Xu Hướng 2/2024 # Tập Huấn Dạy Ngữ Pháp Và Tổ Chức Trò Chơi Trong Lớp Học Tiếng Anh # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tập Huấn Dạy Ngữ Pháp Và Tổ Chức Trò Chơi Trong Lớp Học Tiếng Anh được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Buổi tập huấn diễn ra cả ngày dành cho đội ngũ giáo viên Anh ngữ của hệ thống Anh văn Hội Việt Mỹ VUS. Đề tài thu hút sự quan tâm và hưởng ứng nhiệt tình bởi dạy ngữ pháp cho trẻ rất khác biệt so với người lớn.

Việc học ngữ pháp của thiếu nhi không tuân theo một quy luật cố định nào. Đối với các em, việc học được diễn ra qua quá trình bắt chước, lặp lại là chủ yếu. Các em sẽ thẩm thấu dần qua các tình huống sử dụng trong lớp học và thực tế, sau đó trở thành vốn tiếng Anh của chính mình.

Tác giả Gordon Lewis, đại diện NXB ĐH Oxford, chia sẻ kinh nghiệm trong buổi tập huấn.

Để dễ hình dung, ta lấy ví dụ việc xây một căn nhà sẽ cần đến bộ khung và gạch đá, xi-măng để kết nối thành một khối vững chắc. Thì trong việc học tiếng Anh, khung sườn căn nhà là 4 kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết), còn ngữ pháp và từ vựng chính là thành phần gạch, xi-măng để tạo ra một kết cấu hoàn chỉnh. Ông Gordon cho rằng trong độ tuổi nhỏ, trẻ vẫn chưa cần đến các điểm ngữ pháp phức tạp và học thuật cao, nhưng các em vẫn cần có những chất liệu cơ bản để hình thành nền tảng vững chắc cũng như có thể sử dụng tiếng Anh tự tin và tự nhiên.

Chuyên gia người Mỹ mang đến buổi gặp gỡ những hoạt động lớp học vui nhộn được lồng ghép những yêu cầu giúp trẻ được sử dụng ngữ pháp và tăng độ phản xạ ngoài thực tế. Giáo viên có thể ghi sẵn các mẫu câu lên bảng, tổ chức trò chơi và yêu cầu trẻ lặp lại các mẫu câu đi kèm ý kiến của mình.

Để giúp việc giảng dạy ngữ pháp cho trẻ đạt hiệu quả tốt nhất, tác giả Gordon Lewis đã đưa đến những lời khuyên hết sức hữu ích. Do tính chất khác biệt của độ tuổi, đặc biệt là độ tuổi nhỏ, nội dung cần phải rõ ràng và dễ hiểu, cách truyền đạt thú vị và hào hứng, từ vựng đơn giản, độ chính xác được đảm bảo và bài học phải được đặt vào bối cảnh gần gũi với trẻ nhỏ.

Các giáo viên hòa mình vào thử nghiệm các trò chơi cho trẻ trong tiết học tiếng Anh.

Một điều không thể thiếu trong các lớp học tiếng Anh cho thiếu nhi là hoạt động vui chơi. Giáo viên phải biết cách khéo léo lồng ghép nội dung, từ vựng mới vào các yêu cầu hoặc thử thách vui nhộn. Tuy nhiên, vẫn phải cân bằng được vui chơi và học tập bởi trẻ rất dễ sa đà vào việc lo chơi mà không tiếp thu được kiến thức.

Trong phần trao đổi về cách tổ chức trò chơi trong lớp học, ông Gordon Lewis chia sẻ với những loại hình trò chơi sẽ có những ưu điểm riêng cũng như là giúp trẻ học được những kỹ năng và bài học khác nhau. Giáo viên cần lưu ý phối hợp các loại hình khác nhau, nhằm mang đến sự đặc sắc cho mỗi tiết học và lôi cuốn trẻ vào bài giảng thật tự nhiên.

Từ thâm niên trong lĩnh vực giáo dục và giảng dạy ngôn ngữ của mình, chuyên gia người Mỹ Gordon Lewis chia sẻ kinh nghiệm và các vấn đề cần quan tâm cho các giáo viên khi soạn giáo án. Các trò chơi cần phải đơn giản và dễ hiểu với trẻ con, hãy tự thử nghiệm trò chơi trước, bạn có đủ giáo cụ phục vụ cho trò chơi không, trò chơi có phù hợp với trẻ không và quan trọng trên hết là cần phải đảm bảo an toàn cho các em.

Buổi tập huấn không chỉ là cơ hội để các giáo viên được lắng nghe kinh nghiệm và cập nhật phương pháp giảng dạy từ chuyên gia, mà đây là còn là dịp để các thầy cô có thể tận dụng tối đa sự hữu ích của giáo trình Everybody Up của NXB ĐH Oxford đang được sử dụng cho chương trình Anh ngữ Thiếu nhi SuperKids của Anh văn Hội Việt Mỹ VUS.

