Xu Hướng 2/2023 # Tiểu Thuyết Đương Đại Nhật Bản: 9 Tác Phẩm Nhất # Top 11 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tiểu Thuyết Đương Đại Nhật Bản: 9 Tác Phẩm Nhất # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Tiểu Thuyết Đương Đại Nhật Bản: 9 Tác Phẩm Nhất được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nhật Bản được cả thế giới công nhận là quốc gia có bản sắc văn hóa độc đáo. Không chỉ có bề dày lịch sử lâu đời, Nhật Bản còn có nhiều nền “văn hóa nhóm” rất đặc trưng, thu hút sự chú ý và mong muốn giao thoa văn hóa từ các quốc gia khác. Có thể kể đến phim ảnh, âm nhạc và những thói quen sinh hoạt có phần “hơi dị” đối với du khách quốc tế, ví dụ như luôn có một đôi dép để đi trong nhà vệ sinh, hoặc vô tư húp xì xụp khi ăn mì. Cho dù bị xem là kỳ quặc đến đâu đi nữa, Nhật Bản vẫn là đất nước được nhiều người yêu thích và được xem là rất hấp dẫn, rất “cool ngầu”.

Không chỉ có anime, manga, J-pop, Nhật Bản còn có nền văn học xuất sắc từ xưa đến nay. Nếu phải liệt kê tên một số tiểu thuyết đương đại của Nhật Bản, bạn sẽ nghĩ tới những tác phẩm nào đầu tiên? Có lẽ là tác phẩm Rừng Na Uy hoặc Kafka trên bờ biển của Haruki Murakami, hay cuốn Tạm biệt Tsugumi và Hồ của Banana Yoshimoto?

1. The Changeling (“Đứa trẻ thay thế”) của Kenzaburo Oe (2000)

Nhà văn Kenzaburo Oe xuất thân từ thành phố Uchiko của vùng Shikoku, từng được trao giải Nobel Văn học vào năm 1994 cùng nhiều giải thưởng khác. Ngoài viết tiểu thuyết, ông còn là tác giả của một số truyện ngắn và bài luận. Hiện nay, ông đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy” và được xem là một trong những cây đại thụ lớn của nền văn học Nhật Bản.

Cũng giống như những tiểu thuyết khác của Oe, The Changeling (取り替え子/ Torikae ko, Đứa trẻ thay thế) bị ảnh hưởng bởi phong cách văn học Mỹ – Pháp. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về mối quan hệ giữa hai người nghệ sĩ tài năng, Goro Hanawa và Kogito Choko. Trong khi Goro là một nhà làm phim nổi tiếng, Kogito chỉ là một tiểu thuyết gia đơn thuần ở tuổi 60 (có giả thuyết cho rằng nhân vật này là hiện thân của chính Oe). Mặc dù trong quá khứ, mối quan hệ giữa họ vô cùng căng thẳng, nhưng trước khi Goro quyết định tự sát, ông đã gửi những cuốn băng ghi âm cho Kogito – những cuốn băng là cách đối thoại do Goro đặt ra, được đặt tên là “Tagame”. Kogito đã sử dụng những cuộn băng này để tìm hiểu lí do Goro tự vẫn.

Tác phẩm chỉ vỏn vẹn 400 trang, được viết đơn giản nhưng vô cùng tinh tế. Vì thế, đây không phải là cuốn sách quá khó đọc, dù cách hành văn của Oe có phần “học giả”. Cùng với người đọc, Oe đã đặt các nhân vật của ông vào một tình huống khiến tất cả họ phải tự ngẫm về ý nghĩa của sống và chết, từ đó nghiệm ra rằng cách nhìn nhận quá khứ có thể điều khiển tương lai. The Changeling là một câu chuyện xuyên suốt, mạch truyện chậm rãi nhưng đầy ý nghĩa.

2. Colorless Tsukuru Tazaki and his Years of Pilgrimage (“Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương”) của Haruki Murakami (2013)

Nhiều người biết về tác giả Haruki Murakami như là một cây bút tiểu thuyết đương đại tiêu biểu của Nhật Bản, nắm giữ nhiều giải thưởng văn học, và là một trong những tác giả có doanh thu bán sách cao nhất trên thế giới. Có thể thấy, Haruki Murakami là cây bút tiếp thu nhiều nét văn hóa phương Tây, đặc biệt là âm nhạc và văn học. Và ông ấy mang tất cả những sở thích và kinh nghiệm sống của chính mình vào tác phẩm, đồng thời xây dựng tính cách của nhân vật trong truyện theo một cách rất Murakami. Một sự thật thú vị có thể bạn không biết, bên cạnh văn phong nghệ thuật, thì hầu hết các tựa đề tác phẩm đều gợi nhớ âm nhạc cổ điển phương Tây. Rừng Na Uy là một ví dụ, nó được đặt theo tên một bài hát nổi tiếng của The Beatles vào năm 1965.

Trong tác phẩm Colorless Tsukuru Tazaki and his Years of Pilgrimage (色彩を持たない多崎つくると、彼の巡礼の年/ Shikisai wo motanai Tazaki Tsukuru to, kare no junrei no toshi, Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương), Murakami kể lại câu chuyện của Tsukuru Tazaki, một cậu bé trong nhóm học sinh trung học, có cái tên mang ý nghĩa về màu sắc nhưng không được viết bằng chữ kanji, trong khi tên của những người bạn còn lại trong nhóm đều được viết bằng kanji với ý nghĩa về màu sắc như đỏ, xanh, trắng, đen. Trong những năm học đại học, cậu bỗng bị cô lập khi tất cả những người bạn từ thời trung học cắt đứt liên lạc với cậu. Tazaki khi đó đã bị ám ảnh bởi mất mát tinh thần to lớn, bắt đầu hành trình về quá khứ – điều cần thiết để cậu thay đổi hiện tại.

3. Kitchen (“Bếp”) của Banana Yoshimoto (1988)

Banana Yoshimoto là bút danh của Mahoko Yoshimoto, một nhà văn đương đại Nhật Bản. Yoshimoto là một phụ nữ có cái nhìn tinh tế và cũng rất bí ẩn khi không bao giờ tiết lộ đời tư của mình mà chỉ bàn bạc về các tác phẩm văn học.

Kitchen (キッチン, Bếp) là tiểu thuyết đầu tay của Yoshimoto, và sự thành công của nó đã mang về cho nữ nhà văn giải thưởng Izumi Kyoka Văn học. Nó cũng được chuyển thể thành phim điện ảnh rất thành công bởi đạo diễn người Hong Kong Yim Ho. Cuốn sách là câu chuyện về một cô gái trẻ tên Mikage, phải đối mặt với những mất mát do sự ra đi của người bà, và cùng lúc chuyển vào sống chung với bạn và người mẹ chuyển giới của cậu bạn ấy. Mikage đã cố gắng để bước ra khỏi bóng tối trong cuộc đời cô bé. Chủ đề chính của câu chuyện bao gồm tình yêu, tình bạn, sự trưởng thành và những bi kịch cuộc sống.

Mỗi phần trong câu chuyện cuộc đời của Mikage đều xoay quanh sự ra đi của một nhân vật nào đó và sự ra đi ấy hình thành tính cách của người kể truyện cũng như của các nhân vật khác, giúp họ tiếp tục cuộc hành trình của mình.

