đáng quan tâm: nhà sàn mái hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu.

Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối chữ nhất trên đầu. Thân ở trần hoặc mặc tấm áo, khoác ngoài chéo qua vai, màu chàm có các sọc trang trí. Họ mang khố khổ hẹp, dài không có tua, thân và các mép khố được viền và trang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm. Nam cũng đeo vòng cổ, vòng ngoài khố mang chuỗi hạt vòng. Trong các dịp tết lễ, họ mang thêm tấm choàng rộng màu chàm, có các sắc màu trang trí phủ kín thân.

Phụ nữ Giẻ Triêng để tóc dài, quấn sau gáy. Họ không mặc áo mà mang loại váy dài, cao sát nách. Đây là loại váy ống tương đối dài rộng. Đầu váy, giữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm. Lối mặc có tính chất vừa váy, vừa áo này là một đặc điểm rất khác biệt của phụ nữ Gié Triêng, ít gặp ở các dân tộc khác từ Bắc vào Nam. Đây cũng là một lý do trang phục Giẻ Triêng được chọn vào “Làng văn hóa các dân tộc”. Lối mặc váy, đặc biệt là quấn mép ra trước giữa thân, đầu váy còn thừa (váy loại này thường dài – cao gấp rưỡi váy bình thường), lộn ngược ra phía trước hoặc quấn thành nhiều nếp gấp ra xung quanh trông như một chiếc áo ngắn. Phụ nữ còn mang vòng tay vòng cổ.

Trang phục Giẻ Triêng là đặc điểm riêng, cùng với một số dân tộc khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên có giá trị quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử trang phục ở Việt Nam.

Hoàng Minh Thái (sưu tầm)

Share : Dân tộc Giẻ Triêng (Hoàng Minh Thái)

Dân tộc Giẻ Triêng (Hoàng Minh Thái)

Oleh quang pham

Mc Tiệc Cưới, Học Làm Mc Đám Cưới, Video Đám Cưới Hay Nhất: Nhạc Cụ Của Dân Tộc Giẻ Triêng (Nhóm Triêng) Tại Tỉnh Kon Tum (Đàm Thị Lượng)

Người Giẻ-Triêng còn có các tên gọi khác: Đgiéh, Ta reh, Giảng rây, Pin, Triêng, Treng, Ta liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca yang. Truyền thống âm nhạc của người Triêng khá đa dạng, thông qua các làn điệu dân ca như: Dư chầu (hát ru), Tam prai (hát trong khi dệt vải), Nêng rẹt (hát trong đám cưới). Do đó, các nhạc cụ của người Triêng cũng rất độc đáo và giàu có. Để giúp các bạn hiểu hơn về đời sống âm nhạc của các dân tộc ít người tại tỉnh Kon Tum.

Nhạc cụ của người Triêng khá đa dạng, gồm có nhạc cụ màng rung (trống H’gơr, pa thân), nhạc cụ hơi (gor, đơl đô, ta lun, ta lin, brưl, ta lẹh, đinh tút, khèn, ka jol), nhạc cụ tự thân vang (chiêng, lột, rinh) và nhạc cụ dây (m’bin, m’bin puil, ong eng).

H’gơr là một cặp trống khá lớn. Thân trống được làm từ một khúc gỗ liền có chiều dài 101cm, ở giữa phình to và thuôn nhỏ về hai đầu. Mặt lớn được bưng bằng da bò, có đường kính là 33cm; mặt nhỏ được bưng bằng da sơn dương, có đường kính là 30cm. Dọc theo tang trống, người ta sử dụng dây mây để giữ căng hai mặt da của trống. Trước khi chơi, người ta hơ mặt trống vào lửa để điều chỉnh cao độ của 2 mặt trống. Hai mặt của một trống thường được chỉnh âm cách nhau khoảng một quãng 5 và hai trống đó có cao độ khác nhau khoảng một quãng 2. Cụ thể cao độ của hai trống sau khi đã chỉnh âm là: C – G và D – A (cao độ này có thể hơi non hoặc hơi già một chút, bởi vì khi vừa hơ lửa thì mặt trống căng lên và để càng lâu thì mặt trống càng trùng đi). Như vậy, người Triêng đã không chỉ sử dụng trống đơn giản như một nhạc cụ đệm tiết tấu mà họ còn quan tâm đến cao độ của nhạc cụ này. Dùi trống được làm bằng gỗ, đầu gõ có bọc vải để tạo cho âm sắc ấm hơn, chiều dài của dùi trống là 45cm.