Được xây dựng trên phương pháp Học thông qua khám phá, chương trình SuperKids hướng đến giúp các em nhỏ xây dựng nền tảng Anh ngữ vững chắc ngay từ bước khởi đầu. Nội dung giáo trình hỗ trợ việc thiết kế các hoạt động kích thích tư duy và yêu thích khám phá nơi trẻ. Nội dung bài học và các yêu cầu trong giáo trình được giáo viên biến hóa thành những hoạt động vui nhộn, khơi gợi hứng thú học tập và giúp trẻ nhớ bài cũng như sử dụng tiếng Anh hiệu quả.

Quỳnh Như

Tổ Chức Trò Chơi Trong Dạy Học Tiếng Anh Lớp 7

Trong thời kì đổi mới đất nước, nguồn lực con người có vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đào tạo những con người phát triển về thể chất, trí tuệ, năng lực ứng dụng sáng tạo là vấn đề cấp bách. Công cuộc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học là nhiệm vụ, là trách nhiệm của toàn ngành, của từng nhà trường, của mỗi giáo viên … Có thể nói: Đổi mới phương pháp là việc làm cụ thể hoá chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước về giáo dục.

Môn Tiếng Anh trong thời kì hội nhập và phát triển, thời kì bùng nổ của công nghệ thông tin có vai trò hết sức quan trọng. Tiếng Anh không đơn giản học để biết, có nó như món hàng trang sức mà thực tế nó không thể thiếu ngay trong cuộc sống sinh hoạt, học tập và công tác ngày thường. Chính vậy, mục tiêu đặt ra trong dạy học bộ môn là: Hình thành, phát triển kiến thức, kĩ năng cơ bản cho HS, vốn tri thức đó sẽ đặt nền móng cho các em để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống. Các em biết vận dụng nó như một công cụ giao tiếp và tư duy, biết sử dụng Tiếng Anh trong giao tiếp đơn giản và hiểu biết khái quát về nền văn minh nhân loại, nền văn hóa các nước qua từng bài học. Vậy làm thế nào để các em yêu thích bộ môn? làm thế nào để dạy học Tiếng Anh có chất lượng? Chúng ta không thể không tiếp tục vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực trong từng tiết học, trong mỗi bài dạy…Trong đó tổ chức trò chơi là một hình thức dạy học tích cực. 2. Cơ sở thực tiễn: ” Đổi mới phương pháp” là một thuật ngữ hết sức chung chung cho tất cả các môn học, các cấp học. Mỗi chúng ta cần có sự vận dụng sáng tạo theo đặc trưng môn học mình phụ trách, phù hợp với từng kiểu bài và cho các đối tượng HS. Trong dạy học ngoại ngữ : phương pháp giao tiếp ( Communicative approach) mang tính đặc thù bộ môn. Việc tạo cho các em một môi trường giao tiếp có thể bỏ qua mọi áp lực, học hết mình, thể hiện chính mình – đó chính là ” trò chơi trong tiết học Tiếng Anh”..

Một Số Biện Pháp Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1

Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo.

Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên – xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài: Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo. Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên - xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng đối với lứa tuổi này, các em rất dễ nhàm chán khi nghe những lời nói mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc hoặc những yêu cầu khô khan mà các em phải thực hiện theo. Đề tạo hứng thú cho học sinh chú ý vào tiết học, tích cực tham gia các hoạt động học tập là một giáo viên chủ nhiệm lớp không thể không suy nghĩ, tìm tòi để đưa ra phương hướng giảng dạy mang lại hiệu quả nhất định. Và điều cần thiết không thể thiếu đó là lồng ghép trò chơi có nội dung bài học vào các hoạt động dạy học. Trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với lứa tuổi tiểu học. Nhất là học sinh lớp Một, Giai đoạn chuyển từ chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động chính là học. Mặt khác khi chơi trò chơi học tập, các em phải huy động nhiều giác quan để tham gia. Rất dễ nhận thấy điều này khi quan sát một tiết học của học sinh lớp Một: các em chỉ tập trung nghe bạn, nghe cô nói một lúc đầu, sau đó thì đa số trẻ bắt đầu mất trật tự, không chú ý hoặc làm việc riêng. Phải làm thế nào để thu hút mọi học sinh trong lớp vào việc học mà không gây cho các em cảm giác mệt mỏi, là vấn đề vô cùng khó khăn đối với một giáo viên phụ trách lớp Một. Bởi vì chỉ khi học sinh tự giác tham gia vào các hoạt động học thì lúc đó các em mới thực sự tiếp thu bài học và biến sự "hiểu biết" thành kiến thức, kĩ năng của chính mình. Qua nhiều năm dạy lớp Một tôi đã cố gắng đi tìm lời đáp cho câu hỏi: "Làm thế nào để thu hút học sinh tích cực, tự giác tham gia các hoạt động học tập?" Sau khi tìm hiểu, thử nghiệm tôi nhận ra rằng: học sinh rất hứng thú khi được tham gia trò chơi học tập. 2. Mục đích nghiên cứu: - Đề tài nghiên cứu này nhằm giúp cho học sinh có thói quen học tập để tạo hứng thú học tập và tự củng cố được kiến thức của mình, tích cực hoạt động tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kỹ năng bằng nhiểu hình thức cá nhân, nhóm lớp. - Tạo môi trường không khí lớp học sinh động thoải mái phù hợp với tâm lý của trẻ "Vừa học vừa chơi" phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của các em. - Tạo sự gắn bó thân thiện giữa các em học sinh với nhau, giữa giáo viên và học sinh. PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Năm học 2010 - 2011 tôi được phân công dạy lớp 12, lớp tôi quản lý tổng số có 34 học sinh trong đó 11 nữ, 23 nam. Trong công tác chủ nhiệm có một số thuận lợi và khó khăn như sau: 1. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, của phụ huynh học sinh. - Cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ. - Đồ dùng dạy học và các phương tiện hỗ trợ dạy học tương đối đầy đủ. - Học sinh đa số đã được học qua mẫu giáo. 2. Khó khăn: - Còn một số phụ huynh có ít thời gian chú ý đến việc học tập, chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. - Học sinh còn thụ động trong việc học, chưa tự giác tham gia các hoạt động học tập. - Học sinh lớp Một thường phát âm sai vần, sai âm đầu, và sai cả âm cuối. PHẦN III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Học sinh lớp Một chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập điều này sẽ gây cho học sinh mệt mỏi, chính vì vậy giáo viên phải tạo điều kiện cho các em học sinh học mà chơi - chơi mà học bằng cách kết hợp trò chơi trong học tập để dạy tốt nhằm tạo ra không khí lớp học sinh động, vui vẻ. - Học sinh tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi. Đọc : Thực tiễn cho thấy học sinh lớp Một thuộc tương đối nhanh bài vừa học. VD: Khi học bài vần "ăt" - "ât" học sinh sẽ đọc rất nhanh những từ ứng dụng có trong sách giáo khoa. Nhưng với những chữ ngoài sách giáo khoa có vần "ăt", "ât" học sinh sẽ lúng túng, đánh vần rất chậm. Đó là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi: học sinh lớp Một ghi nhớ máy móc, tư duy trực quan, khả năng tập trung chú ý không cao, nên rất dễ dẫn dến học vẹt. Từ đặc điểm tâm lý này, người giáo viên nên có cách riêng để tổ chức cho học sinh có nhiều cơ hội luyện đọc. Việc luyện đọc âm, vần vừa học càng nhiều càng giúp các em nhớ chữ và đọc trôi chảy. Mặt khác cũng do tâm lý lứa tuổi, học sinh lớp Một không bao giờ tập trung vào một việc làm quen thuộc trong một thời gian dài. VD: Khi giáo viên muốn học sinh tự rèn luyện kĩ năng đọc từ và câu trong bài học, giáo viên thường đưa ra yêu cầu: "các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài" thì chỉ ít phút sau đó lớp học đã lao xao tiếng nói và sẽ có nhiều em nói chuyện, làm việc riêng. Khi giáo viên gọi học sinh đứng lên để kiểm tra thì kết quả giáo viên sẽ nhận được là kết quả ngoài ý muốn - các em vẫn phải đánh vần từng chữ, thậm chí có những em không hề đọc khi được giáo viên mời đứng dậy thì lúng túng, ngập ngừng thật lâu mới đánh vần được. Vậy thì làm cách nào để học sinh tự giác, mong muốn đọc được những con chữ kia? Hãy kích thích tính tò mò và tính hiếu thắng của trẻ con bằng những trò chơi có lồng ghép nội dung học tập. Cụ thể giáo viên sẽ thay yêu cầu: "Các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài!", bằng lời mời gọi: "Chú ong này đang cõng một chữ, bông hoa này cũng đang có một chữ. Các em hãy giúp chú ong này tìm đúng bông