4. Audition (“Buổi thử vai”) của Ryu Murakami (1997)

Ryu Murakami là nhà văn đồng thời là nhà làm phim bậc thầy của dòng phim tâm lý-kinh dị Nhật Bản. Các tác phẩm của Ryu Murakami được cho là đi tiên phong một phong cách đột phá trong văn học kể từ khi các cuốn sách của ông được đánh giá là không chỉ đơn giản thuộc thể loại kinh dị hoặc tâm lý – kinh dị, mà còn đề cập tới những vấn đề khác như thuốc phiện và các chất gây nghiện. Những cuốn sách bán chạy nhất của ông gồm có Almost Transparent Blue (Gần như màu xanh trong), In the Miso Soup (Chép súp Miso) và Audition (Buổi thử vai).

Audition bắt đầu với một nhịp chậm rãi đến mức buồn ngủ. Cuốn sách kể về Aoyama, một nhà làm phim tài liệu chưa từng hẹn hò với ai trong vòng 7 năm kể từ cái chết của người vợ. Anh quyết định tìm kiếm một ai đó mới thông qua một buổi thử vai giả, và anh đã gặp “cô gái lý tưởng”, Asami – một cô gái xinh đẹp, có một quá khứ ồn ào và yêu anh không chút nghi ngờ. Nhưng sự mê đắm và mất lí trí khi yêu của Aoyama đã che mắt anh khỏi những sự thật đáng sợ bị giấu dưới lớp mặt nạ của Asami.

Câu chuyện trở nên li kì phức tạp hơn ở những chương cuối, nhưng tôi chắc chắn rằng những chi tiết trong truyện sẽ ám ảnh bạn. Các yếu tố nổi bật trong truyện cũng rất tiêu biểu cho thể loại văn học kinh dị. Bộ phim Buổi thử vai của Takashi Miike (1999) đã được công chiếu vô cùng thành công, phỏng theo tiểu thuyết này. Đó cũng là một trong những lí do tôi thích cuốn sách này hơn quyển In the Miso Soup – tác phẩm được cho là thành công nhất của Ryu Murakami.

5. Never Let Me Go (“Mãi đừng xa tôi”) Kazuo Ishiguro (2005)

Kazuo Ishiguro là một tiểu thuyết gia người Anh gốc Nhật. Tất cả những gì tôi có thể nói về Ishiguro là: ông ấy sở hữu rất nhiều giải thưởng, ví dụ như 4 tác phẩm văn học đầu tiên đều giành ít nhất một giải thưởng và tất cả đều là tác phẩm bán chạy nhất của nhà văn này. Ông ấy cũng từng thắng giải Nobel Văn học vào năm 2017.

Never Let Me Go là một tác phẩm khoa học viễn tưởng khi trên thế giới xảy ra nhiều điều tồi tệ, tại đó có một trường chuyên nội trú năm ở ngoại ô nước Anh, nơi có những bè phái và quy định huyền bí, nơi mà các giáo viên không ngừng tẩy não học sinh về việc chúng đặc biệt như thế nào. Các học sinh bị bắt buộc phải tuân theo kỷ luật và luôn luôn sống khỏe mạnh. Nhiều năm sau, Katy, một trong số các học sinh, trở thành một cô gái trẻ tuổi. Những người bạn học cũ, Ruth và Tommy, đã bước vào cuộc đời của Katy một lần nữa, và lần đầu tiên, cô bắt đầu nhìn lại quá khứ mà họ có chung và hiểu rõ điều gì khiến họ đặc biệt, và cách mà họ có thể dành thời gian còn lại cùng với nhau.

Never Let Me Go nằm trong danh sách đề cử giải thưởng Cuốn sách của năm 2005, giải thưởng Arthur C. Clarke năm 2006 và giải thưởng của các nhà phê bình văn học Quốc gia năm 2005. Mạch truyện giống như một đoạn đối thoại, nhưng cũng có phần xa cách và tế nhị. Tác phẩm cũng đặt ra nhiều câu hỏi và giúp người đọc khám phá sự trống rỗng trong đời người.

6. 1Q84 của Haruki Murakami (2010)

Một tác phẩm dài hơi với hơn 900 trang sách, nhưng bạn sẽ không thể bỏ lỡ vì một câu chuyện tình yêu mà tác giả kể lại, cùng với sự bí ẩn, trí tưởng tượng v.v. Một cuốn tiểu thuyết về hành trình khám phá chính mình, một viễn cảnh tương lai đen tối, tất cả đều có trong thế giới trí tưởng tượng của Haruki Murakami.

Trong cuốn tiểu thuyết này xuất hiện một sự tồn tại song song, được gọi tên là 1Q84: “Q” trong chữ cái đầu tiên của “Question mark” (dấu chấm hỏi – người dịch). “Một thế giới chứa đựng một câu hỏi lớn”, được tạo ra bởi Aomame, một cô gái sống ở Tokyo, người làm theo những gợi ý của người lái xe taxi và bắt đầu khám phá nhiều hơn về những chuyện xảy ra xung quanh.

Và chúng ta có Tengo, một nhà văn đang tham gia một dự án viết thuê mờ ám. Tuy nhiên, những sự kiện kỳ lạ đã kết nối các nhân vật với nhau. một cô gái với quan niệm sống độc đáo, một kẻ sùng đạo và một viên cảnh sát thành phố, một phụ nữ góa chồng được thừa hưởng tài sản từ người chồng quá cố và mở một mái ấm cho những phụ nữ bị bạo hành…

Thực lòng mà nói, nội dung cuốn sách không phải loại dễ đọc (không phải chỉ vì nó dài hơn 900 trang giấy), mà bởi vì cách Haruki xử lý các câu chuyện và quan điểm của tác giả về giới tính, tình dục, và hình thể phụ nữ có thể làm độc giả bức xúc. Tuy nhiên, nếu bạn đã đọc và cảm được những tác phẩm khác như Sputnik Sweetheart (“Người tình Sputnik”) hay A Wild Sheep Chase (“Cuộc săn cừu hoang”) thì đây chính là thử thách tiếp theo dành cho bạn!

7. Byakuyakou Journey under the Midnight Sun (“Bạch Dạ Hành”) của Keigo Higashino (1999)

Keigo Higashino đã bắt đầu viết tiểu thuyết từ khi còn là một kỹ sư, nhưng chỉ sau khi ông thắng giải thưởng Edogawa Rampo Văn học, ông mới thôi việc và toàn tâm cống hiến cho sự nghiệp văn chương. Keigo Higashino được biết đến với biệt tài viết tiểu thuyết kỳ bí.

Mặc dù nổi tiếng với những tác phẩm huyền ảo bán chạy nhất, các cuốn sách của Keigo Higashino chưa bao giờ có quá nhiều cú lật ngược tình thế hay quá nhiều chi tiết. Ông có kỹ thuật đặc biệt để định hình giọng văn và diễn biến tâm lý của các nhân vật.

Với giọng văn xuất sắc và kỹ thuật viết điêu luyện, tác phẩm trở nên hấp dẫn và đầy sức hút. Tốt hơn hết thì bạn nên đọc khi tâm trạng thoải mái và tôi chắc rằng bạn sẽ không thể ngừng đọc cho tới những trang cuối cùng. Sự ám ảnh, và những cảm xúc hoài niệm sẽ theo bạn trong một thời gian đấy. Thêm 1 gợi ý, tác phẩm The Devotion of Suspect X (“Phía sau nghi can X”) cũng là một sự lựa chọn không tồi!

8. Kidnap tour (“Tôi bị bố bắt cóc”) của Mitsuyo Kakuta (2000)

Mitsuyo Kakuta đã nhận giải thưởng Kaien cho nhà văn trẻ, một năm sau khi cô ấy tốt nghiệp đại học cùng tác phẩm A Blissful Pastime (“Trò tiêu khiển vui vẻ”). Sau đó cô giành được nhiều giả thưởng với các tác phẩm mang tính xã hội và hướng đến nữ giới.

