Dạy Tiếng Trung Cầm Xu / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Theolympiashools.edu.vn

Học Tiếng Trung Cầm Xu Bài 5

Âm cuốn lưỡi:

Đầu tiên chúng ta sẽ học một âm rất đặc biết trong tiếng Trung thường được gọi là âm cuốn lưỡi, âm này 儿 “er” đọc giống âm ” ơ ” trong tiếng Việt nhưng uốn cong lưỡi. Các bạn hãy theo dõi một số ví dụ về âm này trong video và tập phát âm thử.

Quy tắc viết phiên âm:

Tiếp theo, chúng ta đến với quy tắc viết phiên âm. Bắt đầu cho phần này là vận mẫu “i”. Trường hợp thứ nhất khi đi liên sau “y” là một vận mẫu khác thì chúng ta sẽ viết trong phiên âm biến chữ “i” thành “y”, các phần sau giữ nguyên.

-ie -iou -ian -ia -iang -iao -iong -i -in -ing

ye you yan ya yang yao yong yi yin ying

叶 有 眼 牙 羊 要 永

Trường hợp thứ hai đó là khi “i” đứng một mình hoặc phía sau là các thanh mẫu chúng ta sẽ thêm chữ “y” vào trước “i”.

-ua -uo -uai -uei -uan -uen -uang -ueng

wa wo wai wei wan wen wang weng

娃 我 外 未 玩 文 网 翁

Tiếp tục là cách viết phiên âm của vận mẫu ghép của “u”. Khi đằng sau là các vận mẫu chúng ta sẽ thay thế “u” bằng “w”. Trường hợp “u” đứng một mình có vận mẫu theo sau thì chúng ta sẽ thêm “w” vào phía trước.

-ua -uo -uai -uei -uan -uen -uang -ueng

wa wo wai wei wan wen wang weng

Cuối cùng là vận mẫu “ü”, đối với vận mẫu này ta thêm chữ “y” vào phía trước và bỏ dấu hai chấm phía trên “ü”.

-ü -üe -üan -ün

yu yue yuan yun

Một lưu ý nhỏ nữa là với j, q, x, y phía trước thì ta bỏ dấu hai chấm của “ü” Điều cuối cùng trong cách viết phiên âm tiếng Trung đó là trong một từ ghép nếu từ thứ hai bắt đầu là một vận mẫu thì chúng ta phải ngăn cách bằng một dấu phẩy để hiểu đây là từ ghép chứ không phải từ đơn.

Luyện tập:

Vừa rồi là toàn bộ các nguyên tắc viết phiên âm của tiếng Trung. Như vậy là chúng ta đã học hết toàn bộ tất cả các thanh mẫu, vận mẫu, các cách ghép âm và các thanh cũng như là cách viết phiên âm trong tiếng Trung. Bây giờ các bạn hãy làm bài tập để ôn luyện lại các kiến thức đã học.

Bài 1:

四 是 四 , 十 是 十 sì shì sì , shí shì shí – bốn là số bốn, số mười là số mười

四 不 是 十 sì bú shì shí – số bốn không phải số mười

十 不 是 四 shí bú shì sì – số mười không phải là số bốn

Bài 2:

chuáng qián míng yuè guāng – đầu giường ánh trăng rọi

床 前 明 月光,

yí shì dì shàng shuāng – mặt đất như phủ sương

疑 是 地 上 霜.

jǔ tóu wàng míng yuè – ngẩng đầu nhìn trăng sáng

举 头 望 明 月,

dī tóu sī gù xiāng – cuối đầu nhớ cố hương

低 头 思 故 乡.

Như vậy là chúng ta đã học xong bài cuối cùng trong phần phát âm cơ bản của tiếng Trung bao gồm: thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu, các cách ghép âm, các quy tắc viết phiên âm trong tiếng Trung. Hy vọng rằng sau 5 bài học này khi tiếp xúc với bất cứ văn bản nào có phiên âm tiếng Trung điều có thể đọc trôi chảy.