Khi diễn tấu, trống được treo trên xà nhà rông. Mỗi người sử dụng một trống, một tay giữ, một tay dùng dùi gõ. Âm thanh của h’gơr rất mạnh mẽ, có khả năng vang vọng khắp núi rừng. H’gơr là nhạc cụ kiêng kỵ, chỉ được sử dụng khi có lễ hội, do nam giới sử dụng và không bao giờ mang ra khỏi nhà rông.

Pa thân là loại trống hai mặt làm bằng da bò, có đường kính 23cm. Tang trống được làm bằng một khúc gỗ liền dài 65cm, ở giữa phình to và thuôn nhỏ về phía hai đầu. Dọc theo tang trống, người ta sử dụng dây mây để giữ căng hai mặt da của trống. Khi diễn tấu, trống đươc đặt ngang trước bụng ở dưới rốn, có dây đeo qua gáy và dùng hai bàn tay để vỗ vào hai mặt trống. Pa thân là nhạc cụ dùng cho nam giới và thường được dùng để hòa tấu với dàn chiêng, để đệm cho múa trong các dịp vui của cộng đồng.

Gor là nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Gor được làm bằng một ống nứa nhỏ có đường kính lòng ống là 1,2cm, có chiều dài là 96cm, một đầu rỗng, một đầu rỗng, một đầu có mấu. Ở đầu có mấu, người ta khoét một lỗ thổi hình chữ nhật và có gắn lưỡi gà làm bằng tre. Trên thân sáo chỉ có một lỗ bấm nằm cách đuôi sáo 20cm. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng độc tấu trong sinh hoạt hàng ngày.

Đơl đô là loại sáo thổi ngang, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài khoảng 90cm, hai đầu rỗng và chỉ có một lỗ thổi nằm ở giữa thân sáo. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh bằng cách dùng lòng bàn tay phải bịt mở ở một đầu ống để tạo ra những cao độ khác nhau. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng độc tấu trong sinh hoạt hàng ngày.

Ta lun là loại sáo thổi dọc, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài 64cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Trên thân sáo có 3 lỗ bấm tạo cao độ. Thang âm của ta lun: c1 (non) – d1 – es1 – f1 – g1 – c2. Ta lun là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng. Nó có thể được dùng để độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát.

Ta lin là loại sáo thổi dọc, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài 26cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Trên thân sáo có 4 lỗ bấm tạo cao độ. Thang âm của ta lun: d2 (non) – f2 – g2 – h2(non) – des3. Ta lun là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng. Nó có thể được dùng ddeeer độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát.

Ta lẹh là loại sáo thổi ngang và chỉ có một lỗ thổi nằm ở giữa thân sáo. Ta lẹh được chế tác từ một ống nứa dài khoảng 70cm, hai đầu đều rỗng. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh ở một đầu bằng cách dùng lòng bàn tay phải bịt mở đầu ống để tạo những cao độ khác nhau. Ta lẹh là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để độc tấu, đệm cho hát trong sinh hoạt hàng ngày hoặc trong những ngày lễ, ngày vui của gia đình cộng đồng.

Đinh tút là nhạc cụ hời thổi gồm 6 ống nứa dài ngắn khác nhau, mỗi ống cho một cao độ. Chiều dài các ống từ 60 – 105cm, đường kính khoảng 3cm. Các ống đinh tút có cấu tạo khá đơn giản, một đầu rỗng để thổi và một đầu có mấu kín. Đầu thổi được khoét vát hai bên tạo thành hình bán nguyệt để khi diễn tấu môi dưới của người thổi ôm khít vào một bên miệng ống. Để chơi đinh tút cần phải có 6 người, mỗi người thổi một ống. Đinh tút là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng.

