Học Tiếng Anh Qua Truyện Cổ Tích Lọ Lem / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Theolympiashools.edu.vn

Học Tiếng Anh Qua Truyện Cổ Tích: Cinderella (Công Chúa Lọ Lem)

Truyện cổ tích nước ngoài Tiếng Anh

Học tiếng Anh qua truyện cổ tích: Cinderella (Công chúa Lọ Lem)

Học tiếng Anh qua truyện cổ tích: Cinderella (Công chúa Lọ Lem) không chỉ là tài liệu học Tiếng Anh dành cho các em học sinh tiểu học mà sách còn mang đến những phút giây thoải mái cho các em, giúp các em thoải mái và thư giãn sau giờ học.

Học tiếng Anh qua truyện cổ tích: The Little Mermaid (Nàng tiên cá) Ebook Tiếng Anh trẻ em: Home for the Holidays Ebook Tiếng Anh cho trẻ em: Corduroy’s Best Halloween Ever!

Once upon a time there was a gentlenman who, after his beloved first wife died, married a widow with two daughters. When his new wife and stepdaughters arrived at his home and met his only daughter, they hated her at once, for they were vain and jealous creatures.

The new stepmother sent the poor girl to live in the kitchen and thrust upon her all the lowly tasks in the house – cleaning, doing laundry, weeding the gardens, cooking, and sewing. Indeed, the young girl became a servant, running from morning till night, from one task to the next, until she fell into an exhausted heap upon the kitchen hearth at the end of the day.

“Look,” said one stepsister, peering into the kitchen one morning and finding the girl still asleep in the ashes. “What a smutty, cinder-covered mess!”

“Let’s call her Cinderella,” suggested the other.

“Cinderella! Cinderella!” they chanted together, laughing at the joke they had made at her expense.

Cinderella’s father said nothing of his daughter’s new circumstances, for he was totally ruled by his new wife. One day, as he was leaving to go to town, he asked his stepdaughters if they would like a trinket form the town fair.

“I want a pearl necklace,” said the eder.

“I want a pink satin gown,” demanded the other.

“And you, my daughter?”, the father asked Cinderella sheepishly, for he was ashamed of how she was treated and wished to make amends in some way.

“The first twig, Father, that brushes against your hat on the way home,” Cinderella said.

Truyện Cổ Tích Song Ngữ Dành Cho Trẻ Em: Tre Và Dương Xỉ Học Tiếng Anh Qua Truyện Cổ Tích

Truyện cổ tích song ngữ dành cho trẻ em: Tre và dương xỉ Học tiếng Anh qua truyện cổ tích

Truyện cổ tích song ngữ dành cho trẻ em: Tre và dương xỉ

Học Tiếng Anh qua truyện cổ tích: Cinderella (Công chúa Lọ Lem) Học tiếng Anh qua truyện cổ tích: The Little Mermaid (Nàng tiên cá) Học tiếng Anh qua truyện cổ tích: Snow White and the Seven Dwarfs

TRE VÀ DƯƠNG XỈ

Một ngày, tôi quyết định sẽ từ bỏ. Từ bỏ công việc, mọi mối quan hệ, từ bỏ mọi mong ước, hi vọng của mình. Tôi muốn từ bỏ cuộc sống. Tôi đã đến tìm và nói chuyện với Chúa.

“Thưa Chúa, Người có thể cho con một lí do để không từ bỏ cuộc sống của con không?”.

Chúa rất ngạc nhiên khi tôi hỏi câu đó. “Con hãy nhìn đây” – Chúa lên tiếng.

-“Con có nhìn thấy cây dương xỉ và cây tre này không?”.

– “Có” – Tôi kính cẩn trả lời.

– “Khi ta gieo hạt của dương xỉ và cây tre, ta đã chăm sóc chúng rất cẩn thận. Ta cho chúng ánh sáng, ta tưới đầy đủ nước cho chúng. Cây dương xỉ lớn rất nhanh trên mặt đất. Màu xanh của nó chẳng mấy mà phủ kín cảmột vùng. Nhưng chẳng có dấu hiệu gì từ hạt giống của cây tre cả. Tuy nhiên, ta đã không từ bỏ hạt mầm đó. Một năm trôi qua, Dương xỉ nhanh chóng phát triển lớn mạnh. Nhưng một lần nữa, không một dấu hiệu của hạt giống cây tre. Và cũng một lần nữa ta không từ bỏ” – Chúa chậm rãi kể.