Dạy Tiếng Anh: Xu Hướng Đổi Mới

GD&TĐ – Sở GD&ĐT Hà Nội vừa tổ chức Hội nghị tập huấn về đổi mới dạy – học tiếng Anh cho gần 500 giáo viên tiếng Anh trên địa bàn.

Thầy Nguyễn Quốc Hùng. MA trao đổi với các giáo viên tiếng Anh Hà Nội

Đáng chú ý, thầy Nguyễn Quốc Hùng. MA đã có những chia sẻ rất cụ thể về cách nhìn về người thầy dạy tiếng trong thiên niên kỷ thứ ba. Theo đó, người thầy là người phải làm cho chính mình dần dần không còn cần thiết nữa (Thomas Carruthers).

Trong quy trình đào tạo giáo viên, một khái niệm rất hay được nhắc đến là “sự định tín” của người thầy (teacher’s beliefs), hoặc thuật ngữ đầy đủ của nó là “sự định tín mang tính giáo học pháp của người thầy”.

Từ “beliefs trong văn cảnh này được dùng với nghĩa “định tín” mang hàm ý là lòng tin sẵn có của người thầy rất khó đổi thay vì hàng nghìn giờ ngồi trên giảng đường đã hình thành lòng tin này (Zeichner & Tabachnick,1981).

Hầu hết người thầy đều nghĩ rằng mình đã có cái cần có để trở thành giáo viên giỏi, mà ông gọi là “a folk pedagogy” (bản lĩnh sư phạm cố hữu).

Người thầy phải xây dựng được cho mình một năng lực điều chỉnh những ý nghĩ tiêu cực, tức là khả năng ngăn chặn việc hình thành khái niệm chệch hướng trong dạy học. Ví dụ chặn không cho người học nói hoặc nói hết ý của họ khi làm bài tập vì sợ “mất thì giờ” và kết quả là người thầy không nắm được tận gốc cái sai của người học để chỉnh sửa.

Trong thế kỷ mới, người thầy cần được đào tạo theo xu hướng thoát ra khỏi sự ràng buộc của thiết chế, quy chế, chương trình và sách giáo khoa, trở thành người thầy dạy học theo sự phán xét của nghề nghiệp. Khái niệm này Schon,D. (1983) gọi là “reflection in action (phản ánh qua hoạt động), còn Lazen-Freeman,D. (2000) gọi là “thought in action” (tư duy qua hành động).

Vào thế kỷ 21, giới giáo học pháp không quan tâm nhiều đến việc sáng tạo ra các kỹ thuật hoàn toàn mới để thay thế cho kỹ thuật truyền thống, mà hướng về cách thiết kế bài tập cũng như lựa chọn nội dung bài tập sao cho tạo ra được những thách thức mới khi sử dụng kỹ thuật truyền thống. Hay nói cách khác là kỹ thuật truyền thống đã được “làm mới”.

Xu Hướng Cá Nhân Hóa Trong Các Chương Trình Dạy Tiếng Anh

Xu hướng cá nhân hóa trong các chương trình dạy tiếng Anh

Thật ra, đây là một câu hỏi rất khó có câu trả lời thỏa đáng. Bởi vì, ngoài một số ít người có sở trường tự nhiên với ngoại ngữ thì với đa số các bạn còn lại, việc học ngoại ngữ là một nhiệm vụ rất khó khăn.

Thế nào là giáo dục cá nhân?

Thế nào là giáo dục hướng tới cá nhân hóa?

Ngược lại với kiểu lớp học “đại đồng” truyền thống với sĩ số luôn được duy trì đông đúc với vài chục học sinh trở lên, lấy giáo viên làm trung tâm, lịch trình học phân phối theo chiều dọc thời gian. Cá nhân hóa giáo dục là sự tối ưu lộ trình đào tạo sao cho phù hợp với từng học sinh về năng lực tiếp thu, giáo trình được điều chỉnh tùy mục đích học tập và lịch trình giáo dục được cân đối tùy vào khả năng hấp thu kiến thức của học sinh.