Khêl là nhạc cụ hơi thổi, chi lưỡi gà rung tự do (nhạc cụ này có cấu tạo tương tự như khèn bè của người Thái). Nhạc cụ này gồm 14 ống nứa tép ghép thành hai hàng song song. Các cặp ống song song có chiều dài bằng nhau. ở các đoạn ống nứa nằm phía trong của bầu thổi có gắn một lưỡi gà bằng đồng. Lỗ bấm tạo âm thanh được khét gần chỗ bầu thổi, sao cho phù hợp với vị trí ngón tay của người diễn tấu. Sau khi xuyên qua các ống qua bầu thổi bằng gỗ, người ta lấy sáp ong đen miết kín các kẽ hở. Khi diễn tấu, mỗi bàn tay ôm vào một bên hàng ống, hai ngón cái của hai tay đảm nhiệm lỗ bấm của hai ống dài nhất, ngón tay tiếp theo ống ngắn hơn và ngón út ống ngắn nhất. Khêl là loại nhạc cụ đa thanh, âm vực hơn một quãng 8, kỹ thuật diễn tấu linh hoạt. Khêl là nhạc cụ dành cho nam giới sư rdungj. Nó được dùng để độc tấu, hòa tấu và đệm cho hát.

Ka jơl là nhạc khí hơi thổi, chi lưỡi gà rung tự do. Ka jơi được làm bằng sừng sơn dương có chiều dài khoảng 15m, một đầu hở. Lưỡi gà được làm bằng tre và gắn ở vị trí ¼ về phía đầu nhỏ của chiếc sừng. Khi trình diễn, người ta đặt ka jơi ngang miệng và ngậm vào nơi đặt lưỡi gà, tay trái giữ sáo, tay phải vỗ nhẹ vào miệng sừng tạo ra những âm thanh có cao độ khác nhau. Đặc điểm của ka jơi là âm thanh chỉ được phát ra khi hít hơi vào. Ka jơl là một loại nhạc khí mang tính chất truyền tin. Khi đi săn thú rừng, người Triêng vừa thổi ka jơi vừa chạy từ rừng về làng báo tin. Tiếng ka jơi vang vọng gọi cả làng đi đón thú rừng.

Dàn chiêng gồm có 3 chiếc chiêng bằng (không núm), làm bằng đồng. Pặp (chiêng bố) là chiếc chiêng to nhất có đường kính 49cm, thành cao 8,5cm; Nê (chiêng mẹ) có đường kính 35cm, thành cao 5,5cm; Kon (chiêng con) là chiếc chiêng nhỏ nhất có đường kính 28,5cm, thành cao 4cm. Thang âm của dàn chiêng: C (non) – H – ges1 (non). Trong lễ hội, dàn chiêng thường đi trước đội soang (múa), khi đi vòng quanh cây nêu.

Rinh là nhạc cụ gõ bằng nứa. Rinh được chế tác từ một ống nứa, một đầu có mấu kín, một đầu hở, có chiều dài khoảng 65cm. Sau đó người ta gọt vát từ khoảng giữa của ống về phía đầu hở để điều chỉnh âm thanh, sao cho cao độ của thành ống bằng cao độ của phần ống hơi còn lại để tạo cho âm thanh vang xa. Khi hòa tấu cùng với dàn chiêng trên, cao độ của rinh là nốt e1.

Ong eng là nhạc cụ dây, chi cung kéo. Về hình thức ong eng cáu tạo tương tự như đàn nhị của người Kinh nhưng chỉ có một dây bằng sắt. Cần đàn là một đoạn tre nhỏ có đường kính khoảng 2,5cm, dài 97cm. Hộp cộng hưởng được làm từ một ống tre dài 12cm, đường kính khoảng 8cm, mặt đàn bịt bằng da ếch, Cần kéo đơn giản là một thanh tre vót mỏng. Khi diễn tấu, người chơi ong eng ngồi bệt dưới đất, dùng ngón cái và ngón trỏ bàn chân phải kẹp vào phía sau của hộp cộng hưởng để giữ hộp đàn, tay phải kéo, tay trái vừa giữ đàn vừa vuốt vào dây đàn để điều chỉnh cao độ. Ong eng có thể được dùng để độc tấu, hòa tấu cùng với đang M’bin puil hoặc đệm cho hát.

