Xu Hướng 2/2023 # Tổ Chức Trò Chơi Trong Dạy Học Tiếng Anh Lớp 7 # Top 11 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tổ Chức Trò Chơi Trong Dạy Học Tiếng Anh Lớp 7 # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Tổ Chức Trò Chơi Trong Dạy Học Tiếng Anh Lớp 7 được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong thời kì đổi mới đất nước, nguồn lực con người có vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đào tạo những con người phát triển về thể chất, trí tuệ, năng lực ứng dụng sáng tạo là vấn đề cấp bách. Công cuộc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học là nhiệm vụ, là trách nhiệm của toàn ngành, của từng nhà trường, của mỗi giáo viên … Có thể nói: Đổi mới phương pháp là việc làm cụ thể hoá chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước về giáo dục.

Môn Tiếng Anh trong thời kì hội nhập và phát triển, thời kì bùng nổ của công nghệ thông tin có vai trò hết sức quan trọng. Tiếng Anh không đơn giản học để biết, có nó như món hàng trang sức mà thực tế nó không thể thiếu ngay trong cuộc sống sinh hoạt, học tập và công tác ngày thường. Chính vậy, mục tiêu đặt ra trong dạy học bộ môn là: Hình thành, phát triển kiến thức, kĩ năng cơ bản cho HS, vốn tri thức đó sẽ đặt nền móng cho các em để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống. Các em biết vận dụng nó như một công cụ giao tiếp và tư duy, biết sử dụng Tiếng Anh trong giao tiếp đơn giản và hiểu biết khái quát về nền văn minh nhân loại, nền văn hóa các nước qua từng bài học. Vậy làm thế nào để các em yêu thích bộ môn? làm thế nào để dạy học Tiếng Anh có chất lượng? Chúng ta không thể không tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực trong từng tiết học, trong mỗi bài dạy…Trong đó tổ chức trò chơi là một hình thức dạy học tích cực. 2. Cơ sở thực tiễn: ” Đổi mới phương pháp” là một thuật ngữ hết sức chung chung cho tất cả các môn học, các cấp học. Mỗi chúng ta cần có sự vận dụng sáng tạo theo đặc trưng môn học mình phụ trách, phù hợp với từng kiểu bài và cho các đối tượng HS. Trong dạy học ngoại ngữ : phương pháp giao tiếp ( Communicative approach) mang tính đặc thù bộ môn. Việc tạo cho các em một môi trường giao tiếp có thể bỏ qua mọi áp lực, học hết mình, thể hiện chính mình – đó chính là ” trò chơi trong tiết học Tiếng Anh”..

Skkn Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI:“TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1”PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài:Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo. Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên – xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Thế nhưng đối với lứa tuổi này, các em rất dễ nhàm chán khi nghe những lời nói mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc hoặc những yêu cầu khô khan mà các em phải thực hiện theo. Đề tạo hứng thú cho học sinh chú ý vào tiết học, tích cực tham gia các hoạt động học tập là một giáo viên chủ nhiệm lớp không thể không suy nghĩ, tìm tòi để đưa ra phương hướng giảng dạy mang lại hiệu quả nhất định. Và điều cần thiết không thể thiếu đó là lồng ghép trò chơi có nội dung bài học vào các hoạt động dạy học. Trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với lứa tuổi tiểu học. Nhất là học sinh lớp Một, Giai đoạn chuyển từ chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động chính là học.

Đông

Xuân

Thu Cây bàng* Chuẩn bị: Giáo viên có 10 chú ong có ghi nội dung từ + 10 bông hoa có ghi từ, cụm từ.VD : Khi dạy bài vần ang – anh ,giáo viên chuẩn bị : 5 x 2 hình vẽ hoa có ghi chữ: cây /buôn /hải / cành / hiền 5 x 2 hình vẽ ong có ghi chữ: chanh /làng /cảng /bàng /lành * Tổ chức: – Chơi tiếp sức – Giáo viên gắn một cột bông hoa có chữ, một cột ong có chữ học sinh thi đua gắn ong vào sát hoa để có từ và đọc từ. Đội nào đọc nhanh sẽ thắng.

 Trò chơi “câu cá” * Mục tiêu: Giúp mở rộng vốn từ, ôn vần đã học, rèn kĩ năng đọc. * Chuẩn bị: 2 nón có gắn vần ôn. Những con cá có ghi từ có vần ôn, đính trên bảng lớp. * Cách chơi: Học sinh đội nón có vần nào, tìm những từ có tiếng mang vần đó xếp qua một bên. Đội nào nhanh và đúng là thắng. VD: Khi ôn vần anh / ach (bài chính tả “Cái Bống”) * Chuẩn bị:

Một Số Biện Pháp Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1

Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo.

Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên – xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài: Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo. Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên - xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng đối với lứa tuổi này, các em rất dễ nhàm chán khi nghe những lời nói mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc hoặc những yêu cầu khô khan mà các em phải thực hiện theo. Đề tạo hứng thú cho học sinh chú ý vào tiết học, tích cực tham gia các hoạt động học tập là một giáo viên chủ nhiệm lớp không thể không suy nghĩ, tìm tòi để đưa ra phương hướng giảng dạy mang lại hiệu quả nhất định. Và điều cần thiết không thể thiếu đó là lồng ghép trò chơi có nội dung bài học vào các hoạt động dạy học. Trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với lứa tuổi tiểu học. Nhất là học sinh lớp Một, Giai đoạn chuyển từ chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động chính là học. Mặt khác khi chơi trò chơi học tập, các em phải huy động nhiều giác quan để tham gia. Rất dễ nhận thấy điều này khi quan sát một tiết học của học sinh lớp Một: các em chỉ tập trung nghe bạn, nghe cô nói một lúc đầu, sau đó thì đa số trẻ bắt đầu mất trật tự, không chú ý hoặc làm việc riêng. Phải làm thế nào để thu hút mọi học sinh trong lớp vào việc học mà không gây cho các em cảm giác mệt mỏi, là vấn đề vô cùng khó khăn đối với một giáo viên phụ trách lớp Một. Bởi vì chỉ khi học sinh tự giác tham gia vào các hoạt động học thì lúc đó các em mới thực sự tiếp thu bài học và biến sự "hiểu biết" thành kiến thức, kĩ năng của chính mình. Qua nhiều năm dạy lớp Một tôi đã cố gắng đi tìm lời đáp cho câu hỏi: "Làm thế nào để thu hút học sinh tích cực, tự giác tham gia các hoạt động học tập?" Sau khi tìm hiểu, thử nghiệm tôi nhận ra rằng: học sinh rất hứng thú khi được tham gia trò chơi học tập. 2. Mục đích nghiên cứu: - Đề tài nghiên cứu này nhằm giúp cho học sinh có thói quen học tập để tạo hứng thú học tập và tự củng cố được kiến thức của mình, tích cực hoạt động tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kỹ năng bằng nhiểu hình thức cá nhân, nhóm lớp. - Tạo môi trường không khí lớp học sinh động thoải mái phù hợp với tâm lý của trẻ "Vừa học vừa chơi" phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của các em. - Tạo sự gắn bó thân thiện giữa các em học sinh với nhau, giữa giáo viên và học sinh. PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Năm học 2010 - 2011 tôi được phân công dạy lớp 12, lớp tôi quản lý tổng số có 34 học sinh trong đó 11 nữ, 23 nam. Trong công tác chủ nhiệm có một số thuận lợi và khó khăn như sau: 1. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, của phụ huynh học sinh. - Cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ. - Đồ dùng dạy học và các phương tiện hỗ trợ dạy học tương đối đầy đủ. - Học sinh đa số đã được học qua mẫu giáo. 2. Khó khăn: - Còn một số phụ huynh có ít thời gian chú ý đến việc học tập, chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. - Học sinh còn thụ động trong việc học, chưa tự giác tham gia các hoạt động học tập. - Học sinh lớp Một thường phát âm sai vần, sai âm đầu, và sai cả âm cuối. PHẦN III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Học sinh lớp Một chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập điều này sẽ gây cho học sinh mệt mỏi, chính vì vậy giáo viên phải tạo điều kiện cho các em học sinh học mà chơi - chơi mà học bằng cách kết hợp trò chơi trong học tập để dạy tốt nhằm tạo ra không khí lớp học sinh động, vui vẻ. - Học sinh tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi. Đọc : Thực tiễn cho thấy học sinh lớp Một thuộc tương đối nhanh bài vừa học. VD: Khi học bài vần "ăt" - "ât" học sinh sẽ đọc rất nhanh những từ ứng dụng có trong sách giáo khoa. Nhưng với những chữ ngoài sách giáo khoa có vần "ăt", "ât" học sinh sẽ lúng túng, đánh vần rất chậm. Đó là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi: học sinh lớp Một ghi nhớ máy móc, tư