Tác phẩm mà tôi muốn nhắc đến hoàn toàn là một phong cách khác của Mitsuyo Kakuta. Nhẹ nhàng, ít cao trào và thích hợp cho cả trẻ em và người lớn, “Kidnap tour” đưa người đọc đến với chuyến phiêu lưu thú vị của người cha – kẻ “bắt cóc” và cô con gái ruột 5 tuổi – nạn nhân bị “bắt cóc”. Chính vì tình thế mà người cha bắt buộc phải bắt cóc con gái đã tạo nên một chuyến đi gay cấn, hồi hộp của một chuyến “bắt cóc”, nhưng cũng không thiếu sự trong trẻo, yêu thương của một chuyến “du lịch gia đình”.

Chỉ gói gọn trong gần 180 trang sách, “Tôi bị bố bắt cóc” là một làn gió mùa hè nhẹ nhàng thổi vào tâm hồn bạn. Tác phẩm dễ thương đến mức bộ phim chuyển thể cùng tên đã được công chiếu vào năm 2016, trở thành một trong những phim điện ảnh đề tài gia đình được yêu thích tại Nhật.

9. The Windup Bird Chronicle (“Biên niên ký chim vặn dây cót”) của Haruki Murakami (1995)

Toru Okada, một thanh niên, đang đi tìm con mèo bị mất tích của hai vợ chồng. Trên hành trình ấy, anh tìm thấy chính mình đang đi tìm người vợ trong một thế giới đầy giả dối ẩn dưới lòng thành phố Tokyo. Trên con đường ấy, Okada đã gặp một nhóm người lạ, trong đó có bạn bè của anh và một số nhân vật khác, ví dụ, cô gái điếm có tài ngoại cảm, một chính trị gia truyền thông, một cô bé 16 tuổi vui vẻ nhưng cũng bệnh hoạn, và một cựu chiến binh già.

Theo tôi thấy, Murakami là nhà văn đương đại có thể lột tả xác thực nhất xã hội Nhật Bản cũng như những giá trị trong xã hội đó, mặc dù có đôi lúc tác phẩm có vẻ kỳ quặc và khéo léo lảng tránh vấn đề tế nhị.

Các Tác Phẩm Văn Học Nổi Tiếng

Các tác phẩm văn học Nổi Tiếng

01 – Các tác phẩm Văn học Nổi tiếng củaThiếu nhitrên bộ tem bưu

chính Mỹ – Ph 1993 .

hệ độc giả trẻ.bán 60.000 bản in vào năm 1868.”Rebecca trang trại Sunnybrook,”viết bởi Kate Douglas Smith Wiggin,bán vào năm 1903. Nó được chuyển đổi thành một vở kịch và sau đó là một bộ phim.

Bộ tem được lấy từ cãm hứngnhững quyển sách kinh điển đại diện cho một số trong những câu chuyện yêu thích và phổ biến nhất, được phát hành giải trí cho thế Cuốc sách của LouisaMay Alcott của ” “Little Women – Phụ nữ nhỏ” là một thành công ngay lần phát hành đầu tiên,

Bốn cuốn sách nổi tiếng “Người phụ nử nhỏ , Rebecca trang trại Sunnybrook, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” và “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn”.

“Ngôi nhà nhỏtrên thảo nguyên”được lấy cảm hứng từ chuyến đi của tác giả Laura Ingalls Wilder như một đứa trẻ trên đồng cỏ Mỹ.Cuốn sách đã được xuất bản vào năm 1935. Mark Twain đã viết về những trải nghiệm thời thơ ấu của mình dọc theo sông Mississippi trong thế kỷ 19.

” Những cuộc phiêu lưucủa Huckleberry Finn”đã được những độc giả người thuộc mọi lứa tuổi trên toàn thế giới hoan nghênh .

Tiểu thuyết R ebecca của trang trại Sunnybrook

Rebecca cuốn tiểu thuyết đáng yêu của cô trang trại Sunnybrook. Sinh Kate Smith tại Philadelphia vào năm 1856, cô đã dành thời thơ ấu ở Maine. Mặc dù cô đã viết hơn 20 cuốn sách trẻ em,NHƯNG TÁC PHẨM NỔI TIẾNG NHẤT CỦAKate Douglas Wigginlà

Di chuyển đến California ở tuổi 17, cô đã thành lập các trường mẫu giáo đầu tiên ở phương Tây, cũng như một trường đào tạo cho giáo viên. Để gây quỹ cho các dự án mẫu giáo của mình, Wiggin bắt đầu viết cuốn sách của trẻ em. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của cô, The Story of Patsy, được xuất bản vào năm 1883, và được theo sau bốn năm sau đó bởi vô cùng phổ biến Birds Christmas Carol. Chiến thắng lớn nhất của cô, Rebecca trang trại Sunnybrook, đã được xuất bản vào năm 1903.

Một trong những câu chuyện cho trẻ em gái Nữ Little đối thủ Louisa May Alcott, câu chuyện sống động cho cuộc phiêu lưu của Rebecca Randall, người đã rời khỏi trang trại Sunnybrook sau cái chết của cha cô để sống với bà dì của cô. Nhiều người trong số các nhân vật, địa điểm của cuốn tiểu thuyết, và các sự kiện đã được thực hiện từ thời thơ ấu của Wiggin ở Maine.

Ngoài việc viết những câu chuyện của trẻ em, cô ấy cũng đã viết một số cuốn sách người lớn và một cuốn tự truyện.

Tiểu thuyết Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên

Lấy cảm hứng từ những chuyến đi thời thơ ấu của mình thông qua các biên giới không phát triển của Midwest, Laura Ingalls Wilder của loạt được gọi là “Little House” cuốn sách, đã được ca ngợi như là một câu chuyện văn học sống động ở biên giới Mỹ.

Sinh năm 1867 tại Pepin, Wisconsin, Wilder đi du lịch với gia đình bằng cách wagon phủ thông qua Kansas, Minnesota, và Lãnh thổ Dakota, nơi cô gặp và kết hôn với Almanzo Wilder. Mặc dù có thiếu thốn và công việc khó khăn, cũng đã có nhiều lần hạnh phúc của tình yêu và tiếng cười, tất cả đều được chụp trong kinh điển đáng yêu của cô.

Là biên tập viên trong 12 năm cho Tạp chí Ruralist Missouri, Wilder bắt đầu ghi lại kinh nghiệm thời thơ ấu của mình do sự thúc đẩy của con gái mình. Xuất bản vào năm 1935, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên theo cuốn sách đầu tiên của cô, Little House in the Woods Big. Bảy cuốn sách khác sau này đã trở thành một phần của loạt bài này. Nhận nồng nhiệt của công chúng, sự phổ biến của cuốn sách của mình đã được thúc đẩy bởi sự thành công của phim truyền hình, lần đầu tiên phát sóng vào năm 1974 ( tại Mỹ ) .

Bộ phim từng làm rung động hàng triệu triệu trái tim khán giả thế giới “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” đả được chiếu trên kênh KidsTV-VTC11 sau hơn 15 năm kể từ khi được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1996 ( tại Việt Nam ).