M’bin là nhạc cụ dây gẩy. Nhạc cụ này có hai dây sắt được lên dây cách nhau một quãng 5 (c1 – g1). Hộp cộng hưởng của m’bin hình chữ nhật được khoét rỗng từ một khúc gỗ, chiều dài 28cm, rộng 16cm. Mặt đàn được ghép bởi một miếng gỗ mỏng khác, mặt sau hộp cộng hưởng có khoét lỗ để thoát âm. Cần đàn m’bin cũng làm bằng gỗ, dài 44cm. Đây là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để hòa tấu với các nhạc cụ khác hoặc đệm cho hát, múa.

M’bin puil là nhạc cụ dây, chi gẩy. Nhạc cụ có hai dây bằng sắt, lên dây cách nhau một quãng 5 (e1 – h1). Ở phía dưới của dây lên nốt h1 có gắn thêm 2 phím bấm để tạo thêm 2 cao độ là: d2 (già) và e2 (non). Thân đàn là một ống tre nhỏ dài 70cm. Hộp cộng hưởng được làm từ vỏ của một quả bầu khô ( puil) cắt bỏ đi phần nậm, sau đó họ buộc phần đáy của quả bầu vào thân đàn. Khi diễn tấu, phần miệng quả bầu được úp vào bụng của người chơi và với động tác khép mở miệng quả bầu vào thành bụng để tạo ra những sắc thái khác nhau. Ngón trỏ tay pải dùng để gảy đàn, tay trái vừa giữ cần đàn vừa bấm phím. M’bin puil là nhạc cục dành cho nam giới sử dụng, dùng để hòa tấu cùng các nhạc cụ khác hoặc đệm cho hát, múa.

Đàm Thị Lượng (sưu tầm)

Share : Nhạc cụ của dân tộc Giẻ Triêng (nhóm triêng) tại tỉnh Kon Tum (Đàm Thị Lượng)

Nhạc cụ của dân tộc Giẻ Triêng (nhóm triêng) tại tỉnh Kon Tum (Đàm Thị Lượng)

Oleh quang pham

Người Giẻ Triêng Trên Biên Giới Việt

Đi đường bộ Hồ Chí Minh từ Bắc vào hết tỉnh Quảng Nam đến địa phận huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum là bắt đầu đến địa bàn cư trú của người Giẻ Triêng. Cứ thế xuôi về hướng Nam trải dài theo biên giới Việt- Lào đến địa phận huyện Ngọc Hồi chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp làng của người Giẻ Triêng ở ngay hai bên đường và mở rộng lên sát khu vực biên giới.

Ông A Bê, làng Đăk Răng, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, cho biết: “Trước kia dân tộc Giẻ Triêng kiêng cữ nhiều lắm, người chết kiêng cữ, gia đình nào rủi ro cũng kiêng cữ. Thậm chí, nếu có người chết đuối thì chỉ trong gia đình đi chôn. Bây giờ thì xóa bỏ rồi, nhờ bộ đội vào dân vận động giờ xóa bỏ đấy”.

Từ thời điểm năm 1991, khi tỉnh Kon Tum được thành lập lại trên cơ sở chia tách từ tỉnh Gia Lai- Kon Tum, cuộc sống của người Giẻ Triêng ngày càng thay da, đổi thịt. Bước ngoặt thứ hai là khi tuyến đường Hồ Chí Minh được đầu tư hoàn thiện giúp tỉnh Kon Tum phá thế ngõ cụt và tạo thuận lợi vô cùng lớn cho việc giao thương ở vùng người Giẻ Triêng cư trú. Giờ đây bà con không chỉ biết trồng mì, làm lúa rẫy mà đã thành thục trong canh tác lúa nước, trong việc trồng, chăm sóc các loại cây công nghiệp thế mạnh của Tây Nguyên, như cao su, cà phê. Người Giẻ Triêng bây giờ cũng đã không còn phải mới ăn bữa sáng đã phải lo bữa tối, nhà nào cũng có của ăn của để phòng lúc thiên tai mất mùa.