duy trực quan, khả năng tập trung chú ý không cao, nên rất dễ dẫn dến học vẹt. Từ đặc điểm tâm lý này, người giáo viên nên có cách riêng để tổ chức cho học sinh có nhiều cơ hội luyện đọc. Việc luyện đọc âm, vần vừa học càng nhiều càng giúp các em nhớ chữ và đọc trôi chảy. Mặt khác cũng do tâm lý lứa tuổi, học sinh lớp Một không bao giờ tập trung vào một việc làm quen thuộc trong một thời gian dài. VD: Khi giáo viên muốn học sinh tự rèn luyện kĩ năng đọc từ và câu trong bài học, giáo viên thường đưa ra yêu cầu: "các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài" thì chỉ ít phút sau đó lớp học đã lao xao tiếng nói và sẽ có nhiều em nói chuyện, làm việc riêng. Khi giáo viên gọi học sinh đứng lên để kiểm tra thì kết quả giáo viên sẽ nhận được là kết quả ngoài ý muốn - các em vẫn phải đánh vần từng chữ, thậm chí có những em không hề đọc khi được giáo viên mời đứng dậy thì lúng túng, ngập ngừng thật lâu mới đánh vần được. Vậy thì làm cách nào để học sinh tự giác, mong muốn đọc được những con chữ kia? Hãy kích thích tính tò mò và tính hiếu thắng của trẻ con bằng những trò chơi có lồng ghép nội dung học tập. Cụ thể giáo viên sẽ thay yêu cầu: "Các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài!", bằng lời mời gọi: "Chú ong này đang cõng một chữ, bông hoa này cũng đang có một chữ. Các em hãy giúp chú ong này tìm đúng bông hoa để khi đọc lên ta sẽ có một từ. Chắc chắn 100 % học sinh trong lớp sẽ "hướng mắt nhìn, miệng đọc" để tìm cho ra chữ. Như vậy để đạt mục đích : học sinh luyện đọc tự giác và đọc trên nhiều dữ liệu ta chỉ cần thay đổi một chút trong phương pháp dạy học đó là tổ chức trò chơi. b) Viết: Đối với học sinh viết đúng chính tả Tiếng Việt là một việc làm khó. Bởi Tiếng Việt của chúng ta có nhiều quy tắc viết. VD: Để biểu thị vỏ âm thanh của âm tiết /c/ có đến 3 cách viết: c; k ; q; /ng/ có 2 cách viết: ng ; ngh. Bên cạnh hiện tượng có nhiều cách viết cho một âm tiết thì việc phát âm theo tiếng địa phương cũng gây trở ngại rất lớn cho việc học viết chính tả. Dễ nhận thấy học sinh lớp Một phát âm sai vần, sai âm đầu,và sai cả âm cuối. Hãy nghe học sinh đọc: "cánh buồm" thành "cánh bườm", "cá rô" thành "cá gô", "bàn ghế" thành "bàng ghế" Tôi đã thử nghiệm bằng cách dạy các em phát âm đúng để viết chính tả đúng nhưng kết quả không như mong muốn. Vì trong thực tế các em chỉ nghe một mình cô dạy đọc "cái bàn", "bàn tay" còn xung quanh cha mẹ, bạn bè, giao tiếp đều đọc "cái bàng", "bàng tay". Vậy thì làm cách nào để học sinh viết đúng chính tả?. Nguyên tắc: "thực hành nhiều sẽ thành kĩ năng" tôi lại đem áp dụng ở đây. Và trò chơi học tập là một phương tiện có hiệu quả . VD: Để giúp học sinh nhớ quy tắc viết : g - gh tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò " Tìm nhà cho chữ" (minh họa trò chơi ở phần sau) c) Mở rộng vốn từ: Hiểu nghĩa của từ cũng là một mục tiêu cần đạt khi dạy Tiếng Việt lớp Một. Mặc dù mục tiêu này không đặt nặng nhưng chỉ cần giáo viên có một chút tìm tòi thì học sinh sẽ có cơ hội mở rộng sự hiểu biết và ham thích học tập. Thiết nghĩ đây cũng là việc giáo viên nên làm. Trong thực tế, ở mỗi tiết học tôi thường đưa ra một câu đố (thường là câu đố dân gian) để kích thích trí tò mò, ham tìm hiểu của học sinh . VD: Khi đọc vần "âu" giáo viên ra câu đố về con trâu, học vần "uôi" giáo viên ra câu đố về con muỗi (minh họa trò chơi ở phần sau) Tóm lại, để đạt được mục tiêu giáo dục đã định, tôi đã đưa ra những trò chơi học tập phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Và thực tế đã có kết quả rất khả quan. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TIẾNG VIỆT LỚP 1 1. Trò chơi rèn kĩ năng chính tả: µ Trò chơi " Tìm nhà cho chữ" * Mục tiêu : Rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đúng quy tắc chính tả * Chuẩn bị : VD : Để ghi nhớ quy tắc chính tả viết /ng/, /ngh/ giáo viên cần chuẩn bị + 2 x 6 thẻ chữ ng/ngh + 2 x 6 ngôi nhà có ghi: ng ngh ngh ng ngh ng .ỉ hè bé ủ ệ sĩ é ọ tre à cá .