hoa để khi đọc lên ta sẽ có một từ. Chắc chắn 100 % học sinh trong lớp sẽ "hướng mắt nhìn, miệng đọc" để tìm cho ra chữ. Như vậy để đạt mục đích : học sinh luyện đọc tự giác và đọc trên nhiều dữ liệu ta chỉ cần thay đổi một chút trong phương pháp dạy học đó là tổ chức trò chơi. b) Viết: Đối với học sinh viết đúng chính tả Tiếng Việt là một việc làm khó. Bởi Tiếng Việt của chúng ta có nhiều quy tắc viết. VD: Để biểu thị vỏ âm thanh của âm tiết /c/ có đến 3 cách viết: c; k ; q; /ng/ có 2 cách viết: ng ; ngh. Bên cạnh hiện tượng có nhiều cách viết cho một âm tiết thì việc phát âm theo tiếng địa phương cũng gây trở ngại rất lớn cho việc học viết chính tả. Dễ nhận thấy học sinh lớp Một phát âm sai vần, sai âm đầu,và sai cả âm cuối. Hãy nghe học sinh đọc: "cánh buồm" thành "cánh bườm", "cá rô" thành "cá gô", "bàn ghế" thành "bàng ghế" Tôi đã thử nghiệm bằng cách dạy các em phát âm đúng để viết chính tả đúng nhưng kết quả không như mong muốn. Vì trong thực tế các em chỉ nghe một mình cô dạy đọc "cái bàn", "bàn tay" còn xung quanh cha mẹ, bạn bè, giao tiếp đều đọc "cái bàng", "bàng tay". Vậy thì làm cách nào để học sinh viết đúng chính tả?. Nguyên tắc: "thực hành nhiều sẽ thành kĩ năng" tôi lại đem áp dụng ở đây. Và trò chơi học tập là một phương tiện có hiệu quả . VD: Để giúp học sinh nhớ quy tắc viết : g - gh tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò " Tìm nhà cho chữ" (minh họa trò chơi ở phần sau) c) Mở rộng vốn từ: Hiểu nghĩa của từ cũng là một mục tiêu cần đạt khi dạy Tiếng Việt lớp Một. Mặc dù mục tiêu này không đặt nặng nhưng chỉ cần giáo viên có một chút tìm tòi thì học sinh sẽ có cơ hội mở rộng sự hiểu biết và ham thích học tập. Thiết nghĩ đây cũng là việc giáo viên nên làm. Trong thực tế, ở mỗi tiết học tôi thường đưa ra một câu đố (thường là câu đố dân gian) để kích thích trí tò mò, ham tìm hiểu của học sinh . VD: Khi đọc vần "âu" giáo viên ra câu đố về con trâu, học vần "uôi" giáo viên ra câu đố về con muỗi (minh họa trò chơi ở phần sau) Tóm lại, để đạt được mục tiêu giáo dục đã định, tôi đã đưa ra những trò chơi học tập phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Và thực tế đã có kết quả rất khả quan. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TIẾNG VIỆT LỚP 1 1. Trò chơi rèn kĩ năng chính tả: µ Trò chơi " Tìm nhà cho chữ" * Mục tiêu : Rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đúng quy tắc chính tả * Chuẩn bị : VD : Để ghi nhớ quy tắc chính tả viết /ng/, /ngh/ giáo viên cần chuẩn bị + 2 x 6 thẻ chữ ng/ngh + 2 x 6 ngôi nhà có ghi: ng ngh ngh ng ngh ng .ỉ hè bé ủ ệ sĩ é ọ tre à cá .ừ Tổ chức chơi: Giáo viên gắn lên bảng những hình vẽ ngôi nhà có chữ còn thiếu âm ng/ ngh và thẻ chữ ng/ngh, học sinh thi đua (tiếp sức) gắn đúng thẻ chữ ng/ngh vào ngôi nhà thích hợp. Đội nào nhanh, đúng sẽ thắng. µ Trò chơi " Ai nhanh tay" * Mục tiêu: Luyện kĩ năng đọc và viết từ ứng dụng. * Chuẩn bị: Giáo viên có các thẻ ghi từ ứng dụng (ghi thiếu vần). Học sinh có bảng con. * Tổ chức: Giáo viên gắn các thẻ từ lên bảng, cả lớp ghi vào bảng con vần cần điền. Tổ nào có nhiều bạn chính xác và nhanh sẽ thắng. µ Trò chơi "chung sức" * Mục tiêu: Rèn kĩ năng viết đúng chính tả. * Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (minh họa ở dưới) * Tổ Chức: Giáo viên phát phiếu cho các tổ học sinh, học sinh các tổ ghi chữ còn thiếu vào ô trống , tổ nào nhanh và đúng sẽ thắng. VD: Khi dạy tập đọc bài "Quyển vở của em", giáo viên hướng dẫn học sinh ôn vần bằng phiếu. Đáp án: (1) Tuyết rơi (3) Tiết kiệm (2) Hiểu biết (4) Tuyệt đẹp 2. Trò chơi rèn kĩ năng đọc nhanh từ ứng dụng : µ Trò chơi " Ai tinh mắt" * Mục tiêu: Luyện đọc nhanh từ ứng dụng * Chuẩn bị: Giáo viên ghi các từ ứng dụng lên bảng lớp. * Tổ chức: Học sinh chia làm 2 đội (chơi tiếp sức) thi đua gạch chân và đọc từ có vần vừa học. Đội nào làm nhanh, đọc đúng sẽ thắng. 3. Trò chơi giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc và rèn kĩ năng nói: µ Trò chơi "cùng đồng đội" * Mục tiêu: Giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc và rèn kĩ năng luyện nói. * Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (VD: khi dạy bài cây bàng). Đề bài: Điền vào chỗ trống trong sơ đồ để thấy sự thay đổi của cây bàng qua từng mùa trong năm. * Tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 4 đội, mỗi đội tìm hiểu và điền vào phiếu: Sự thay đổi của cây bàng qua từng mùa trong năm. Đại diện tổ trình bày miệng. Cây bàng Đông Xuân Hè Thu 4. Trò chơi mở rộng vốn từ : µ Trò chơi " ong tìm hoa" * Mục tiêu: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc lưu loát, hiểu nội dung đọc và mở rộng vốn từ. * Chuẩn bị: Giáo viên có 10 chú ong có ghi nội dung từ + 10 bông hoa có ghi từ, cụm từ. VD : Khi dạy bài vần ang - anh ,giáo viên chuẩn bị : 5 x 2 hình vẽ hoa có ghi chữ: cây /buôn /hải / cành / hiền 5 x 2 hình vẽ ong có ghi chữ: chanh /làng /cảng /bàng /lành * Tổ chức: - Chơi tiếp sức - Giáo viên gắn một cột bông hoa có chữ, một cột ong có chữ học sinh thi đua gắn ong vào sát hoa để có từ và đọc từ. Đội nào đọc nhanh sẽ thắng. buôn chanh làng cành cảng cây hải bàng lành hiền µ Trò chơi "câu cá" * Mục tiêu: Giúp mở rộng vốn từ, ôn vần đã học, rèn kĩ năng đọc. * Chuẩn bị: 2 nón có gắn vần ôn. Những con cá có ghi từ có vần ôn, đính trên bảng lớp. * Cách chơi: Học sinh đội nón có vần nào, tìm những từ có tiếng mang vần đó xếp qua một bên. Đội nào nhanh và đúng là