Thiếu tướng Đinh Hồng Đe, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Việt Nam nói: Trong chiến tranh trước đây cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay, người Giẻ Triêng đi theo Đảng, đi theo cách mạng. Bà con một lòng theo Đảng, theo cách mạng. Dân tộc Giẻ Triêng bây giờ tiến bộ nhiều. Lớp trẻ các cháu cũng đã tiến bộ nhiều ở chỗ nhận thức được vấn đề nếu mà không học thì chắc chắn là sẽ lạc hậu cho nên các cháu học hành rất tốt.

Cùng với phát triển kinh tế nâng cao đời sống, người Giẻ Triêng cũng rất có ý thức trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Cùng với sự hỗ trợ của chính quyền và các đoàn thể địa phương, làng Giẻ Triêng nào cũng có nhà Rông truyền thống làm nơi sinh hoạt cộng đồng. Nhiều phong tục, tập quán và lễ hội tốt đẹp được bảo tồn ngay trong cuộc sống hằng ngày của người dân.

Ông Dương Tôn Bảo, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên, cho biết: Trong nét sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Giẻ Triêng vẫn còn giữ được rất nhiều phong tục tập quán, lễ hội tốt đẹp. Tiêu biểu về nhạc cụ truyền thống thì Đinh Tút là một dàn nhạc cụ gồm 6 người nam nhưng lại mặc trang phục giả nữ để trình diễn Đinh Tút hết sức độc đáo.

Với ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc “hòa nhập mà không hòa tan”, song song với việc sử dụng thành thạo tiếng phổ thông, người Giẻ Triêng hiện nay vẫn sử dụng tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me và giữ gìn chữ viết có cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La Tinh.

Cùng với đó trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, bên cạnh những ngôi nhà xây theo lối hiện đại, các vật dụng thời thượng như ô tô, xe máy, tủ lạnh, bếp ga… bà con vẫn yêu quý những ngôi nhà sàn sạch sẽ thoáng mát, trân trọng giữ gìn bếp lửa của ông bà, khéo léo đan những tấm đắp, chiếc gùi; chăm chút cho những bó củi hứa hôn đúng theo truyền thống của người Giẻ Triêng…

Và còn nhiều điều thú vị nữa về dân tộc Giẻ Triêng mà chỉ khi tới tận nơi hòa mình vào cuộc sống hằng ngày của người dân nơi đây, chúng ta mới cảm nhận được đầy đủ.

KHOA ĐIỂM

Dạy Tiếng Dân Tộc Cho Học Sinh Người Dân Tộc

Điện Biên TV – Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc trong đó khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc. Tại huyện Tuần Giáo chương trình dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh đã được triển khai tại 15 trường tiểu học và trung học cơ sở.

Lớp học dạy tiếng Thái cho học sinh tại huyện Tuần Giáo.

Năm 2011, trường PTDTBT Tiểu học Ta Ma là một trong những đơn vị trường học đầu tiên triển khai dạy tiếng Mông theo Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2024.  Chương trình được triển khai từ lớp 3 đến lớp 5, học sinh đã tương đối thuần tiếng phổ thông nên việc nắm bắt kiến thức tiếng Mông khá thuận lợi.

Tuy nhiên, theo thầy giáo Nguyễn Phúc Đồng, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết việc dạy tiếng dân tộc cũng gặp một số khó khăn. ĐÓ là nội dung kiến thức còn hơi nặng với học sinh khối lớp 3 bởi một số phần học sinh hơi khó nhớ và khó hiểu. Do vậy, đề nghị trong thời gian tới Đề án nên giảm tải bớt chương trình cho khối lớp 3.

Chủ động truyền dạy tiếng dân tộc cho học sinh, đội ngũ giáo viên là người dân tộc Thái, dân tộc Mông đã sáng tạo, linh hoạt làm đồ dùng dạy học và sử dụng phù hợp với đặc thù và vùng miền nhằm nâng cao chất lượng truyền thu tiếng dân tộc. Đồng thời lựa chọn lồng ghép giới thiệu văn hóa, phong tục tập quán, các trò chơi dân gian,… của các dân tộc thông qua các chương trình chính khóa, ngoại khóa, các hoạt động tập thể.

Khuyến khích thế hệ trẻ trong đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình là một trong những yếu tố góp phần giữ gìn, bảo tồn, củng cố và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc.