ừ Tổ chức chơi: Giáo viên gắn lên bảng những hình vẽ ngôi nhà có chữ còn thiếu âm ng/ ngh và thẻ chữ ng/ngh, học sinh thi đua (tiếp sức) gắn đúng thẻ chữ ng/ngh vào ngôi nhà thích hợp. Đội nào nhanh, đúng sẽ thắng. µ Trò chơi " Ai nhanh tay" * Mục tiêu: Luyện kĩ năng đọc và viết từ ứng dụng. * Chuẩn bị: Giáo viên có các thẻ ghi từ ứng dụng (ghi thiếu vần). Học sinh có bảng con. * Tổ chức: Giáo viên gắn các thẻ từ lên bảng, cả lớp ghi vào bảng con vần cần điền. Tổ nào có nhiều bạn chính xác và nhanh sẽ thắng. µ Trò chơi "chung sức" * Mục tiêu: Rèn kĩ năng viết đúng chính tả. * Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (minh họa ở dưới) * Tổ Chức: Giáo viên phát phiếu cho các tổ học sinh, học sinh các tổ ghi chữ còn thiếu vào ô trống , tổ nào nhanh và đúng sẽ thắng. VD: Khi dạy tập đọc bài "Quyển vở của em", giáo viên hướng dẫn học sinh ôn vần bằng phiếu. Đáp án: (1) Tuyết rơi (3) Tiết kiệm (2) Hiểu biết (4) Tuyệt đẹp 2. Trò chơi rèn kĩ năng đọc nhanh từ ứng dụng : µ Trò chơi " Ai tinh mắt" * Mục tiêu: Luyện đọc nhanh từ ứng dụng * Chuẩn bị: Giáo viên ghi các từ ứng dụng lên bảng lớp. * Tổ chức: Học sinh chia làm 2 đội (chơi tiếp sức) thi đua gạch chân và đọc từ có vần vừa học. Đội nào làm nhanh, đọc đúng sẽ thắng. 3. Trò chơi giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc và rèn kĩ năng nói: µ Trò chơi "cùng đồng đội" * Mục tiêu: Giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc và rèn kĩ năng luyện nói. * Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (VD: khi dạy bài cây bàng). Đề bài: Điền vào chỗ trống trong sơ đồ để thấy sự thay đổi của cây bàng qua từng mùa trong năm. * Tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 4 đội, mỗi đội tìm hiểu và điền vào phiếu: Sự thay đổi của cây bàng qua từng mùa trong năm. Đại diện tổ trình bày miệng. Cây bàng Đông Xuân Hè Thu 4. Trò chơi mở rộng vốn từ : µ Trò chơi " ong tìm hoa" * Mục tiêu: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc lưu loát, hiểu nội dung đọc và mở rộng vốn từ. * Chuẩn bị: Giáo viên có 10 chú ong có ghi nội dung từ + 10 bông hoa có ghi từ, cụm từ. VD : Khi dạy bài vần ang - anh ,giáo viên chuẩn bị : 5 x 2 hình vẽ hoa có ghi chữ: cây /buôn /hải / cành / hiền 5 x 2 hình vẽ ong có ghi chữ: chanh /làng /cảng /bàng /lành * Tổ chức: - Chơi tiếp sức - Giáo viên gắn một cột bông hoa có chữ, một cột ong có chữ học sinh thi đua gắn ong vào sát hoa để có từ và đọc từ. Đội nào đọc nhanh sẽ thắng. buôn chanh làng cành cảng cây hải bàng lành hiền µ Trò chơi "câu cá" * Mục tiêu: Giúp mở rộng vốn từ, ôn vần đã học, rèn kĩ năng đọc. * Chuẩn bị: 2 nón có gắn vần ôn. Những con cá có ghi từ có vần ôn, đính trên bảng lớp. * Cách chơi: Học sinh đội nón có vần nào, tìm những từ có tiếng mang vần đó xếp qua một bên. Đội nào nhanh và đúng là thắng. VD: Khi ôn vần anh / ach (bài chính tả "Cái Bống") * Chuẩn bị: anh ach túi xách tay hộp bánh nhanh nhẹn quyển sách hiền lành bức tranh sạch sẽ róc rách µ Trò chơi "Đố vui" * Mục tiêu: giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn kĩ năng phán đoán sự vật, hiện tượng dựa vào những dấu hiệu được gợi ý qua câu đối * Chuẩn bị: giáo viên sưu tầm câu đố dân gian * Phụ lục câu đố: - Có chân mà chẳng biết đi Có mặt phẳng lì cho bé ngồi lên. (cái ghế - dạy bài vần "gh/g" ) - Chẳng biết mặt mũi ra sao Chỉ nghe tiếng nổ trên cao ầm ầm. (sấm - dạy bài vần "âm" ) - Không chân không tay mà hay mở cửa. (chìa khóa -dạy bài vần "oa" ) - Da cóc mà bọc trứng gà Mở ra thơm phức cả nhà muốn ăn. (quả mít - dạy bài vần "it" ) -Ruột dài từ mũi đến chân Mũi mòn ruột cũng dần dần mòn theo. (bút chì - dạy bài vần "ut" ) Không phải bò Không phải trâu Uống nước ao sâu Lên cày ruộng cạn (bút mực - dạy bài vần " ưc" ) 5. Lựa chọn phương pháp: - Phương pháp quan sát. - Phương pháp học theo nhóm. - Phương pháp động não. - Phương pháp thực hành. - Phương pháp thi đua khen thưởng. - Việc lựa chọn vận dụng phối hợp các phương pháp một cách hợp lý, linh hoạt sẽ nâng cao hiệu quả trò chơi, vì không có phương pháp nào là vạn năng. Sẽ giúp các em học tốt và phát triển năng khiếu tư duy ham học hỏi. PHẦN