thắng. VD: Khi ôn vần anh / ach (bài chính tả "Cái Bống") * Chuẩn bị: anh ach túi xách tay hộp bánh nhanh nhẹn quyển sách hiền lành bức tranh sạch sẽ róc rách µ Trò chơi "Đố vui" * Mục tiêu: giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn kĩ năng phán đoán sự vật, hiện tượng dựa vào những dấu hiệu được gợi ý qua câu đối * Chuẩn bị: giáo viên sưu tầm câu đố dân gian * Phụ lục câu đố: - Có chân mà chẳng biết đi Có mặt phẳng lì cho bé ngồi lên. (cái ghế - dạy bài vần "gh/g" ) - Chẳng biết mặt mũi ra sao Chỉ nghe tiếng nổ trên cao ầm ầm. (sấm - dạy bài vần "âm" ) - Không chân không tay mà hay mở cửa. (chìa khóa -dạy bài vần "oa" ) - Da cóc mà bọc trứng gà Mở ra thơm phức cả nhà muốn ăn. (quả mít - dạy bài vần "it" ) -Ruột dài từ mũi đến chân Mũi mòn ruột cũng dần dần mòn theo. (bút chì - dạy bài vần "ut" ) Không phải bò Không phải trâu Uống nước ao sâu Lên cày ruộng cạn (bút mực - dạy bài vần " ưc" ) 5. Lựa chọn phương pháp: - Phương pháp quan sát. - Phương pháp học theo nhóm. - Phương pháp động não. - Phương pháp thực hành. - Phương pháp thi đua khen thưởng. - Việc lựa chọn vận dụng phối hợp các phương pháp một cách hợp lý, linh hoạt sẽ nâng cao hiệu quả trò chơi, vì không có phương pháp nào là vạn năng. Sẽ giúp các em học tốt và phát triển năng khiếu tư duy ham học hỏi. PHẦN IV: KẾT QUẢ 1. Kết quả của việc ứng dụng đề tài. - Với phương pháp dạy học bằng trò chơi vào giờ học Tiếng việt giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn, học sinh tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo trong việc củng cố và lĩnh hội tri thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không mang tính áp đặt. Trò chơi tạo cho không khí lớp được thoải mái, phấn khởi. Qua các trò chơi học tập, rèn luyện cho các em óc quan sát, trí nhớ phát triển, tư duy và tiếp thu bài có hiệu quả hơn. Trò chơi học tập giúp cho các em ghi nhớ kiến thức đã học. Các em có sự tiến bộ rõ rệt ở hai mặt kĩ năng giao tiếp và kĩ năng đọc, viết Tiếng việt. 2. Kết quả đạt được: Qua một thời gian thực hiện đưa trò chơi học tập vào giờ học Tiếng Việt trên tinh thần phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh, tôi nhận thấy các em học sinh lớp tôi có sự tiến bộ rõ rệt ở 2 mặt Kĩ năng giao tiếp và kĩ năng đọc, viết Tiếng Việt. Về tâm lý các em mạnh dạn hoà đồng, hăng hái phát biểu ý kiến. Đọc viết theo tốc độ quy định tăng lên. * Chuyển biến tâm lý từ đầu năm học đến cuối học kỳ I năm học 2010 - 2011: Chuyển biến về Tâm lý Đầu năm học Cuối Học Kì I Nhút nhát, thiếu tự tin, nói nhỏ 25/34 học sinh 4/34 học sinh Mạnh dạn, hòa đồng, hăng hái phát biểu ý kiến 13/34 học sinh 28/34 học sinh * Kết quả học tập: Loại Đầu năm học Cuối Học Kỳ I Đọc + Viết chậm 24/34 học sinh 11/34học sinh Đọc + Viết theo tốc độ quy định 10/34 học sinh 23/34học sinh PHẦN V: BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua thực tiễn giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm khi thiết kế và tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt lớp Một như sau: µ Trò chơi có thể được tổ chức ở bất kì ở mỗi bước lên lớp của một giờ : kiểm tra bài cũ, hình thành bài mới, củng cố bài µ Mỗi trò chơi học tập phải là một bộ phận của tiến trình lên lớp và phải giải quyết được mục tiêu bài học. µSau mỗi trò chơi, giáo viên phải giúp học sinh rút ra được bài học từ trò chơi đó. µ Giáo viên cần lựa chọn cách chơi sao cho trong mỗi trò chơi càng nhiều học sinh được tham gia càng tốt. µ Giáo viên cần tỏ thái độ quan tâm, khích lệ, động viên những học sinh chậm; học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ. Tránh để các em này có tâm lý "mình dở, mình luôn thua bạn". µ Giáo viên cần tự học tập và rèn luyện cho mình khả năng quan sát, óc phán đoán và hiểu tâm lý trẻ để mỗi lần tổ chức trò chơi là một lần học sinh được tạo điều kiện để phát triển tối đa khả năng, kinh nghiệm, năng lực của mình. PHẦN VI: KẾT LUẬN Trước yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi những người trực tiếp giảng dạy phải nghiên cứu tìm ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh. Một tiết dạy giáo viên không chỉ nắm chắc nội dung kiến thức mà phải biết phối hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp để không ngừng nâng cao kết quả dạy học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao mục tiêu giáo dục Tiểu học. Tuy nhiên, đây chỉ là những kinh nghiệm của cá nhân và chỉ mới được áp dụng trong phạm vi một lớp học nên có lẽ đề tài này cũng cần hoàn thiện ở mức cao hơn. Vậy tôi mong muốn nhận được những đóng góp chân thành của quý thầy cô để giúp tôi áp dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn giảng dạy được tốt hơn. Minh Hòa, ngày 26 tháng 01 năm 2011 Người viết Phaïm Thò Haûi PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH HÒA PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG PHẦN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1 PHẦN I: Lý do chọn đề tài 1- 2 2 PHẦN II: Đặcđiểm tình hình 3 3 PHẦN III: Thực trạng và giải pháp 4 - 6 4 Một số biện pháp tổ chức trò chơi học tập 7 - 13 5 PHẦN IV: Kết quả 14 - 15 6 PHẦN V: Bài học kinh nghiệm 16 7 PHẦN VI: Kết luận 17 8 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học cấp Trường 18 9 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học Phòng GD & ĐT Huyện Dầu Tiếng. 19 10 Phần nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học Sở GD & ĐT Tỉnh Bình Dương. 20