“Bước sang năm thứ ba, vẫn chẳng thấy gì từ hạt giống cây tre cả. Nhưng ta vẫn không từ bỏ. Năm thứ tư cũng không có gì khác. Ta vẫn tiếp tục công việc và không từ bỏ… Đến năm thứ năm, một mầm xanh vươn mình lên khỏi mặt đất. So với đám dương xỉ xung quanh, nó quá nhỏ bé và chẳng có chút ấn tượng nào.

Nhưng chỉ 6 tháng thôi, cây tre đã cao hơn 30 mét. Nó đã mất tới 5 năm để phát triển bộ rễ. Rễ của nó rất khoẻ mạnh và có thể cung cấp cho nó tất cả những gì cần thiết để sống và vươn lên. Ta đã không cho cây tre một chút thử thách nào”.

“Con có biết không, con của ta, tất cả thời gian mà con phải vật lộn để sống, con đã xây dựng và hoàn thiện gốc rễ của mình” -Chúa nói tiếp.

“Ta đã không rời bỏ cây tre. Và ta cũng sẽ không bao giờ xa con. Đừng so sánh bản thân con với bất cứ thứ gì khác. Cây tre và dương xỉ có cách sống khác nhau mặc dù mục tiêu của chúng đều là màu xanh cho trái đất. Cơ hội của con sẽ đến…” – Chúa khắng định -“… Con sẽ vươn cao”.

“Liệu con có thể vươn cao đến đâu thưa Người?”.

“Vậy con có biết cây tre vươn cao đến đâu không” – Chúa không trả lời mà hỏi lại.

“Cao hết mức mà nó có thể phải không ạ?” – Tôi ngập ngừng hỏi lại.

“Đúng thế” – Chúa mỉm cười – “Hãy cho ta cảm thấy tự hào khi thấy con vươn đến đỉnh cao nhất mà con có thể”. Đứng tiếc nuối những ngày đã qua trong đời. Những ngày may mắn, tốt đẹp mang cho bạn hạnh phúc. Những ngày đen tối khó khăn mang lại cho bạn nhiều kinh nghiệm. Tất cả đều cần cho cuộc sống.

THE FERN AND THE BAMBOO

One day, a small business owner decided he’d had enough. Enough of the unremitting workload, enough of the lack of response, enough of the crushing loneliness. He went into the woods to have one last talk to God. “God,” he said.

“Can you give me one good reason why I shouldn’t quit?”

The answer took him by surprise. “Look around you,” it said. “Do you see the fern and the bamboo?”

“Yes,” the man replied.

“When I planted the fern and the bamboo, I took very good care of them. I gave them both equal amounts of food and water. I gave them sunlight in spring and protected them from the storms in autumn. The fern quickly grew from the earth. Its brilliant fronds soon covered the forest floor. Yet nothing came from the bamboo seed. But I did not quit on the bamboo. In the second year, the fern grew even more splendidly than before but nothing came from the bamboo seed. But I did not quit on the bamboo.

In year three there was still nothing from the bamboo seed. But I would not quit. In year four, again, there was nothing from the bamboo seed. Still I would not quit.”

“Then in the fifth year a tiny sprout emerged from the earth. Compared to the fern it was seemingly small and insignificant. But day by day the sprout grew. First a shoot, then a seedling, and finally a cane.

Within six months, the bamboo cane had risen to a height of 100 feet. It had spent the five years growing roots. Those roots made it strong and gave it what it needed to survive. I would not give any of my creations a challenge it could not handle.”

“Did you know, my child, that all this time you have been struggling, you have been growing? Growing the roots that you need to produce your fruit. I would not quit on the bamboo. I will not quit on you.”

“Don’t compare yourself to others. All of my creations have different purposes, different journeys, and different timescales. The bamboo had a different purpose from the fern. Yet they both make the forest beautiful. Your time will come. You will rise high.”