Sơ Lược nội dung Phim Rừng Big Woods mênh mông rậm rạp là nơi ẩn mình của hươu nai, chồn cáo, thỏ sóc và cũng là giang sơn của chó sói, mèo rừng, gấu đen, báo đen. Giữa rừng Big Woods có một ngôi nhà gỗ nhỏ, nơi có một cô bé sống cùng với bố mẹ, chị gái và em gái. Cô bé tên là Laura Ingalls – cái tên rực sáng trên văn đàn Mỹ và thế giới suốt mấy thập kỷ qua với bộ sách gồm 9 tập đã được chuyển thành phim dưới tựa đề “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên”.

“Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên” là bức tranh khắc hoạ sinh động nhất về cuộc sống khai phá đầy mạo hiểm của những bàn tay nhỏ bé nhưng có một sức mạnh thần kì: sức mạnh của lòng nhân hậu và tình thương yêu chân thật.

Bộ phim được thực hiện ròng rã suốt gần 10 năm với 9 phần và 206 tập được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1974. Chuyện phim cũng là câu chuyện có thật của gia đình tác giả Laura Ingalls Wildew từ thuở khai hoang vào khoảng những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước.

Đã hàng thập kỷ trôi qua, bối cảnh có thật trong câu chuyện của bộ phim có sức sống vượt thời gian cũng trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng của tiểu bang Kansas (Mỹ). “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên”hiện vẫn còn giữ lại gần như nguyên vẹn những hình ảnh, kỷ vật từ thưở sơ khai của gia đình nhà Laura Ingalls.

Tiểu thuyết Cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn

Tiểu thuyết Người phụ nử nhỏ ( Little Women )

Phần lớn là tự truyện, phụ nữ nhỏ kể về câu chuyện của bốn chị em gái lớn lên ở New England năm 1800. Ngay lập tức phổ biến với công chúng, cổ điển cho Mỹ vị thành niên hư cấu một câu chuyện gia đình lâu dài.

Là con gái của triết gia ghi nhận và cải cách giáo dục Bronson Alcott, Louisa May Alcott được bao quanh bởi thích của Ralph Waldo Emerson, Nathaniel Hawthorne, Oliver Wendell Holmes, và Henry David Thoreau – tất cả các cá nhân đã giúp hình thành nên ý tưởng cải cách xã hội. Khi liên doanh lý tưởng của cha cô nhiều lần thất bại, cô bắt đầu làm việc để hỗ trợ gia đình cô.

Một y tá cho quân đội Liên bang trong cuộc nội chiến, bà mô tả kinh nghiệm của mình trong cuốn sách thành công đầu tiên của cô, Sketches Bệnh viện. Năm 1867, cô trở thành biên tập viên của Bảo tàng của Merry, một tạp chí cho trẻ em gái. Do sự thúc đẩy của nhà xuất bản của mình để tạo ra một cuốn sách cho trẻ em gái, cô đã viết Phụ nữ ít. Xuất bản năm 1868-69, cuốn sách đã được một thành công ngay lập tức.

PHONG BÌ MẠ VÀNG TUYỆT ĐẸP CỦA MỸ – FDC GOLD 23K Các tác phẩm Văn học Nổi tiếng củaThiếu nhitrên bộ tem bưu chính Mỹ ph 1993 .

02 – Hình tượng nhân vật Jane Eyre – Trên Bộ Tem Vương Quốc Anh

Các c hị em nổi tiếng Brontë phát hành 1980

Charlotte Bronte, George Eliot, Emily Bronte, Elizabeth Gaskell

Charlotte Bronte

Charlotte Brontë là một tiểu thuyết gia Anh, là chị cả trong 3 chị em nổi tiếng Brontë, tác giả của những tiểu thuyết xếp vào hàng kinh điển của văn học Anh. Charlotte Brontë, người dùng bút danh Currer Bell, được biết đến với Jane Eyre, một trong những tiểu thuyết tiếng Anh nổi tiếng nhất mọi thời đại. Cuộc đời sáng tác của bà tuy không thật dài nhưng đã để lại cho hậu thế một tác phẩm tuyệt vời ” jane eyre”. Dường như chính Charlotte bronte đã hóa thân vào nhân vật Jane eyre, khắc họa nên xã hội nước Anh vào thế kỉ 19.

Hình tượng nhân vật Jane Eyre

Tác phẩm Jane Eyre lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1847 dưới bút danh Curer Bell và sau này đã được tái bản nhiều lần. Đây là một trong những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu sắc nhất của nền văn học Anh. Tác giả đã kể lại hết sức cảm động câu chuyện cuộc đời một cô gái nghèo tỉnh lẻ tên là Jane Eyre đi làm gia sư phải vật lộn với số mệnh phũ phàng để bảo vệ phẩm giá và tự khẳng định địa vị của mình bằng chính cuộc sống lao động lương thiện. Jane Erey là hình tượng tiêu biểu của những số phận có vị thế hết sức khiêm nhường, bị xã hội ruồng rẫy nhưng đã dũng cảm đứng lên phản kháng lại bất công bằng tất cả ý chí, nghị lực và tâm hồn “nổi loạn” của mình. Cũng trong cuộc chiến không cân sức này, phẩm giá của Jane càng tỏa sáng. Cô cũng đã tìm lại được tình yêu- một tình yêu tự nguyện, thuần khiết, không vụ lợi, không kém phần lãng mạn, nồng nhiệt và vị tha. Đó chính là hạnh phúc đích thực suốt cuộc đời của Jane.

Do thành công vang dội của tiểu thuyết Jane Eyre, Charlotte Brontte đã được đẩy lên địa vị xã hội cao quý và có nhiều bạn văn nổi tiếng. Tác phẩm của bà đã châm ngòi cho phong trào bình đẳng trong giới văn học. Nhân vật chính Jane Eyre trong cuốn tiểu thuyết cùng tên có mối tương đồng với chính Charlotte Bronte-một phụ nữ kiên cường trong cuộc sống và đa cảm, cháy bỏng đam mê trong tình yêu.

03 – Năm 1979 được chỉ định của Liên Hiệp Quốc là Năm của Trẻ em,

The Tale of Peter Rabbit, của Beatrix Potter,

The Wind in the Willows, của Kenneth Grahame

Winnie -the Pooh, của AA Milne,

Alice’s Adventures in Wonderland, của Lewis Caroll.

20 bloc tem về thơ ca Haiku của Nhật Bản phát

hành từ 1987-1988-1989

Haiku là loại thơ độc đáo của Nhật Bản ( tiếng Việt gọi là thơ Bài cú. Thể loại thơ haiku được ra đời vào thế kỉ 17 và phát triển mạnh cho tời hiện nay Nhà thiền sư thi sĩ lỗi lạc Matsuo Basho được thừa nhận là người khai sinh ra thơ haiku và các nhà thơ khác như ,Yosa Buson, Masaoka Shiki đã hoàn thiện nó cho ra đời nhiều tác phẩm hay tuyệt vời. Đây có lẽ là thể thơ ngắn nhất thế giới bởi mỗi bài haiku, thường chỉ vỏn vẹn 17 âm tiết trong 3 câu 5+7+5 Tổng số 17 âm tiết của một bài haiku được thu xếp thành 3 dòng thơ, thông thường với 5 âm tiết cho dòng thứ nhất, 7 âm tiết cho dòng thứ hai, và 5 âm tiết cho dòng thứ ba. Ba dòng thơ ấy không bắt buộc phải vần với nhau và cũng không cần những dấu chấm câu.

Bài thơ con ếch nổi tiếng sau đây của Matsuo Bashō trong tập Xuân nhật (Haru no hi, 1686) viết chung với đồ đệ, có cú pháp 5+7+5 âm tiết:

古池や (fu-ru-i-ke ya) 蛙飛込む (ka-wa-zu to-bi-ko-mu) 水の音 (mi-zu no o-to) Tạm dịch: Ao xưa; con ếch nhảy vào – tiếng nước xao.