Ông Đỗ Văn Sơn, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Tuần Giáo, cho biết: Năm học 2011 – 2012, khi bắt đầu triển khai Đề án dạy tiếng Thái, tiếng Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011 – 2024, huyện Tuần Giáo chỉ có có 2 trường, 4 lớp và 85 học sinh học tiếng Thái; 1 trường, 2 lớp và 48 học sinh học tiếng Mông. Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thực hiện Đề án quy mô trường, lớp, học sinh học tiếng dân tộc trên địa bàn huyện Tuần Giáo được mở rộng theo từng năm.

Tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc, huyện Tuần Giáo  đang vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học môn tiếng Việt vào dạy tiếng dân tộc; ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; xây dựng đội ngũ quản lý viên chức quản lý chỉ đạo dạy tiếng dân tộc có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, hiểu biết tiếng, chữ viết và văn hóa dân tộc… theo tinh thần Nghị quyết số 03/NQ-TW về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

Việt Hòa/DIENBIENTV.VN  

Độc Đáo Phong Tục Củi Hứa Hôn Của Người Giẻ Triêng

Già A Nghe (86 tuổi) ở làng Dục Nhầy 2, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi (Kon Tum) kể về cái hay, cái đẹp của phong tục củi hứa hôn của người con gái Giẻ Triêng trước khi về nhà chồng như vậy.

Củi hứa hôn của người Giẻ Triêng ở xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Củi tình yêu

Chạy dọc các làng của người Giẻ Triêng ở huyện Ngọc Hồi, hình ảnh dễ bắt gặp với mọi người là những đống củi to, được xẻ, cắt ngắn, che chắn cẩn thận ở quanh nhà sàn của người dân.

Lấy chồng được gần một năm nhưng đống củi mà Y Hạo (20 tuổi) ở làng Dục Nhầy 2 vẫn đẹp. Theo Y Hạo, từ năm 15 tuổi, cô đã được cha mẹ hướng dẫn chuẩn bị củi hứa hôn. Với người con gái Giẻ Triêng củi hứa hôn như thể hiện tấm lòng, tình yêu của người con gái đối với chàng trai được chọn. Mỗi khi đi rẫy, mẹ Y Hạo đều cùng con lên rừng, chỉ từng cây, hướng dẫn từng bước để em có thể chọn những cây rừng đẹp nhất đốn về làm củi hứa hôn. Cây được chọn là cây dẻ, thông đỏ, thẳng, lột sạch vỏ, thân sáng là đẹp nhất. Mỗi cây dài khoảng 80cm.

Ngày về nhà chồng, hơn 100 bó củi hứa hôn của Y Hạo rất đẹp, đều; các khúc củi thẳng, sáng, chẻ đều, không tách rời. Món quà cưới mang theo của Y Hạo làm cho nhà A Kham (chồng em) nở mặt với mọi người. “Con Y Hạo khéo tay. Với bó củi đều, đẹp sau này vợ chồng sống hòa thuận, có của ăn, của để, con cái khỏe mạnh”, mọi người trầm trồ khen các bó củi hứa hôn của Y Hạo mang theo khi về nhà chồng.

Củi hứa hôn của chị Y Hạo ở làng Dục Nhầy 2, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

“Ngày xưa phải lên rừng lấy cây dẻ, thông đỏ, đây là các loại cây tốt để làm củi hứa hôn, nhưng nay rất khó tìm, mình chỉ có vài bó tượng trưng từ cây rừng, còn lại là cây bời lời. Đến ngày cưới thì nhà gái sẽ gùi những bó củi này đến nhà trai”, Y Hạo cho biết.

Trong khi đó, A Kham, chồng Y Hạo cho rằng người con trai khi tìm hiểu vợ cũng để ý đến củi hứa hôn. “Nhìn vào bó củi hứa hôn, người con trai có thể nhận biết được phẩm chất, tài năng của người con gái. Những bó củi thẳng, chẻ đều, đẹp chứng tỏ người con gái đó khỏe, khéo tay, siêng năng và đã trưởng thành”, A Kham cho biết thêm.