“How high should I rise?” the man asked.

“How high will the bamboo rise?” asked God in return.

“As high as it can?” the man questioned.

“Yes,” God replied. “Give me glory by rising as high as you can.” The small business owner left the forest. And never went back. If nothing seems like it is happening in your life, despite all the work you’re putting in, remember that you’re probably growing roots not fruit. Stick with it. One day not far from now, there will be a fantastic harvest.

Học Tiếng Đức Qua Truyện Cổ Tích 7 Chú Quạ

Ein Mann hatte sieben Söhne und immer noch kein Töchterchen, so sehr er sichs auch wünschte; endlich gab ihm seine Frau wieder gute Hoffnung zu einem Kinde, und wies zur Welt kam, war es auch ein Mädchen. Die Freude war groß, aber das Kind war schmächtig und klein, und sollte wegen seiner Schwachheit die Nottaufe haben. Der Vater schickte einen der Knaben eilends zur Quelle, Taufwasser zu holen: die andern sechs liefen mit, und weil jeder der erste beim Schöpfen sein wollte, so fiel ihnen der Krug in den Brunnen. Da standen sie und wußten nicht, was sie tun sollten, und keiner getraute sich heim. Als sie immer nicht zurückkamen, ward der Vater ungeduldig und sprach: “Gewiß haben sie’s wieder über ein Spiel vergessen, die gottlosen Jungen.”

Ngày xưa có một người có bảy đứa con trai, nên rất mong có một mụn con gái. Khi vợ có mang, bác ta hy vọng lần này sẽ toại nguyện. Quả thật đứa con mới chào đời là con gái. Hai vợ chồng mừng lắm nhưng đứa con lại gầy gò ốm yếu quá nên phải chịu phép rửa tội.

Người cha sai một đứa con trai chạy vội ra suối lấy nước về để làm nước phép rửa tội cho em gái, nhưng rồi cả sáu đứa con trai khác cũng chạy đi cùng. Vì đứa nào cũng muốn múc gàu nước đầu tiên, bảy đứa tranh nhau cái bình để múc nước, bình văng tõm xuống suối. Cả bảy đứng nhìn không biết làm sao vớt được bình, bình trôi mất không đứa nào dám về nhà nữa. Đợi mãi chẳng thấy con về, người cha sốt ruột và nói:

Học tiếng Đức qua câu chuyện 7 con quạ

– Lũ trời đánh ấy chắc lại mải chơi rồi!

Người cha sợ con gái sau này nhỡ chết mà chưa được phép rửa tội nên đâm ra giận rủa con:

– Ước gì cả bảy thằng đều thành quạ.

Người cha vừa nói dứt lời thì nghe thấy tiếng chim vỗ cánh bay qua đầu lướt vào không trung. Ông ngửng lên thì thấy bảy con quạ đen như than bay vút đi.

Die Eltern konnten die Verwünschung nicht mehr zurücknehmen, und so traurig sie über den Verlust ihrer sieben Söhne waren, trösteten sie sich doch einigermaßen durch ihr liebes Töchterchen, das bald zu Kräften kam, und mit jedem Tage schöner ward. Es wußte lange Zeit nicht einmal, daß es Geschwister gehabt hatte, denn die Eltern hüteten sich, ihrer zu erwähnen, bis es eines Tags von ungefähr die Leute von sich sprechen hörte, das Mädchen wäre wohl schön, aber doch eigentlich schuld an dem Unglück seiner sieben Brüder. Da ward es ganz betrübt, ging zu Vater und Mutter und fragte, ob es denn Brüder gehabt hätte, und wo sie hingeraten wären. Nun durften die Eltern das Geheimnis nicht länger verschweigen, sagten jedoch, es sei so des Himmels Verhängnis und seine Geburt nur der unschuldige Anlaß gewesen. Allein das Mädchen machte sich täglich ein Gewissen daraus und glaubte, es müßte seine Geschwister wieder erlösen. Es hatte nicht Ruhe und Rast, bis es sich heimlich aufmachte und in die weite Welt ging, seine Brüder irgendwo aufzuspüren und zu befreien, es möchte kosten, was es wollte. Es nahm nichts mit sich als ein Ringlein von seinen Eltern zum Andenken, einen Laib Brot für den Hunger, ein Krüglein Wasser für den Durst und ein Stühlchen für die Müdigkeit.