Bài được biên soạn lại từ các bản tin thơ Haiku trên internet

Trong Mỗi bài thơ “haiku” “) là một phong cảnh đởi sống con người thời tiết thu gọn trong vẻn vẹn trong 17 âm tiết. Chỉ Trong 1 ít từ ngữ diễn đạt, nhà thơ đã diễn tả cảm nghĩ của mình trước thiên nhiên phong cảnh vị trí thời gian cho ta thấy một hình ảnh cả một vũ trụ trong một hạt cát, cả thiên đường trong một đóa hoa dại vv….

Thơ haiku không những được ưa chuộng ở Nhật bản , mà hầu như khắp nơi trên thế giới đều có người làm thơ bài cú. Ở Âu châu cũng như ở Bắc Mỹ có rất nhiều Hội thơ haiku, hội viên bao gồm đủ mọi thành phần và lứa tuổi. Ở Vancouver (Canada), ở Nantes (Pháp), và nhiều thành phố khác, đã có các trường dạy học sinh ngay từ các lớp tiểu học làm thơ haiku, Tại Việt Nam, người biết và yêu thích thơ haiku ngày càng tăng. Từ năm 2007, năm 2009 và năm 2011, thơ haiku được tổ chức tại Việt Nam theo thông lệ hai năm một lần, nhằm tạo sân chơi thể nghiệm sáng tác thơ cho giới yêu thích văn hóa – văn học Nhật Bản.

( sưu tập internet )

Tên thật là Matsuo Kinsaku . Basho là bút danh ( tiếng Nhật Basho có nghĩa là cây chuối , vì Ông thích cây chuối nên lấy bút danh nầy). Ông sinh năm 1644, con trai út thứ bảy của một Samurai phục vụ cho lãnh chúa Thành Ueno . Ông làm thơ từ năm 20 tuổi . Năm 1672, ông đến Edo (ngày nay là Tokyo), thực hành Zen dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư Butcho. Năm sau Ông xuất bản tập thơ đầu tiên mở đầu cho kiểu thơ riêng biệt của ông ( thơ haiku ) . Nhà thơ thường đi phiêu bạt nên có danh hiệu là “thi sĩ hành hương” . Năm 1694 Ông đi bộ xuống các tỉnh phía Nam của Nhật bị bệnh và chết ở tuổi 50 .

Bực mình làm sao cây sậy đâm ngang Các bài thơ Basho lúc tôi vun gốc chuối!

Cành cây trơ trụi bóng tối mùa thu thẫm dần một con quạ đơn độc!

Nhuốm bệnh trên đường lữ khách tôi mơ cánh đồng khô đang bay nhảy

A! Ký ức kỳ diệu! Vô vàn cảm xúc ngày qua nhờ anh đào sống dậy!

Tiếng chuông đã dứt cảm thấy mùi hương hoa chắc hẳn hoàng hôn

Được người đưa tiễn đưa tiễn người cuối cùng mùa thu ở rừng Kiso

Trong ao xưa con ếch nhảy vào tiếng nước khua

Tiếng vượn, người ơi đúa bé bỏ rơi đang khóc chỉ gió mùa thu thôi!

Hoa rơi nước mà ta khát hóa mù sa trôi.

Lặng yên qua mấy từng không lời ve , gõ thấu vào lòng đá xanh

Chập chờn thân đóm dường như tiền thân đã gọi kiếp phù du mang

Cỏ mùa hạ đang chôn vùi bao giấc mơ chiến thắng cố chinh nhân

Con đường ấy không người qua lại trời xẩm tối mùa thu

Nhẹ nhàng thanh thoát tiếng ve ca thấm vào non núi

Ve sầu vui hát không mảy may hay biết chết đã gần kề

Đám mây trong ngày khổ ải từ hình quỷ chuyển sang hình Phật

Tóc mẹ còn đây tan trong lệ nóng sương mùa Thu bay

– ( sưu tập internet )

Taniguchi Buson (còn có tên là Yosa Buson ) là thi sĩ và họa sĩ .Ông sinh năm 1716 ở ngoại ô thành Osaka . Mồ côi cha mẹ từ nhỏ . Năm 1737 , Ông đến thành Edo học vẽ và làm thơ theo Basho . Năm 1772, ra mắt tập thơ đầu tiên . Người ta biết đến Ông nhiều như là một họa sĩ . Ông chết năm 1784 .

Băng qua vũng nông bàn chân cô gái vẩn bùn lên nước xuân trong

Hoàng hôn tiếng bắn chim trĩ vang dội triền núi mùa xuân

Đàn nhạn đi rồi cánh đồng trước cửa dường như xa xôi

Chim vân tước bay thở ra sương gió dẫm lướt tầng mây

Các bài thơ Buson

Các bài thơ Issa – ( sưu tập internet )

Kobayashi Nobuyki ( còn có tên là Kobayashi Yataro) sinh năm1763 tại Kashiwabara, tỉnh Shinano . Cuộc đời Ông nhiều bất hạnh . Ông mất mẹ thuở còn thơ ấu . Bà mẹ kế đối xử tàn tệ với Ông . Ông sống trong nghèo khổ . Con chết. Cuộc hôn nhân lần thứ hai không hạnh phúc . Tuy vậy , thơ Ông tràn đầy sự yêu đời . Năm 1777 Ông đến Edo tập làm thơ dưới sự dẫn dắt của Mizoguchi Sogan và Norokuan Chikua . Ông sinh sống nhiều nơi : Kyoto, Osaka, Nagasaki, Matsuyama chúng tôi cha chết , Ông trở về Kashiwabara và cưới một thiếu nữ còn trẻ . Lúc nầy Ông đã nổi tiếng, vừa viết văn, vừa làm thơ . Ông viết trên 20.000 bài thơ haiku . Năm 1826, Ông cưới vợ lần thứ ba và mất năm 1827 .

Đến đây nào, với tôi cùng chơi đùa chim sẻ không còn mẹ trên đời

Gió mùa thu địa ngục nào đây cùng tôi giang hồ

Mẹ yêu ơi! mỗi khi nhìn thấy biển khi thấy biển khơi

Ôi những hạt sương trân châu từng hạt hiện hình cố hương

Tóc mẹ còn đây tan trong lệ nóng sương mù thu bay

Trăng soi một bầy ốc nhỏ khóc than đáy nồi.

Nào biết đâu là hoa rơi có Pháp có Phật trong hoa.

Dưới bóng hoa đào một bầy đánh bạc nhao nhao, nhao nhao.

Ôi con người quắt quay len lác giữa nghìn hoa tươi.

Trong thế giới này bước đi trên mái địa ngục ta nhìn hoa bay.

Ngày mù sương chư Thiên cũng thấy đời sao chán chường.

Nước nóng tắm rồi vừa xong lạy Phật hoa đào ta ơi!

Quan Âm Phật Bà nơi nào có mặt anh đào ra hoa.