Trong môi trường giáo dục đề cao mục đích giáo dục cá nhân, mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh là thước đo chuẩn mực cho sự thành công cuối cùng của phương pháp này. Cá nhân hóa giáo dục giúp giáo viên hiểu rõ tiến trình học tập, điểm mạnh và điểm yếu về năng lực tiếp thu, cũng phong cách học tập riêng rẽ của từng học sinh. Còn đối với học sinh thì sự gần gũi với giáo viên sẽ làm cho mức độ tương tác thầy trò cao hơn. Thông qua đó sự phản hồi nhanh chóng về tình trạng học tập hiện thời từ sinh viên sẽ giúp giáo viên sớm có sự điều chỉnh giáo trình, điều tiết mức độ truyền đạt sao cho phù hợp trong mỗi giai đoạn học tập khác nhau.

Trong quá khứ, việc ứng dụng cá nhân hóa vào giáo dục còn nhiều khó khăn do không thể tìm được một lượng giáo viên đủ lớn đủ thỏa mãn nhu cầu của học sinh, cũng như chi phí tài chính cho cá nhân hóa giáo dục thường cao hơn các mô hình khác. Nhưng bằng sự tiến bộ của công nghệ và lợi ích thụ hưởng từ nền kinh tế phát triển, những thách thức cũ về giáo dục cá nhân đã bị triệt bỏ hoàn toàn. Thay vào đó cơ hội ứng dụng mô hình giáo dục cá thể được mở rộng với tiềm năng vô cùng lớn trong mấy năm gần đây.

Ứng dụng giáo dục cá nhân vào các chương trình dạy tiếng Anh ?

Là một trong số những môn học đặc thù, một chương trình dạy tiếng Anh vốn đã cần tới mức độ cá nhân hóa cao thì nay cộng với nhiều điều kiện ưu đãi, yêu cầu dạy học Anh ngữ hướng trọng tâm vào sinh viên rất phù hợp và đang là một xu thế của thời đại. Do đó hiện nay có rất nhiều trường và trung tâm Anh ngữ đã áp dụng xu thế giáo dục cá nhân như McGraw-Hill Education, Rosetta Stone, iTutorGroup hay E-talk Việt Nam.

Theo Tiến sĩ Arkady Zilberman (Trung tâm Anh ngữ Language Bridge Technology), sự thay đổi đầu tiên trong việc cá nhân hóa giáo dục chính là thay đổi vị trí của giáo viên từ địa vị của một nhà sư phạm thần thái thành một người bạn của học sinh. Thay vì sử dụng mệnh lệnh, giáo viên sẽ là người trò chuyện, tìm hiểu khả năng tiếp thu của học sinh để có hướng giáo dục phù hợp.

Theo bài báo cáo của Pro Gradu và Nita Kuutila (08/2016), Đại học University of Jyväskylä, về kết quả thử nghiệm dạy tiếng Anh theo mô hình cá nhân hóa tại Phần Lan. Mức ứng dụng thứ hai của mô hình giáo dục cá nhân là giảm sĩ số học sinh xuống mức tối đa, chỉ còn 10-20 học sinh / 1 lớp học. Với tiếng Anh, một lớp học càng ít học viên thì cơ hội tương tác của học viên càng cao và kết quả giáo dục sẽ có chất lượng hơn.

Mức ứng dụng thứ tư trong giáo dục cá thể chính là sử dụng công nghệ vào dạy học để giảm tải cho giáo viên. Ví dụ, thay vì mỗi ngày đều đứng lớp giảng bài, giáo viên có thể thu lại hình ảnh video bài giảng rồi phát lại chúng và dành phần lớn thời gian còn lại trong lớp để uốn nắn, sửa lỗi phát âm cho học sinh của mình.

Mức ứng dụng thứ năm chính là đáp ứng sự đòi hỏi từ sinh viên. Nghĩa là sự tối ưu hóa một chương trình dạy tiếng Anh dựa trên khả năng tiếp thu, thói quen và tâm lý học tập của học sinh.

Chương trình dạy tiếng Anh, sự cá nhân hóa qua góc nhìn từ 2 góc độ

Trong giáo dục ngoại ngữ, sự cá nhân hóa của một chương trình dạy tiếng Anh cần phải được nhìn nhận dựa trên hai góc độ khác nhau: sự giáo dục cá nhân và yêu cầu cá nhân hóa từ người học.