Học từ vựng tiếng Đức qua những câu chuyện cổ tích

Chẳng còn cách nào thu lại được lời nguyền kia nữa, hai vợ chồng buồn rầu về chuyện mất bảy đứa con trai, nhưng họ tự an ủi phần nào vì thấy đứa con gái yêu quý mỗi ngày một khôn lớn và xinh đẹp hơn. Cô bé lớn lên không hề biết rằng mình còn có mấy anh trai nữa. Cha mẹ cô tránh không bao giờ nhắc tới chuyện ấy cho cô biết. Tới một ngày kia cô nghe mọi người xì xào về mình: “Cô ấy tuy đẹp thật, nhưng chính cô ấy là nguyên nhân sự bất hạnh của bảy người anh trai.” Biết chuyện, cô buồn lắm, cô gạn hỏi cha mẹ về các người anh trai của mình. Không thể giấu giếm con được bí mật này, cha mẹ đành kể cô nghe mọi chuyện và nói rằng đó chẳng qua là ý muốn của trời, còn việc sinh cô ra không có quan hệ gì. Nhưng cô gái vẫn bị lương tâm cắn rứt về chuyện ấy và luôn nghĩ cách làm sao giải được lời chú kia cho các anh. Cô đứng ngồi không yên, tới mức cô trốn nhà đi, mong tìm cho ra tung tích để giải thoát cho các anh, mặc dù cô biết sẽ có nhiều khó khăn vất vả.

Đồ đạc cô mang theo chỉ có một chiếc nhẫn nhỏ là vật kỷ niệm của cha mẹ, một giỏ nhỏ bánh mì để ăn khi đói, một bình nước nhỏ để uống khi khát và một chiếc ghế con để ngồi cho đỡ mỏi.

Nun ging es immerzu, weit weit, bis an der Welt Ende. Da kam es zur Sonne, aber die war zu heiß und fürchterlich, und fraß die kleinen Kinder. Eilig lief es weg und lief hin zu dem Mond, aber der war gar zu kalt und auch grausig und bös, und als er das Kind merkte, sprach er: “Ich rieche Menschenfleisch.” Da machte es sich geschwind fort und kam zu den Sternen, die waren ihm freundlich und gut, und jeder saß auf seinem besondern Stühlchen. Der Morgenstern aber stand auf, gab ihm ein Hinkelbeinchen und sprach: “Wenn du das Beinchen nicht hast, kannst du den Glasberg nicht aufschließen, und in dem Glasberg, da sind deine Brüder.”

Cô bé đi mãi, đi hoài, đi tới tận cùng thế giới. Cô đi tới mặt trời, nhưng mặt trời sao nóng quá và nom dễ sợ, hình như hay bắt trẻ con. Cô vội vàng rời ngay chỗ đó và đi về hướng mặt trăng, nhưng nơi đây lại lạnh lẽo hoang vắng. Cô bé có cảm giác phía đàng kia có người ở, cô vội vàng quay gót đi tới các vì sao. Các vì sao tiếp cô niềm nở và tốt bụng, và mỗi vị ngồi trên chiếc ghế dành riêng cho mình. Sao mai đứng dậy cho cô một cái chân gà nhỏ và bảo:

– Nếu con không có cái chân gà nhỏ này thì con không thể mở được núi thủy tinh. Mà chính các anh con đang ở trong núi thủy tinh ấy.

Học tiếng Đức với những câu chuyện thú vị

Das Mädchen nahm das Beinchen, wickelte es wohl in ein Tüchlein, und ging wieder fort, so lange, bis es an den Glasberg kam. Das Tor war verschlossen und es wollte das Beinchen hervorholen, aber wie es das Tüchlein aufmachte, so war es leer, und es hatte das Geschenk der guten Sterne verloren. Was sollte es nun anfangen? Seine Brüder wollte es erretten und hatte keinen SchIüssel zum Glasberg. Das gute Schwesterchen nahm ein Messer, schnitt sich ein kleines Fingerchen ab, steckte es in das Tor und schloß glücklich auf. Als es eingegangen war, kam ihm ein Zwerglein entgegen, das sprach: “Mein Kind, was suchst du?” – “Ich suche meine Brüder, die sieben Raben,” antwortete es.