Ngày nay, người Giẻ Triêng không dùng rìu đốn mà cưa máy nên công việc nhẹ nhàng. Ngoài con gái, người trong nhà cùng tham gia giúp con cháu chuẩn bị củi hứa hôn. Với người dân, đây như là tài sản hồi môn đặc biệt của người con gái trước khi về nhà chồng. Củi nhiều, đẹp, cháy tốt sẽ giúp sưởi ấm quan hệ trong gia đình.

Ngày nay, một số phụ nữ người dân tộc Giẻ Triêng khi lấy chồng người Kinh cũng chuẩn bị ít củi hứa hôn cho riêng mình. “Nó là nét văn hóa đẹp tượng trưng cho tình yêu lứa đôi bền chặt của người con gái”, cô Y Noam (60 tuổi) ở làng Dục Nhầy 2 khẳng định.

Giữ rừng, giữ văn hóa

Củi hứa hôn của người Giẻ Triêng ở xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Việc lưu giữ nét văn hóa củi hứa hôn, củi tình yêu của người phụ nữ Giẻ Triêng những năm qua bị sức ép trước việc xâm phạm tài nguyên rừng. Để không phá rừng nhưng vẫn giữ được văn hóa truyền thống, người Giẻ Triêng đã nghĩ ra cách làm hay khi dùng cây trồng (thường là cây bời lời) làm củi hứa hôn. Cây bời lời hiện được người dân trồng nhiều ở các sườn đồi, nương rẫy, quanh nhà. Việc chọn cây trồng giúp người con gái Giẻ Triêng nơi đây bớt vất vả, không phải lo lên rừng đốn củi.

Hiện tại, các loại cây thông đỏ, dẻ rất khó tìm, người con gái Giẻ Triêng chuẩn bị củi hứa hôn chỉ có vài bó tượng trưng từ cây rừng, còn lại đều phải dùng củi từ cây bời lời. Bời lời khi đến ngày khai thác (bóc vỏ) thì thân có thể bán hoặc dùng làm củi hứa hôn rất thuận tiện cho người con gái. Việc trồng bời lời cũng được người dân chú trọng trong nhiều năm qua. Cây bời lời là tài sản, trồng bời lời giúp dân xóa đói giảm nghèo bền vững.

Chị Y Thu ở làng Đăk Ba, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, cho biết trồng bời lời giúp gia đình có của ăn, của để. Khai thác xong, dùng bời lời làm củi hứa hôn cũng giúp người con gái Giẻ Triêng bớt vất vả vì ngày nay lên rừng rất khó kiếm được củi hứa hôn. Mình phá cây rừng làm củi hứa hôn sẽ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Cây bời lời thường to đều, thẳng, sáng nên khi làm củi hứa hôn rất đẹp.

Gùi củi hứa hôn về nhà chồng của người Giẻ Triêng ở xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Theo già A Nghe, ngày xưa không có cây trồng nên phải lên rừng tìm củi hứa hôn. Mỗi lần đi mất 2-3 ngày. Người con gái cùng gia đình và bạn phải đi tìm cây thông đỏ, dẻ nên vất vả, nguy hiểm. Ngày nay, người trong làng đã giảm số lượng củi hứa hôn và dùng củi từ cây trồng (bời lời) để thay thế, nên người con gái Giẻ Triêng không vất vả khi chuẩn bị củi hứa hôn.

Ông Huỳnh Dũng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi cho biết, trước đây tình trạng đốn cây rừng làm củi hứa hôn khá nhiều, gây áp lực cho lực lượng chức năng. Nay người dân chọn cây bời lời làm củi hứa hôn nên lực lượng kiểm lâm cũng đỡ vất vả. Cây bời lời được người dân trồng nhiều. Ngoài việc khai thác đem lại thu nhập, thân cây được dùng làm củi hứa hôn là điều tốt.

Chuẩn bị củi hứa hôn, củi tình yêu, là nét văn hóa lâu đời của người phụ nữ dân tộc Giẻ Triêng ở Kon Tum trước khi về nhà chồng. Trải qua nhiều năm, nét văn hóa trên vẫn được người con gái Giẻ Triêng ở huyện vùng biên Ngọc Hồi duy trì, dù khác xưa.