IV: KẾT QUẢ 1. Kết quả của việc ứng dụng đề tài. - Với phương pháp dạy học bằng trò chơi vào giờ học Tiếng việt giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn, học sinh tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo trong việc củng cố và lĩnh hội tri thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không mang tính áp đặt. Trò chơi tạo cho không khí lớp được thoải mái, phấn khởi. Qua các trò chơi học tập, rèn luyện cho các em óc quan sát, trí nhớ phát triển, tư duy và tiếp thu bài có hiệu quả hơn. Trò chơi học tập giúp cho các em ghi nhớ kiến thức đã học. Các em có sự tiến bộ rõ rệt ở hai mặt kĩ năng giao tiếp và kĩ năng đọc, viết Tiếng việt. 2. Kết quả đạt được: Qua một thời gian thực hiện đưa trò chơi học tập vào giờ học Tiếng Việt trên tinh thần phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh, tôi nhận thấy các em học sinh lớp tôi có sự tiến bộ rõ rệt ở 2 mặt Kĩ năng giao tiếp và kĩ năng đọc, viết Tiếng Việt. Về tâm lý các em mạnh dạn hoà đồng, hăng hái phát biểu ý kiến. Đọc viết theo tốc độ quy định tăng lên. * Chuyển biến tâm lý từ đầu năm học đến cuối học kỳ I năm học 2010 - 2011: Chuyển biến về Tâm lý Đầu năm học Cuối Học Kì I Nhút nhát, thiếu tự tin, nói nhỏ 25/34 học sinh 4/34 học sinh Mạnh dạn, hòa đồng, hăng hái phát biểu ý kiến 13/34 học sinh 28/34 học sinh * Kết quả học tập: Loại Đầu năm học Cuối Học Kỳ I Đọc + Viết chậm 24/34 học sinh 11/34học sinh Đọc + Viết theo tốc độ quy định 10/34 học sinh 23/34học sinh PHẦN V: BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua thực tiễn giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm khi thiết kế và tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt lớp Một như sau: µ Trò chơi có thể được tổ chức ở bất kì ở mỗi bước lên lớp của một giờ : kiểm tra bài cũ, hình thành bài mới, củng cố bài µ Mỗi trò chơi học tập phải là một bộ phận của tiến trình lên lớp và phải giải quyết được mục tiêu bài học. µSau mỗi trò chơi, giáo viên phải giúp học sinh rút ra được bài học từ trò chơi đó. µ Giáo viên cần lựa chọn cách chơi sao cho trong mỗi trò chơi càng nhiều học sinh được tham gia càng tốt. µ Giáo viên cần tỏ thái độ quan tâm, khích lệ, động viên những học sinh chậm; học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ. Tránh để các em này có tâm lý "mình dở, mình luôn thua bạn". µ Giáo viên cần tự học tập và rèn luyện cho mình khả năng quan sát, óc phán đoán và hiểu tâm lý trẻ để mỗi lần tổ chức trò chơi là một lần học sinh được tạo điều kiện để phát triển tối đa khả năng, kinh nghiệm, năng lực của mình. PHẦN VI: KẾT LUẬN Trước yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi những người trực tiếp giảng dạy phải nghiên cứu tìm ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh. Một tiết dạy giáo viên không chỉ nắm chắc nội dung kiến thức mà phải biết phối hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp để không ngừng nâng cao kết quả dạy học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao mục tiêu giáo dục Tiểu học. Tuy nhiên, đây chỉ là những kinh nghiệm của cá nhân và chỉ mới được áp dụng trong phạm vi một lớp học nên có lẽ đề tài này cũng cần hoàn thiện ở mức cao hơn. Vậy tôi mong muốn nhận được những đóng góp chân thành của quý thầy cô để giúp tôi áp dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn giảng dạy được tốt hơn. Minh Hòa, ngày 26 tháng 01 năm 2011 Người viết Phaïm Thò Haûi PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH HÒA PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1 PHẦN I: Lý do chọn đề tài 1- 2 2 PHẦN II: Đặcđiểm tình hình 3 3 PHẦN III: Thực trạng và giải pháp 4 - 6 4 Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập 7 - 13 5 PHẦN IV: Kết quả 14 - 15 6 PHẦN V: Bài học kinh nghiệm 16 7 PHẦN VI: Kết luận 17 8 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học cấp Trường 18 9 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học Phòng GD & ĐT Huyện Dầu Tiếng. 19 10 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học Sở GD & ĐT Tỉnh Bình Dương. 20