Này chú dế hãy làm người gác mộ sau khi ta lìa đời

Đẹp biết bao những trái ớt đỏ tươi sau trận gió thu

Ruồi trên nón ta ơi hôm nay vào thành phố thành dân Edo rồi

Mưa xuân lá thư vứt bỏ gió cuốn vô rừng

– ( sưu tập internet )

Shiki Masaoka bút danh là Masaoka Tsunenori sinh năm 1867 tại Matsuyama , cha chết lúc Ông 5 tuổi . Bà mẹ là một nhà giáo đã dạy Ông văn học Nhật và làm thơ . Ông bắt đầu làm thơ từ năm 1885 . Năm 1892 , Ông ngưng học vì lý do sức khỏe và từ đó Ông chuyên tâm làm thơ haiku và tanka ( thơ ngắn). Ông xuất bản tờ báo Nippon chuyên về thơ Haiku . Năm 1894 Ông mắc bệnh lao phổi và mất năm 1902 .

Chim yến thoát rồi một ngày Xuân đẹp đến giờ tàn thôi

Họ đang phơi bo bo phía trưóc cửa nhà kho giăng ngang mành tre cũ.

Hực nồng lữa hạ bừng lên lòng quay quắt nóng nghe rền sấm vang

Thơ Haiku, thật giản dị bao hàm đầy đủ ý đồ cảm nhận và chia sẽ của tác giả Ta có thể hiểu được tình cảm của thi sỉ, một sự rung động một tình cảm nhè nhàng , hòa quyện hương sắc của trời đất sự vật trong cả 17 âm, chúng nói lên niềm vui sống hay sự cô đơn,: ngắn ngủi, phù du, trước sự vĩnh hằng và hiện hửu của thiên nhiên vạn vật. Tôi cảm thấy rung động và yêu thích các Bloc tem nầy khi sở hửu chúng, tác già bài thơ và người họa sỉ thiết kế tem đã hòa quyện thành một tư tưởng và cảm nhận duy nhất. Các bài thơ Shiki

Trân Trọng HongDuc

Cứa Hàng Tem Sách

10 Tuyệt Tác Văn Chương Vĩ Đại Nhất Mọi Thời Đại (Phần 1)

Anna Karenina, Quý bà Bovary, Chiến tranh và Hòa bình là ba trong những tuyệt phẩm có sức hấp dẫn vượt thời gian của các tác gia vĩ đại trong nền văn học thế giới.

1. Anna Karenina – Lev Tolstoy

“Anna Karenina” là tiểu thuyết của tác giả vĩ đại người Nga Lev Tolstoy (1828 – 1910). Đúng 120 năm sau ngày đại văn hào Lev Tolstoy hoàn thành tác phẩm (1877 – 1997), Tạp chí Time đã vinh danh “Anna Karenina” đứng đầu trong danh sách “10 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại”.

Nhiều nhà phê bình văn học thế giới đã nhận xét “Anna Karenina” là tuyệt phẩm đỉnh cao của tiểu thuyết lãng mạn.

Người con gái lớn của đại thi hào Nga Pushkin (1799 – 1837) (là Maria Aleksandrovna Pushkina) mà Tolstoy gặp gỡ ở một buổi ăn tối đã tạo cảm hứng cho ông dệt nên tác phẩm tuyệt vời này.

Sau 137 năm từ ngày ra đời, tuyệt phẩm “Anna Karenina” được chuyển thể thành nhiều loại hình nghệ thuật khác từ điện ảnh, truyền hình, kịch, opera, kịch truyền thanh… Riêng phim điện ảnh đã có 16 tác phẩm trải dài từ năm 1911 đến năm 2013.

2. Madame Bovary (Quý bà Bovary) – Gustave Flaubert

Ra đời năm 1857, “Quý bà Bôvary”(Madamme Bovary) của tiểu thuyết gia người Pháp vĩ đại Gustave Flaubert (1821 – 1880). Với những tác phẩm và tư tưởng nghệ thuật khác biệt mang chút u sầu, lãng mạn, Gustave Flaubert được mệnh danh là “Nhà văn buồn nhất thế kỷ”.

“Quý bà Bôvary”là một cuốn tiểu thuyết kể về số phận một người phụ nữ nông thôn trưởng giả vì chán chồng-một thầy thuốc làng-mà đi ngoại tình với một chàng luật sư trẻ tuổi nhưng không thành, rồi sau đó trở thành tình nhân của một tay chơi, nhưng cũng bị anh ta bỏ rơi. Cuối cùng thì cô ta gặp và bắt tình với anh chàng luật sư, nhưng sau đó thì phá sản và tự tử bằng thạch tín để lại chồng và đứa con gái lên ba tuổi.

Mặc dù mang nét lãng mạn và đơn giản, nhưng “Quý bà Bôvary” hấp dẫn người đọc và có sức sống giá trị trường tồn ở sự phản kháng của cá nhân chống lại những quy tắc của xã hội và đạo đức của thế giới tư sản chật hẹp và giả dối làm méo mó nhân cách, cằn cỗi tâm hồn và tha hoá con người.

Qua tuyệt phẩm văn học này, Gustave Flaubert muốn vạch ra sự tan vỡ của những ảo tưởng thơ mộng lãng mạn mà cá nhân khao khát hạnh phúc đặt vào thực tại tư sản tầm thường và hèn kém.

3. War and Peace (Chiến tranh và Hòa bình) – Lev Tolstoy

Đứng thứ ba trong danh sách “10 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại” chính là tác phẩm tiểu thuyết sử thi “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tolstoy.

Không hổ danh là “Con sư tử của nền văn học Nga” (Lev trong tiếng Nga là sư tử), đại văn hào Lev Tolstoy lại cho ra đời tuyệt phẩm phản ánh một giai đoạn bi tráng của toàn xã hội Nga, từ giới quý tộc đến nông dân, trong thời đại Napoléon.

“Chiến tranh và Hòa bình” là bộ sử thi vĩ đại nhất của Tolstoy, trước hết là vì tác phẩm đã làm sống lại thời kì toàn thể nhân dân và dân tộc gặp nhau trên chiến trường.

Cốt truyện được xây dựng trên hai biến cố lịch sử chủ yếu đầu thế kỉ 19: cuộc chiến tranh năm 1805 và 1812, đồng thời phản ánh cuộc sống hòa bình của nhân dân và giai cấp quý tộc Nga vào các giai đoạn 1805 -1812, 1812 -1820.

“Chiến tranh và Hòa bình” và “Anna Karenina” là hai tuyệt phẩm vĩ đại làm danh tiếng lẫy lững của Lev Tolstoy trên văn đàn thế giới.

4. Lolita – Vladimir Nabokov

“Lolita” là bộ tiểu thuyết của nhà văn, nhà thơ người Nga Vladimir Nabokov (1899 – 1977). Ra đời năm 1955, tiểu thuyết trở thành một tác phẩm kinh điển và là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và gây ra nhiều tranh cãi nhất trong nền văn chương thế kỷ 20.

Cái tên “Lolita” đã đi vào văn hoá phổ thông như là một từ để mô tả cô gái trẻ phát triển sớm về giới tính. “Lolita” khiến tất cả chúng ta – những người làm cha mẹ, những nhà hoạt động xã hội, những nhà giáo dục – phải dốc sức, với tinh thần cảnh giác cao hơn nữa và sáng suốt hơn nữa, vào nhiệm vụ nuôi dạy một thế hệ tốt hơn trong một thế giới an toàn hơn.”

Sự bí ẩn đến nguy hiểm của ngôn từ đến từng tình tiết của “Lolita”, tác phẩm hiện được chuyển thể thành những bộ phim nổi tiếng.

5. The Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) – Mark Twain

Tiểu thuyết “Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn” (1884) của nhà văn Mỹ Mark Twain (1835 – 1910) (tên thật là Samuel Langhorne Clemens) được đánh giá là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong nền văn học Mỹ. Đồng thời, tuyệt phẩm phiêu lưu này đứng thứ 5 trong danh sách “10 tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại” do Tạp chí Time bình chọn năm 1995 dưới sự biểu quyết của 125 nhà văn, nhà phê bình hiện đại.