Der Zwerg sprach: “Die Herren Raben sind nicht zu Haus, aber willst du hier so lang warten, bis sie kommen, so tritt ein.” Darauf trug das Zwerglein die Speise der Raben herein auf sieben Tellerchen und in sieben Becherchen, und von jedem Tellerchen aß das Schwesterchen ein Bröckchen, und aus jedem Becherchen trank es ein SchIückchen; in das letzte Becherchen aber ließ es das Ringlein fallen, das es mitgenommen hatte.

Cô bé cầm cái chân gà nhỏ xíu, lấy khăn bọc lại cẩn thận, và cô lại tiếp tục lên đường. Cô đi hoài, đi mãi, sau cùng tới núi thủy tinh. Cổng lớn đóng kín, cô lấy bọc khăn ra, nhưng khi mở ra thì chẳng có gì ở trong đó cả, cô đã đánh mất món quà quý của các vì sao tốt bụng. Làm gì bây giờ? Cô muốn cứu các anh mình mà lại không có chìa khóa để mở cổng vào núi thủy tinh. Cô bé bèn rút dao ra, cắt một ngón tay nhỏ xíu của mình đút nó vào ổ khóa và may quá mở được cổng.

Khi cô bé bước vào bên trong thì có một ông già người nhỏ nhắn bước ra, ông hỏi:

– Con tìm gì ở đây?

Cô bé trả lời:

– Con tìm các anh con là bảy con quạ.

Ông già nói:

– Các ông quạ không có nhà, nhưng con muốn chờ các ông ấy về thì vào đây.

Rồi ông già chuẩn bị bữa ăn tối cho bảy con quạ, ông bày thức ăn vào bảy chiếc đĩa nhỏ và rót nước uống vào bảy cái chén nhỏ. Cô bé nếm ở mỗi đĩa một miếng và uống ở mỗi cốc một hớp. Chiếc nhẫn mang theo cô thả vào trong cốc nước cuối cùng.

Auf einmal hörte es in der Luft ein Geschwirr und ein Geweh, da sprach das Zwerglein: “Jetzt kommen die Herren Raben heim geflogen.” Da kamen sie, wollten essen und trinken, und suchten ihre Tellerchen und Becherchen. Da sprach einer nach dem andern: “Wer hat von meinem Tellerchen gegessen? Wer hat aus meinem Becherchen getrunken? Das ist eines Menschen Mund gewesen.” Und wie der siebente auf den Grund des Bechers kam, rollte ihm das Ringlein entgegen. Da sah er es an und erkannte, daß es ein Ring von Vater und Mutter war, und sprach: “Gott gebe, unser Schwesterlein wäre da, so wären wir erlöst.” Wie das Mädchen, das hinter der Türe stand und lauschte, den Wunsch hörte, so trat es hervor, und da bekamen alle die Raben ihre menschliche Gestalt wieder. Und sie herzten und küßten einander, und zogen fröhlich heim.

Học từ vựng tiếng Đức qua truyện cổ tích song ngữ Việt – Đức

Chợt cô nghe thấy ở trên không có tiếng vỗ cánh và tiếng chim reo. Lúc đó ông già nói:

– Giờ thì các ông quạ đã về nhà đó.

Đàn quạ về thật, con nào con ấy đi tìm cốc đĩa của mình để ăn uống. Rồi con nọ hỏi con kia:

– Ai đã ăn ở đĩa của tôi? Ai đã uống nước ở cốc của tôi? Nhất định phải có người đã đụng đến chén đĩa.

Và khi con quạ thứ bảy nhìn xuống đáy cốc, nó thấy chiếc nhẫn lăn đi lăn lại trong cốc. Nó ngắm nhìn chiếc nhẫn và nhận ra đó là nhẫn của bố mẹ và nói:

– Trời! Hình như em gái út của chúng ta đang ở đây và như vậy có nghĩa là chúng ta đã được giải thoát.