Một Số Trò Chơi Trong Dạy Học Môn Tiếng Anh

1. Car Race Xếp các flash card thành một hàng dài, một đầu là điểm xuất phát, đầu kia là đích đến. Cho mỗi trẻ một vật, ví dụ như một cái xe oto đồ chơi nhỏ, để làm vật đánh dấu.Trẻ thứ nhất tung xúc xắc, và di chuyển đến vị trí flashcard cách vị trí hiện tại số flashcard bằng số chấm trên mặt xúc xắc tung được. Trẻ phải nói được từ trên flashcard ở vị trí mới. Nếu nói đúng, trẻ được đứng tại vị trí mới và trẻ nào về đích đầu tiên sẽ thắng. Nếu nói sai, trẻ phải quay lại vị trí trước lượt tung xúc xắc vừa rồi. Đặt một tờ giấy màu đánh dấu vị trí mà trẻ phải quay lại để làm lại lượt mới. Trên con xúc xắc quy ước một mặt, ví dụ mặt số 4 là “crash number “. Nếu tung được mặt này, trẻ phải quay lại điểm xuất phát và chơi lại từ đầu. 2. Charades Chia lớp thành hai hàng. Hai bạn đứng đầu mỗi hàng tiến lên phía trước. Giáo viên thì thầm một từ hoặc chỉ một flash card cho hai bạn đó, ví dụ như ngủ, ăn, đá bóng, đánh răng…. Hai bạn sẽ cố biểu diễn để gợi ý từ đó cho hàng mình hiểu. Hàng nào nói ra được từ đó trước sẽ giành được điểm.

3. Commando Giáo viên giả làm sĩ quan chỉ huy ra lệnh cho cả lớp hoặc cho từng bạn. Trò này giúp giải phóng năng lượng rất nhiều và là cách tốt để review lại các từ chỉ hành động, màu sắc, con số hoặc nhiều thứ khác. Ví dụ “Hãy nhảy 10 lần”, “Hãy chạm vào đầu/đầu gối/…”, “Hãy sờ vào cái bảng/TV/cái bút….”, “Hãy xoay vòng tròn”, “Đứng lên, ngồi xuống”,…

4. Concentration / Memory Cho trẻ ngồi xếp thành vòng tròn. Trải 2 bộ flashcard giống nhau, úp mặt xuống. Để các con lần lượt lật 2 card và đọc từ lên. Ai lật được 2 card giống nhau, con được giữ lại cards. Nếu chúng khác nhau, con lại úp chúng xuống. Bạn nào có được nhiều card nhất thì thắng.

5. Crazy Train Cho các con xếp sau giáp viên thành một đoàn tàu. Giáo viên đưa ra các mệnh lệnh như “faster”, “slower”, “turn left”, and “stop”.

6. Dance Of The Ostriches Chia hai con thành một cặp và dán vào lưng mỗi con một flashcard. Mỗi con phải cố gắng nhìn được lưng bạn kia và hét to được từ dán trên lưng bạn trước khi bạn làm được như vậy với từ của mình.

7. Draw It Relay Chia các con thành hai nhóm. Thì thầm một từ cho bạn đầu tiên của mỗi nhóm, để hai bạn cố chạy lên bảng và vẽ ra từ đó càng nhanh càng tốt. Đội nào nhanh hơn đội đó thắng.

10. Flash Card Walk Xếp các flashcard thành một vòng tròn to. Cho các con nghe nhạc trong khi đi dạo quanh vòng trò. Khi nhạc dừng, giáo viên hô to một flashcard, bạn nào đang đứng cạnh flashcard đó thì thắng.

11. Follow The Leader Học sinh đứng xếp hàng sau lưng thầy giáo và làm theo các động tác của thầy. Sử dụng trò này để ôn lại các từ vựng về đồ dùng trong lớp hoặc động tác. Cho học sinh cơ hội thay thầy dẫn đầu để tăng phần thú vị.

12. Grab It Relay / Race to Touch Đặt một số flashcards ở cuối phòng, chia các bé ra thành các đội. Đọc tên một flashcard, bé đầu tiên trong hàng của mỗi team sẽ phải chạy lên để lấy flashcard về cho đội mình sau đó xếp vào cuối hàng, người tiếp theo tiếp tục chạy lên lấy flashcard theo hiệu lệnh của giáo viên. Đội nào lấy được nhiều flashcard hơn sẽ thắng cuộc.

13. Go Fish Cho mỗi bạn chọn hai flashcard. Các bạn phải giữ mặt flashcard úp kín xuống. Giáo viên chọn một học sinh và hỏi “Do you have a cat?”. Nếu câu trả lời là Yes, học sinh sẽ đưa cho GV flashcard tương ứng. Cho các bạn học sinh tự hỏi lẫn nhau. Bạn nào hết flashcard thì được ra ngoài.