Thông qua cốt truyện kể về những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn trên dòng sông Mississippi với người bạn là một nô lệ đang chạy thoát tên Jim, cuốn tiểu thuyết thể hiện cái nhìn châm biếm những quan niệm cổ hủ xuất hiện ở miền Nam nước Mỹ thời tiền chiến, trong đó quan điểm kỳ thị chủng tộc bị lên án nhiều nhất.

Theo các nhà phê bình văn học thế giới, hình ảnh Huckleberry Finn và Jim trên chiếc bè chạy theo dòng sông, đi đến tự do, là một trong những hình ảnh bất hủ nhất trong nền văn học Mỹ.

Top 10 Trường Đại Học Tốt Nhất Nhật Bản

Mới đây, tổ chức Times Higher Education (1 trong 3 tổ chức xếp hạng đại học uy tín trên toàn thế giới) đã công bố danh sách 150 trường đại học tốt nhất Nhật Bản trong năm 2021. Theo đó, THE đã hợp tác cùng công ty giáo dục Nhật Bản Benesse để đánh giá 278 trường Đại học, Học viện tại Nhật Bản.

Đây là bảng xếp hạng dựa trên chất lượng giáo dục và tiềm năng phát triển cho sinh viên, đánh giá các trường thông qua 4 tiêu chí: Nguồn lực, Sự tương tác, Kết quả và Môi trường.

DANH SÁCH 10 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỐT NHẤT NHẬT BẢN NĂM 2021

1. Trường Đại học Tohoku

2. Học viện Công nghệ Tokyo

3. Trường Đại học Tokyo

4. Trường Đại học Kyoto

5. Trường Đại học Osaka

6. Trường Đại học Hokkaido

7. Trường Đại học Nagoya

8. Trường Đại học Kyushu

9. Trường Đại học Tsukuba

10. Trường Đại học Hiroshima

1. Trường Đại học Tohoku

Địa chỉ: 2-1-1 Katahira, Aoba, Sendai, Miyagi

www.tohoku.ac.jp

Website:

Đại học Tohoku là trường đại học Hoàng gia lâu đời thứ ba ở Nhật Bản và được coi là một trong những trường đại học danh giá nhất tại Nhật. Tiền thân của Đại học Tohoku là trường Y, khi mới thành lập vào năm 1736.

Hiện nay, trường đã mở rộng thành 6 khoa chính bao gồm: y học, nha khoa, khoa học xã hội, khoa học, kỹ thuật, nông nghiệp. Đây cũng là trường đại học đầu tiên ở Nhật Bản chấp nhận sinh viên nữ theo học và cũng là trường đầu tiên tiếp nhận sinh viên nước ngoài.

Đại học Tohoku là một trong 13 trường đại học thuộc Dự án toàn cầu nhằm quốc tế hóa giáo dục đại học trong nước nên các chương trình học đều hoàn toàn bằng tiếng Anh và cấp bằng chuẩn quốc tế. Trường cũng là nơi khai sinh ra nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục học, nhà văn và những chính trị gia hàng đầu.

2. Học viện Công nghệ Tokyo

Địa chỉ: 7-3-1 Hongo, Bunkyo, Tokyo

www.titech.ac.jp

Website:

Học viện Công nghệ Tokyo được xem là cơ sở giáo dục đại học lớn nhất Nhật Bản dành cho khoa học và công nghệ. Học viện cho phép sinh viên có thể tự do nghiên cứu ngay từ những năm đầu và có cơ hội làm việc chặt chẽ cùng với những nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới.

Trường cũng luôn nằm trong top đầu về tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp tại Nhật.

Là một trong những ngôi trường Đại học uy tín tại Nhật Bản, trường cung cấp đầy đủ nhu cầu về cơ sở vật chất cho sinh viên cũng như du học sinh. Trường hiện có 2 cơ sở ở Tokyo và 1 cơ sở ở Yokohama. Tất cả đều được đầu tư đồng bộ; trang thiết bị giảng dạy và học tập hiện đại xứng tầm trường đại học đứng đầu về khoa học – công nghệ cũng như đất nước với nhiều thành tựu khoa học tiên tiến.

Viện Công nghệ Tokyo có chương trình giảng dạy phong phú, đầy đủ các chuyên ngành với nhiều trường đại học con trực thuộc: 

– Trường Khoa học – Trường Kỹ thuật – Trường Đại học Khoa học và Kỹ thuật – Trường Khoa học sinh học và Công nghệ sinh học – Trường Đại học Khoa học sinh học và Công nghệ sinh học – Trường Đại học liên ngành Khoa học và Kỹ thuật – Trường Đại học Thông tin Khoa học và Kỹ thuật – Trường Đại học Khoa học và Công nghệ – Trường Đại học Quản lý

3. Trường Đại học Tokyo

Địa chỉ: 7-3-1 Hongo, Bunkyo, Tokyo

www.u-tokyo.ac.jp

Website:

Đại học Tokyo được thành lập vào năm 1877 do sáp nhập Trường Tokyo Kaisei và Trường Y Tokyo để thành lập các khoa: Luật, Khoa học, Văn học, Y học và một trường dự bị đại học. Đại học Tokyo là trường đại học quốc gia đầu tiên ở Nhật Bản.

Trường bao gồm 10 khoa, 15 trường sau đại học, 11 viện nghiên cứu (bao gồm Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ tiên tiến), 3 thư viện chính và 3 viện nghiên cứu nâng cao. Trong 2 năm đầu học tại đại học Tokyo, sinh viên sẽ theo học chương trình giáo dục nghệ thuật tự do. Từ năm thứ 3 mới theo học chuyên ngành đã chọn từ trước.

Đại học Tokyo sở hữu vị trí vô cùng thuận lợi khi gần những điểm tham quan văn hóa của Tokyo như Yanesen, các đền thờ, công viên Ueno, bảo tàng,… Cùng với đó là các phương tiện công cộng thuận tiện để di chuyển vào khu vực trung tâm Tokyo.

Đại học Tokyo nổi tiếng với 8 người đoạt giải thưởng Nobel, 15 thủ tướng Nhật Bản và 5 phi hành gia trong số cựu sinh viên của trường.

4. Trường Đại học Kyoto

Địa chỉ: Yoshida-honmachi, Sakyo, Kyoto

www.kyoto-u.ac.jp

Website:

Đại học Kyoto là một trong những trường lâu đời tại Nhật; đứng ở vị trí 65 trong Bảng xếp hạng đại học thế giới năm 2020 và đứng thứ 1 Bảng xếp hạng đại học Nhật Bản năm 2019 của THE.

Kyoto là một trong những trường đại học định hướng nghiên cứu thành công nhất ở châu Á. Sinh viên và nghiên cứu sinh được trải nghiệm thực tế để phát triển, thông qua đó đã có 11 người đạt giải Nobel, 2 người đạt huy chương Fields và một người đạt giải Gauss.

Hiện nay, đại học Kyoto đang đào tạo khoảng 22.000 sinh viên thuộc 10 khoa, sở hữu 18 viện sau đại học, 13 viện nghiên cứu, 21 trung tâm nghiên cứu và giáo dục.

Ngoài các khóa học bằng tiếng Nhật, Đại học Kyoto cung cấp nhiều khóa học cấp bằng được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh.