Lúc đó cô bé đang đứng nấp sau cửa và lắng tai nghe. Quạ vừa nói xong, cô bé bước ra, tức thì đàn quạ lại hóa về hình dạng người. Vui mừng khôn xiết, tám anh em ôm hôn nhau thắm thiết, rồi vui vẻ cùng nhau lên đường về nhà.

Nguồn: sưu tầm internet

Sách Truyện Cổ Tích Hàn Quốc

동화 제목: 선녀와 나무꾼

밤이 되었어요. 나무꾼은 몰래 연못 근처로 가서 날개옷 하나를 숨겼어요. 묙욕을 마친 선녀들이 하늘로 올라가는데 한 선녀만 남았어요. Đêm xuống, anh tiều phu lén đến bên hồ nước và quả thật có các nàng tiên xinh đẹp tuyệt trần đang tắm dưới hồ. Anh tiều phu nhẹ nhàng lấy đi bộ xiêm y đẹp nhất. Sau khi tắm xong, các nàng tiên lần lượt lên bờ mặc lại xiêm y và bay về trời, duy chỉ có một nàng tiên không tìm được xiêm y nên không thể bay trở lại thiên đình.

나무꾼은 선녀와 결혼했어요. 두 명의 예쁜 아이도 낳았어요. 어느 날 밤, 나무꾼은 하늘을 보며 슬퍼하는 선녀를 보았어요. 나무꾼은 마음이 아팠어요. “아이 둘을 낳았는데 무슨 일이 생시겠어요?” Chàng tiêu phu và nàng tiên đó kết hôn với nhau, một vài năm sau, hai người đã có cùng nhau một đứa bé hết sức kháu khỉnh. Một đêm nọ, chàng tiều phu thấy người vợ tiên của mình nhìn lên bầu trời mà mặt buồn rười rượi. Điều đó khiến chàng rất đau lòng, chàng nghĩ thầm trong bụng: “Mình và cô ấy đã có chung với nhau hai đứa con rồi, chuyện gì có thể xảy ra được cơ chứ!” 나무꾼은 사슴의 말을 잊고 선녀에게 날개옷을 보여주 말았어요. 날개옷을 본선녀는 옷을 입어 봤어요. 그리고 아이 둘을 양팔에 안고 하늘로 올라가 버렸어요. Sau khi vợ hạ sinh đứa con thứ hai, do quá vui mừng, chàng tiều phu đã quên lời dặn của chú nai và đưa bộ xiêm y ngày xưa cho vợ xem. Ngay khi nhìn thấy bộ xiêm ý của mình, nàng tiên nói rằng muốn mặc thử một chút thôi. Nhưng sau khi khoắc bộ quần áo tiên vào người, nàng quay ra ôm hai đứa con vào lòng và bay thẳng lên trời.

얼마 후에 사슴이 나타나서 말했어요. Chẳng bao lâu sau, chú nai quay lại tìm chàng tiều phu và nói:

“이제 선녀들은 목욕을 하러 내려오지 않아요. 두레박으로 물을 퍼 가요. 오늘 밤그 연못으로 큰 두레박이 내려올 거예요. 그 두레박을 타고 가면 선녀와 아이들을 만날 수 있을 거예요.” “Hiện giờ các nàng tiên không hạ phàm để tắm ở hồ nước trên núi nữa, thay vào đó họ dùng một cái gàu nước to để múc nước từ dưới hồ lên trên trời. Tối nay, một chiếc gàu lớn sẽ được thả từ trên trời xuống hồ để múc nước. Nếu chàng bám vào chiếc gàu đó thì có thể lên trời để gặp lại vợ và hai đứa con của mình.”

나무꾼은 사슴의 도움으로 하늘나라로 올라갔어요. 나무꾼은 하늘나라에서 선녀와 아이들을 만나 오래오래 행북하게 살았어요. Nhờ sự giúp đỡ của chú nai, chàng tiều phu đã lên được trên thiên đình và đoàn tụ với người vợ tiên của mình cùng với hai đứa con sinh đẹp. Cùng với nhau, họ sống cuộc sống hạnh phúc lâu dài mãi mãi trên thiên đình.

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.