14. I’ve Got It Cho các bé xếp vòng tròn, đưa mỗi bé một flashcard. Giáo viên sẽ đặt câu hỏi “What is it”, các học sinh sẽ đứng lên và đọc to flash card của mình, tiếp tục cho tới khi tất cả học sinh đều đứng lên. Tiếp đó, lặp lại cho tới khi các học sinh đều ngồi xuống. Thay đổi tốc độ để cho học sinh đứng lên và ngồi xuống liên tục .

15. Hot Potato và Pass it Cho học sinh ngồi xếp thành hàng. Giáo viên cầm một flashcard hoặc một vật (ví dụ ball, pen, eraser,…), đọc từ lên và chuyển nó cho học sinh bên cạnh. Học sinh nhận card/vật, nói lại từ đó và chuyển nó sang bên cạnh tiếp. Sau một vài vòng thì đảo ngược lại chiều và tăng tốc.

Tương tự như trên, nhưng đặt giới hạn thời gian cho tăng tính hấp dẫn. Đặt timer 10 giấy. Khi hết thời gian, bạn đang cầm card phải nói ra được từ vựng/cấu trúc đang cầm.

16. Jumping The Line Đặt một dải khăn/băng giữa sàn hoặc vẽ một đường kẻ để chia đôi phòng. Gán một nửa là “True” và nửa còn lại là “False”. Cho học sinh xếp hàng ở đường giữa, GV cầm một flashcard và nói một từ. Nếu học sinh nghĩ từ GV nói đúng với flashcard thì nhảy về phía “True”, sai thì nhảy về phía”False”. Học sinh nào phạm lỗi thì ra ngoài ngồi chờ cho đến vòng chơi sau.

17. Memory Tray Mang vào một khay gồm nhiều vật khác nhau để ôn các từ mới học. Nói ra tên các vật đó và cho học sinh một phút để nhớ trên khau có những gì. Cất khay đi để xem học sinh nhớ được bao nhiêu vật. Các học sinh lớn thì nên viết ra danh sách các vật. Bạn nào nhớ được nhiều nhất thì giành điểm. Có thể thay các vật thành các flashcards.

18. Memory Master Cho các bạn ngồi xếp vòng tròn. Giao cho một bạn làm Memory Master. Xếp các flashcard (ngửa mặt) vào giữa vòng. Mỗi bạn chọn một flashcard và nói từ nhưng không chạm vào flashcard. Sau khi tất cả các bạn đã chọn. bạn làm Memory Master phải trả về cho từng bạn đúng tấm flashcard mà bạn đó đã nói.

19. Musical Chairs Xếp ghế và đặt một flashcard trên mỗi ghế. Bật một bài hát và các hs phải chạy, nhảy xung quanh ghế. Khi nhạc dừng, hs phải ngồi xuống ghế và đọc to flashcard trên ghế. Để tăng thêm phần thú vị cho trò chơi, giáo viên có thể bỏ bớt 1 ghế sao cho số ghế lúc nào cũng ít hơn số học sinh

20. Pictionary Cho một em đứng lên phía trước và đưa cho em một flashcard. Em sẽ cố vẽ nó lên bảng. Em đầu tiên đoán được từ mà bạn vẽ hình lên sẽ được điểm. Có thể chia các em thành đội để chơi trò này.

21. Quick Peek Che một flashcard đi rồi lại show nó ra thật nhanh để trẻ nhìn lén. Bạn nào đoán đúng từ sẽ giành điểm.

22. Shoot The Basket Trò này có thể chơi theo nhóm hoặc cá nhân. Hỏi mỗi trẻ một câu và nếu trả lời đúng trẻ được quyền làm một việc gì đó như ném bóng vào vào rổ, quăng vòng vào mục tiêu, ném đổ lon bia… Ném trúng thì thì được ghi điểm. Slam

Cho học sinh ngồi xếp vòng tròn, tay đặt lên đầu. Trải các tấm flashcard (ngửa mặt) ở giữa vòng tròn. Giáo viên đọc to một tấm và các bạn cố lấy được tấm đó. Bạn nào lấy được trước thì được giữ nó và được một điểm. Chơi xong mà các bạn ngang điểm thì chơi thêm trò ‘Rock, Scissors, Paper’ để phân thắng bại.

23. Slow Motion Đặt flashcard ở sau một cái túi (hoặc thứ gì đó che đi flashcard), chậm rãi kéo vật che khỏi flashcard, học sinh nào đoán đúng flashcard trước sẽ được thưởng.

24. Topic Tag Giáo viên đưa ra một topic, ví dụ fruit. Học sinh phải chạy xung quanh phòng để tránh bị giáo viên bắt được. Nếu một học sinh bị bắt, em đó sẽ phải đọc tên một loại fruit trong vòng 5 giây. Nếu không đọc được tên fruit hoặc fruit đó đã được đọc ra trước đó rồi, học sinh sẽ bị thua cuộc và phải làm người đuổi bắt.