Skkn Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI:“TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1”PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài:Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kém phần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viết thạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo. Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên – xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Thế nhưng đối với lứa tuổi này, các em rất dễ nhàm chán khi nghe những lời nói mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc hoặc những yêu cầu khô khan mà các em phải thực hiện theo. Đề tạo hứng thú cho học sinh chú ý vào tiết học, tích cực tham gia các hoạt động học tập là một giáo viên chủ nhiệm lớp không thể không suy nghĩ, tìm tòi để đưa ra phương hướng giảng dạy mang lại hiệu quả nhất định. Và điều cần thiết không thể thiếu đó là lồng ghép trò chơi có nội dung bài học vào các hoạt động dạy học. Trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với lứa tuổi tiểu học. Nhất là học sinh lớp Một, Giai đoạn chuyển từ chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động chính là học.

Đông

Xuân

Thu Cây bàng* Chuẩn bị: Giáo viên có 10 chú ong có ghi nội dung từ + 10 bông hoa có ghi từ, cụm từ.VD : Khi dạy bài vần ang – anh ,giáo viên chuẩn bị : 5 x 2 hình vẽ hoa có ghi chữ: cây /buôn /hải / cành / hiền 5 x 2 hình vẽ ong có ghi chữ: chanh /làng /cảng /bàng /lành * Tổ chức: – Chơi tiếp sức – Giáo viên gắn một cột bông hoa có chữ, một cột ong có chữ học sinh thi đua gắn ong vào sát hoa để có từ và đọc từ. Đội nào đọc nhanh sẽ thắng.

 Trò chơi “câu cá” * Mục tiêu: Giúp mở rộng vốn từ, ôn vần đã học, rèn kĩ năng đọc. * Chuẩn bị: 2 nón có gắn vần ôn. Những con cá có ghi từ có vần ôn, đính trên bảng lớp. * Cách chơi: Học sinh đội nón có vần nào, tìm những từ có tiếng mang vần đó xếp qua một bên. Đội nào nhanh và đúng là thắng. VD: Khi ôn vần anh / ach (bài chính tả “Cái Bống”) * Chuẩn bị:

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Môn Tiếng Việt Lớp 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:“TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1”

PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI1. Lý do chọn đề tài:Chương trình Tiếng Việt Tiểu học hiện hành đã kế thừa các thành tựu và kinhnghiệm dạy học trong nhiều năm qua và đã có những bước tiến quan trọng đạt đượcnhiều thành tựu to lớn. Chứng tỏ rằng môn Tiếng Việt ở lớp Một chiếm vị trí không kémphần quan trọng. Là nền tảng giúp các em học tốt các môn học và chỉ khi đọc thông, viếtthạo, học sinh mới có thể tiếp thu chắc chắn kiến thức ở những lớp tiếp theo.Ngoài ra, môn tiếng Việt còn rèn cho học sinh một số phẩm chất: cung cấp cho học sinhnhững hiểu biết sơ giản về tự nhiên – xã hội và con người, bôi dưỡng tình yêu tiếng Việt,góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Thế nhưng đối với lứa tuổi này, các em rất dễ nhàm chán khi nghe những lời nói mangtính chất mệnh lệnh, bắt buộc hoặc những yêu cầu khô khan mà các em phải thực hiệntheo. Đề tạo hứng thú cho học sinh chú ý vào tiết học, tích cực tham gia các hoạt độnghọc tập là một giáo viên chủ nhiệm lớp không thể không suy nghĩ, tìm tòi để đưa raphương hướng giảng dạy mang lại hiệu quả nhất định. Và điều cần thiết không thể thiếu

đó là lồng ghép trò chơi có nội dung bài học vào các hoạt động dạy học.

dạy học. Chính vì lẽ đó, bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp Một tôi khôngkhỏi trăn trở băn khoăn, suy nghĩ và tôi không ngần ngại chọn đề tài: „Một số biện pháptổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp Một”.2. Mục đích nghiên cứu:– Đề tài nghiên cứu này nhằm giúp cho học sinh có thói quen học tập để tạo hứngthú học tập và tự củng cố được kiến thức của mình, tích cực hoạt động tiếp nhận kiếnthức, rèn luyện kỹ năng bằng nhiểu hình thức cá nhân, nhóm lớp.– Tạo môi trường không khí lớp học sinh động thoải mái ph hợp với tâm lý của trẻ“Vừa học vừa chơi” phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của cácem.– Tạo sự gắn bó thân thiện giữa các em học sinh với nhau, giữa giáo viên và học sinh.

PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNHNăm học 2010 – 2011 tôi được phân công dạy lớp 12, lớp tôi quản lý tổng số có 34học sinh trong đó 11 nữ, 23 nam. Trong công tác chủ nhiệm có một số thuận lợi và khókhăn như sau:

1. Thuận lợi:– Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, của phụ huynh học sinh.– Cơ sở vật chất được trang bị tương đối đầy đủ.– Đồ d ng dạy học và các phương tiện hỗ trợ dạy học tương đối đầy đủ.– Học sinh đa số đã được học qua mẫu giáo.2. Khó khăn:– Còn một số phụ huynh có ít thời gian chú ý đến việc học tập, chưa thực sự quan tâm đếnviệc học tập của con em mình.– Học sinh còn thụ động trong việc học, chưa tự giác tham gia các hoạt động học tập.– Học sinh lớp Một thường phát âm sai vần, sai âm đầu, và sai cả âm cuối.

PHẦN III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP– Học sinh lớp Một chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập điều này sẽgây cho học sinh mệt mỏi, chính vì vậy giáo viên phải tạo điều kiện cho các em học sinhhọc mà chơi – chơi mà học bằng cách kết hợp trò chơi trong học tập để dạy tốt nhằm tạora không khí lớp học sinh động, vui vẻ.– Học sinh tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức một cáchthoải mái, nhẹ nhàng, ph hợp với lứa tuổi.a)

Đọc : Thực tiễn cho thấy học sinh lớp Một thuộc tương đối nhanh bài vừa học.VD: Khi học bài vần “ăt” – “ât” học sinh sẽ đọc rất nhanh những từ ứng dụng có

trong sách giáo khoa. Nhưng với những chữ ngoài sách giáo khoa có vần “ăt”, “ât” họcsinh sẽ lúng túng, đánh vần rất chậm.Đó là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi: học sinh lớp Một ghi nhớ máy móc, tư duy trực quan,khả năng tập trung chú ý không cao, nên rất dễ dẫn dến học vẹt.Từ đặc điểm tâm lý này, người giáo viên nên có cách riêng để tổ chức cho học sinhcó nhiều cơ hội luyện đọc. Việc luyện đọc âm, vần vừa học càng nhiều càng giúp các emnhớ chữ và đọc trôi chảy.