Nghĩa là với các trung tâm tiếng Anh họ phải có những chương trình đạo tạo có tối ưu dành cho cá nhân. Để làm được điều này, các trung tâm Anh ngữ cần phải xác định giáo dục cá nhân chính là một đường hướng đào tạo tân tiến có tính sư phạm và rất khoa học. Việc giáo dục dựa trên xác định năng lực học sinh và tìm cách định hướng cho họ sẽ đảm bảo giúp hầu hết học sinh đạt được trình độ, có sự tiến bộ và đạt được mục tiêu học tập đã đề ra.

Với học sinh, năng lực nhận thức của học viên về lợi ích của việc cá nhân hóa và tìm cách thay đổi cách tự học sao cho phù hợp với tâm sinh lý của mình. Cũng như học sinh sẽ biết cách phản hồi về hiện trạng nhận thức của mình cho giáo viên biết được, giải pháp giáo dục nào có sự tiến bộ nhanh hoặc chậm đối vời mình và yêu cầu cần điều chỉnh.

Mặc khác, sự nhận thức về nhu cầu cá nhân hóa chính là việc học sinh chính là xác định mục đích học tiếng Anh, lịch học, lựa chọn cách thức tiếp cận một chương trình dạy tiếng Anh phù hợp với sở thích của họ.

Ví dụ, một người có kế hoạch sang Mỹ du học thì việc đăng ký một khóa luyện phát âm bằng giọng Mỹ sẽ không có gì phù hợp bằng.

Hoặc một người sắp đi làm, anh ta đăng ký khóa học tiếng Anh dành cho người đi làm sẽ có hiệu quả hơn việc tham gia một chương trình văn phạm Anh ngữ.

Kết luận

Tóm lại, nhìn lại lịch sử ứng dụng giáo dục cá nhân trong mấy năm gần đây, chắc chắn rằng xu thế cá nhân hóa chương trình dạy tiếng Anh chính là giải pháp để việc giáo dục ngoại ngữ trở nên hiệu quả và thành công hơn.

Xu hướng cá nhân hóa trong các chương trình dạy tiếng Anh

Xu Hướng Học Tiếng Nhật Trong Trường Trung Học Phổ Thông

Chính phủ Nhật Bản hiện đang khuyến khích các tập đoàn lớn của Nhật Bản đầu tư mở nhà máy tại Việt Nam để tạo chuỗi cung ứng cho ngành công nghiệp Nhật Bản. Chính vì thế nhiều Trường thpt Việt Nam hiện nay đã mở các lớp đào tạo tiếng Nhật và được nhiều bậc phụ huynh, học sinh đón nhận tích cực.

Học sinh nhiều Trường thpt Việt Nam ngày càng ưa chuộng tiếng Nhật do các bạn nhận thấy được tầm quan trọng của tiếng Nhật sẽ là chìa khoá để mở rộng cánh cửa du học tại đất nước mặt trời mọc và có việc làm thu nhập cao nếu thông thạo Nhật ngữ. Chính vì vậy, hiện nay nhiều Trường thpt Việt Nam đã và đang có chủ trường đưa tiếng Nhật trở thành một môn ngoại ngữ tăng cường trong trường học nhằm giúp các em học sinh có nhiều cơ hội phát triển bản thân trong xu hướng toàn cầu hoá.

Hiện nay trên địa bàn cả nước đã có một số Trường THPT thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… đưa bộ môn ngoại ngữ tiếng Nhật vào giảng dạy tăng cường cùng với ngôn ngữ tiếng Anh theo chương trình chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nhu cầu học tiếng Nhật ngày càng tăng và trẻ hóa

Với sự phát triển và hội nhập kinh tế như hiện nay thì có rất nhiều các công ty, tập đoàn của Nhật Bản đầu tư lớn vào Việt Nam kéo theo nhu cầu tuyển dụng kỹ sư, cử nhân biết tiếng Nhật với mức thu nhập vô cùng hấp dẫn. Nhưng hiện nay nguồn nhân lực thông thạo Nhật ngữ đang rất hạn chế. Vì vậy, nếu bạn là kỹ sư hoặc cử nhân nhưng có biết Tiếng Nhật thì bạn sẽ dễ dàng có công việc ổn định và thu nhập tương đối cao và có nhiều cơ hội thăng tiến lên làm quản lý lãnh đạo trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam.