5. Trường Đại học Osaka

Địa chỉ: 1-1 Yamadaoka, Suita, Osaka

www.osaka-u.ac.jp

Website:

Đại học Osaka được thành lập vào năm 1931; tiền thân là trường Y của tỉnh Osaka; về sau là Đại học Hoàng gia Osaka. Quy mô của Đại học Osaka bao gồm 11 khoa thuộc chương trình đại học và 16 cơ sở sau đại học, 6 viện nghiên cứu, 4 thư viện, 2 bệnh viện đại học.

Đại học Osaka có 3 cơ sở: Suita, Minoh, và Toyonaka. Trong đó, cơ sở chính Suita là nơi xét duyệt các điều kiện để vào học tại trường này.

Trường hoạt động với mục tiêu chính là đào tạo sinh viên, nuôi dưỡng năng lực và tố chất được quốc tế công nhận. Hiện tại, trường có khoảng 4.000 sinh viên đại học và học viên cao học theo học. Du học sinh từ nước ngoài là khoảng 500 người.

Vì học tập trong một môi trường khốc liệt, cạnh tranh và năng động như OIU; sinh viên ra trường luôn được sẵn sàng đáp ứng được những yêu khắt khe của những nhà tuyển dụng hàng đầu thế giới.

6. Trường Đại học Hokkaido

Địa chỉ: Sapporo, Hokkaido 060-0808, Nhật Bản

https://www.hokudai.ac.jp/

Website:

Được thành lập năm 1876, trường đại học Hokkaido là một trong những trường quốc lập hàng Top của Nhật Bản. Kể từ năm 2004, trường được ghi nhận là một tổ chức giáo dục độc lập như một đại học quốc gia và được áp dụng luật giống như tất cả đại học quốc gia khác. Trụ sở chính của trường đặt tại thành phố Sapporo. Cơ sở ở thành phố Hakodate nằm về phía nam của Hokkaido.

Năm 2015, đại học Hokkaido được Hãng Reuters đánh giá thuộc Top 100 trường đại học sáng tạo nhất thế giới. Trường cũng nằm trong danh sách 401 – 500 trong bảng xếp hạng đại học toàn cầu, vị trí thứ 6 vào năm 2021 tại Nhật (theo THE). Có rất nhiều sinh viên quốc tế đang theo học tại ngôi trường này.

7. Trường Đại học Nagoya

Được thành lập năm 1939, trường đại học Nagoya có nhiều cơ sở trong thành phố Nagoya với khoảng 15.000 sinh viên thuộc các khoa, ngành trực thuộc đại học và cao học. Trong đó có trên 1300 sinh viên quốc tế đến từ 78 quốc gia trên thế giới.

Đại học Nagoya có chương trình đào tạo phong phú với 9 ngành học và 14 khoa nghiên cứu. Đồng thời không ngừng mở rộng quy mô đào tạo bằng cách mở thêm các chuyên ngành. Trường còn mở các khóa học ngắn hạn để phù hợp với nhu cầu của sinh viên.

Trường Đại Học Nagoya có 4 vị giáo sư được nhận giải Nobel; 1706 giảng viên trong đó có 649 giáo sư, 507 phó giáo sư. Trường Đại Học Tổng Hợp Nagoya bao gồm: 1 bệnh viện của Đại học; 7 trường đào tạo chương trình Đại học; 15 trường đào tạo chuyên ngành. Với 4 giải thưởng Nobel, đây cũng là một trong số những trường giành được nhiều giải thưởng Nobel nhất của Nhật Bản.

8. Trường Đại học Kyushu

Địa chỉ: 744 Motooka Nishi-ku Fukuoka 819-0395

https://www.kyushu-u.ac.jp/

Website:

Được thành lập năm 1911, Đại học Kyushu là ngôi trường công lập lớn nhất đảo Kyushu – tọa lạc tại thành phố Fukuoka, tỉnh Fukuoka, Nhật Bản.

Đại học Kyushu là một trong bảy Đại học Quốc gia của Nhật Bản. Trường được xếp hạng 401-500 các trường đại học tốt nhất trên thế giới; xếp thứ 8 tại Nhật Bản theo BXH năm 2021 của THE. Mục tiêu của Kyushu là cung cấp các hoạt động giáo dục, các nghiên cứu và y tế chất lượng cao.

Đại học Kyushu có 16 khoa, 11 trường đại học và 18 trường sau đại học với gần 19.000 sinh viên từ khoảng 90 quốc gia và hơn 2.000 giảng viên.

Một lợi thế khi học tại trường đại học Kyushu nói riêng và các trường đại học công lập khác của Nhật Bản nói chung đó là sinh viên quốc tế được miễn giảm 50% học phí trong 4 năm học. Ngoài ra, Đại học Kyushu còn cung cấp rất nhiều học bổng cho sinh viên quốc tế với mức học bổng lên đến 60.000 yên/kỳ (tương đương 550 USD 1 tháng).

9. Trường Đại học Tsukuba

Năm 1872, tiền thân của Đại học Tsukuba là trường Tokyo Shihan Gakko đã đi vào hoạt động tại Bunkyo, Tokyo. Năm 1959, trường đổi tên thành Đại học Giáo dục Tokyo; bắt đầu thực hiện chính sách mở rộng trong và ngoài nước; tiếp nhận sinh viên quốc tế nhập học. Năm 1973, Đại học Giáo dục Tokyo dời về Ibaraki và đổi tên thành Đại học Tsukuba.

Đại học Tsukuba có 2 cơ sở chính tại Tsukuba và Tokyo. Bên cạnh đó còn xây dựng Thành phố khoa học Tsukuba với hơn 300 trung tâm bệnh viện và viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ sinh viên thực hành kỹ năng thường xuyên.

Trường hiện đang giảng dạy hơn 16.000 sinh viên. Trong đó có hơn 2.000 sinh viên quốc tế, nhiều giảng viên cả trong và ngoài nước có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm. Đại học Tsukuba cũng là cái nôi đã sản sinh ra những cựu sinh viên đạt giải Nobel hóa học và vật lý danh giá.

10. Trường Đại học Hiroshima

Trường Đại học Hiroshima được thành lập vào năm 1949 – là một trong những trường đại học quốc lập đầu tiên của Nhật Bản.

Đại học Hiroshima hoạt động với quy mô đào tạo lớn với 2 hệ đào tạo là đại học và sau đại học. Trường cũng sở hữu nhiều viện nghiên cứu lớn như Viện nghiên cứu tự nhiên Miyajima; Viện Nghiên cứu Sinh học và Y học bức xạ; Viện Khoa học vì Hòa bình; Viện Nghiên cứu Giáo dục Đại học.

Ngoài ra, những trường đứng đầu các tiêu chí riêng biệt có thể kể đến:

– Đứng đầu tiêu chí Nguồn lực: Đại học Y và Nha khoa Tokyo – Đứng đầu tiêu chí Sự tương tác và Môi trường: Đại học Quốc tế Akita – Đứng đầu tiêu chí Kết quả: Đại học Kyoto

Bạn có thể tham khảo đầy đủ danh sách các trường Đại học được THE xếp hạng tại link này

Jellyfish Education Vietnam – Hotline 096.110.6466 Hà Nội: Tầng 13, tòa nhà CMC, 11 Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội Hải Phòng: Tầng 3, tòa nhà Sholega, 275 Lạch Tray, TP. Hải Phòng Đà Nẵng: Diamond Time Complex, 35 Thái Phiên, Quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng Hồ Chí Minh: 126 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 6, Quận 3, TP. HCM

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiểu Thuyết Đương Đại Nhật Bản: 9 Tác Phẩm Nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!