25. Touch Bảo học sinh chạm vào các thứ có trong phòng, ví dụ “Touch your book”, “Touch something red”.

26. Vocab with Rock, Scissors, Paper Xếp các flashcard thành hàng thẳng trên sàn. Chia lớp thành hai đội xếp ở hai đầu của đường flashcard. Khi giáo viên nói “Go”, bạn đầu tiên của từng đội bước lên từ điểm xuất phát, dừng chân ở từng flashcard và đọc to từng từ. Khi hai bạn gặp nhau, các bạn sẽ chơi trò Rock, Scissors, Paper (oẳn tù tì)., bạn thua thì đi về hàng mình, bạn thắng thì đi tiếp, vừa đi vẫn vừa đọc hàng flashcard. Bạn thứ hai của hàng thua bắt đầu đi và đọc từ cho đến khi hai bạn gặp nhau thì lại Rock, Scissors, Paper, cứ thế. Bạn nào đến được đầu kia trước thì thắng.

27. What’s Missing? Đặt 8-10 flashcard trên bàn (hoặc trên tường). Để cho các học sinh nhìn flashcard trong 1 phút, sau đó để các bé nhắm mắt lại và lấy đi 1 flashcard. Để các bé mở mắt ra và hỏi xem flashcard nào đã biến mất. Học sinh đưa ra câu trả lời đúng sớm nhất sẽ thắng.

28. I spy

Trong trò chơi này bé sẽ được trở thành một điệp viên, đi tìm các tấm flashcard được đặt rải rác khắp phòng. Mỗi khi thầy/ cô nói “I spy with my little eyes something that begins with “d”…” (Bằng đôi mắt nhỏ tôi sẽ đi tìm những từ bắt đầu bằng chữ cái “d”). Trẻ sẽ phải đi quanh phòng và tìm những tấm flashcard theo yêu cầu, mỗi lần tìm được sẽ đọc to từ viết trên tấm thẻ đó. Thầy/ cô cũng có thể thay thế bằng các yêu cầu như “…something red” (vật có màu đỏ) hay “…the animals that live in jungle” (những động vật sống trong rừng nhiệt đới). Hs sẽ rất thích thú với những thử thách và sẽ nhanh chóng chạy đi tìm các tấm flashcard theo yêu cầu.

32. Dice

Học sinh ngồi vòng tròn. Mỗi lần tung xúc xắc, học sinh nói n điều về bản thân mình với n là số chấm trên mặt xúc xắc tung được. Ví dụ tung được 3 thì nói 3 điều về bản thân (tên, tuổi, màu sắc yêu thích, ect) Có thể đổi thành học sinh đó có quyền hỏi các bạn khác trong lớp 3 câu bất kỳ.

Nếu bài học có chủ điểm ngữ pháp cụ thể, có thể yêu cầu học sinh nói 3 câu sử dụng cấu trúc ngữ pháp vừa học.

33. Dice maker

34. Dragon eggs

Gv sử dụng mảnh ghép trứng ép plastic hoặc chất liệu alu. Trên các mảnh trứng gv có thể ghi các mẫu hội thoại ngắn, từ trái nghĩa, phonics…. Chia đội chơi, đội nào ghép đk nhiều quả trứng đúng nhất nhanh nhất thì thắng

35. Jumping mat

Thầy cô viết từ vựng trên bảng(hoặc gắn tranh ảnh,hay trải thảm ra nền) ra hiệu lệnh cho các con bắt đầu di chuyển, ai về đích trước thì đọc to và rõ từ đó, ai đọc nhanh là thắng, hoặc có thể cô giáo đoc từ nào các con dùng búa tay đập vào từ đó, đúng là thắng.

36. BLINDFORD game

37. Blindford game

Cho hs bịt mắt sau đó dấu 1 con cá ( mình đã viết từ muốn kiểm tra lên đó) giấu đi, nhớ xếp lại cá để k lộ nha. sau đó yêu cầu con bỏ bịt măt ( hoặc hiệu lệnh bằng còi ). rồi đoán từ đó, đoán được là winner

38. Magic wheel

-Ghi các con số và chữ Lucky. Chơi giống trò Lucky Number Ghi các điểm mất lượt, phần thưởng…. Chơi giống trò Chiếc Nón Kì Diệu trên TV -Viết các từ/hình ảnh/dán tranh lên… để ôn từ vựng -Ghi tên các bạn/các nhóm. Quay wheel để lựa chọn người thực hiện yêu cầu

39. Sticky ball

Lương Thị Thanh Vân @ 21:06 03/11/2019 Số lượt xem: 129

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổ Chức Trò Chơi Trong Dạy Học Tiếng Anh Lớp 7 trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!