Theo chúng tôi Trần Hà Minh Quân đang công tác tại Viện Quốc Tế học Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Học tiếng Nhật sẽ cho các bạn trẻ có cơ hội được du học Nhật Bản để học tập những kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến bậc nhất trên thế giới.

Danh sách các Trường THCS và THPT có dạy lớp chuyên tiếng Nhật Ngữ

Trường THCS Chu Văn An, địa chỉ trường: 17 Thụy Khuê, Thụy Khuê Tây Hồ, Hà Nội

Hiện nay Trường THCS Chu Văn An là một trong những trường có mở các lớp tiếng Nhật với quy mô tuyển sinh đào tạo số lượng khoảng 40 – 50 học sinh/năm dựa trên 2 hình thức xét tuyển phổ biến đó là xét tuyển và tuyển phiếu khảo sát đăng kí nguyện vọng của các bạn học sinh.

Trường THCS Thực Nghiệm: Địa chỉ trường: 50 Liễu Giai, Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội tuyển sinh 40 – 50 học sinh/năm theo 2 hình thức là xét tuyển và dựa trên điểm của bài thi đánh giá năng lực đầu vào tiếng Nhật.

Tại thành phố Đà Nẵng: Trường THCS Tây Sơn, THCS Lê Lợi thuộc các quận Liên Chiễu, Sơn Trà tổ chức dạy tiếng Nhật từ lớp 6 với hình thức tự chọn với mỗi trường tuyển 2 lớp 6 tiếng Nhật, mỗi lớp có từ 40 học sinh.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: THCS Võ Trường Toản với đầu vào 90 học sinh lớp 6 và THCS Lê Quý Đôn với đầu vào 85 học sinh lớp 6.

Các Trường Trung học phổ thông ở Việt Nam dạy tiếng Nhật

Trường THPT Chu Văn An, THPT Việt Đức, Trường THPT Kim Liên, THPT Chuyên Ngoại Ngữ là một số trường cấp III có tiếng tại Hà Nội đào tạo tiếng Nhật cho học sinh bằng chương trình tập trung. Hình thức tuyển sinh của các trường đa số thông qua bài thi chuyển cấp hoặc bài đánh giá năng lực đầu vào tiếng Nhật của học sinh.

Các trường THPT tại Đà Nẵng có chương trình đào tạo tiếng Nhật dành cho học sinh: trường THPT Phan Châu Trinh, THPT Hoàng Hoa Thám. Các trường này tuyển học sinh từ các trường THCS có chương trình đào tạo tiếng Nhật hoặc các học sinh thông qua bài khảo sát tiếng Nhật tại trường.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, các trường cấp III dạy tiếng Nhật: trường THPT Marie Curie, Trường THPT Lê Quý Đôn, THPT Trưng Vương, THPT Việt Nhật, Trường Trung học phổ thông Sài Gòn là các trường có chương trình dạy tiếng Nhật cho học sinh thông qua phương thức tuyển sinh.

Chương trình đào tạo Nhật ngữ gồm 5 cấp độ từ N5 đến N1

Để có thể giao tiếp và làm việc được cho các công ty, doanh nghiệp Nhật Bản thì các em cần có trình độ N3 bao gồm để có thể nghe hiểu tiếng Nhật ở mức căn bản, N4 – có thể hiểu tiếng Nhật căn bản, N3 – có thể hiểu và dùng tiếng Nhật ở những tình huống nhất định trong công việc hằng ngày. Nếu những học sinh giỏi có thể đạt đến trình độ N2 để hiểu tiếng Nhật ở nhiều tình huống đa dạng khác nhau và khi đạt đến trình độ N1 thì kỹ năng tiếng Nhật sành sỏi như người Nhật. Các em có thể lấy bằng JLPT khi xác định được bản thân có năng lực về tiếng Nhật, cũng như tự tin bản thân sẽ đạt được một trình độ tiếng Nhật.