Mặt khác cũng do tâm lý lứa tuổi, học sinh lớp Một không bao giờ tập trung vàomột việc làm quen thuộc trong một thời gian dài.VD: Khi giáo viên muốn học sinh tự rèn luyện kĩ năng đọc từ và câu trong bài học,giáo viên thường đưa ra yêu cầu: “các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài” thì chỉ ít phútsau đó lớp học đã lao xao tiếng nói và sẽ có nhiều em nói chuyện, làm việc riêng. Khigiáo viên gọi học sinh đứng lên để kiểm tra thì kết quả giáo viên sẽ nhận được là kết quảngoài ý muốn – các em vẫn phải đánh vần từng chữ, thậm chí có những em không hề đọckhi được giáo viên mời đứng dậy thì lúng túng, ngập ngừng thật lâu mới đánh vần được.Vậy thì làm cách nào để học sinh tự giác, mong muốn đọc được những con chữ kia? Hãykích thích tính tò mò và tính hiếu thắng của trẻ con bằng những trò chơi có lồng ghép nộidung học tập. Cụ thể giáo viên sẽ thay yêu cầu: “Các em hãy nhìn lên bảng và đọc bài!”,bằng lời mời gọi: “Chú ong này đang cõng một chữ, bông hoa này cũng đang có một chữ.Các em hãy giúp chú ong này tìm đúng bông hoa để khi đọc lên ta sẽ có một từ. Chắcchắn 100 % học sinh trong lớp sẽ “hướng mắt nhìn, miệng đọc” để tìm cho ra chữ.Như vậy để đạt mục đích : học sinh luyện đọc tự giác và đọc trên nhiều dữ liệu tachỉ cần thay đổi một chút trong phương pháp dạy học đó là tổ chức trò chơi.b) Viết: Đối với học sinh viết đúng chính tả Tiếng Việt là một việc làm khó. BởiTiếng Việt của chúng ta có nhiều quy tắc viết.

VD: Để biểu thị vỏ âm thanh của âm tiết /c/ có đến 3 cách viết: c; k ; q; /ng/ có 2cách viết: ng ; ngh.Bên cạnh hiện tượng có nhiều cách viết cho một âm tiết thì việc phát âm theo tiếngđịa phương cũng gây trở ngại rất lớn cho việc học viết chính tả.Dễ nhận thấy học sinh lớp Một phát âm sai vần, sai âm đầu,và sai cả âm cuối.Hãy nghe học sinh đọc: “cánh buồm” thành “cánh bườm”, “cá rô” thành “cá gô”,“bàn ghế” thành “bàng ghế”Tôi đã thử nghiệm bằng cách dạy các em phát âm đúng để viết chính tả đúng nhưngkết quả không như mong muốn. Vì trong thực tế các em chỉ nghe một mình cô dạy đọc“cái bàn”, “bàn tay” còn xung quanh cha mẹ, bạn bè, giao tiếp đều đọc “cái bàng”, “bàngtay”. Vậy thì làm cách nào để học sinh viết đúng chính tả?. Nguyên tắc: “thực hành nhiềusẽ thành kĩ năng” tôi lại đem áp dụng ở đây. Và trò chơi học tập là một phương tiện cóhiệu quả .VD: Để giúp học sinh nhớ quy tắc viết : g – gh tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò” Tìm nhà cho chữ” (minh họa trò chơi ở phần sau)c) Mở rộng vốn từ: Hiểu nghĩa của từ cũng là một mục tiêu cần đạt khi dạy TiếngViệt lớp Một. Mặc d mục tiêu này không đặt nặng nhưng chỉ cần giáo viên có một chúttìm tòi thì học sinh sẽ có cơ hội mở rộng sự hiểu biết và ham thích học tập. Thiết nghĩ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TIẾNG VIỆT LỚP 11. Trò chơi rèn kĩ năng chính tả: Trò chơi ” Tìm nhà cho chữ”* Mục tiêu : Rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đúng quy tắc chính tả* Chuẩn bị :VD : Để ghi nhớ quy tắc chính tả viết /ng/, /ngh/ giáo viên cần chuẩn bị+ 2 x 6 thẻ chữ ng/ngh+ 2 x 6 ngôi nhà có ghi:

ng

….ỉ hè

ngh

… ệ sĩ

ngh

tre …à

ng

bé …ủ

ngh

…é ọ

ng

cá ….ừ

Tổ chức chơi: Giáo viên gắn lên bảng những hình vẽ ngôi nhà có chữ còn thiếu âm ng/ngh và thẻ chữ ng/ngh, học sinh thi đua (tiếp sức) gắn đúng thẻ chữ ng/ngh vào ngôi nhàthích hợp. Đội nào nhanh, đúng sẽ thắng. Trò chơi ” Ai nhanh tay”* Mục tiêu: Luyện kĩ năng đọc và viết từ ứng dụng.* Chuẩn bị: Giáo viên có các thẻ ghi từ ứng dụng (ghi thiếu vần). Học sinh cóbảng con.

* Tổ chức: Giáo viên gắn các thẻ từ lên bảng, cả lớp ghi vào bảng con vần cầnđiền. Tổ nào có nhiều bạn chính xác và nhanh sẽ thắng. Trò chơi “chung sức”* Mục tiêu: Rèn kĩ năng viết đúng chính tả.* Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (minh họa ở dưới)* Tổ Chức: Giáo viên phát phiếu cho các tổ học sinh, học sinh các tổ ghi chữcòn thiếu vào ô trống , tổ nào nhanh và đúng sẽ thắng.VD: Khi dạy tập đọc bài “Quyển vở của em”, giáo viên hướng dẫn học sinhôn vần bằng phiếu.

(1) Tuyết rơi

(3) Tiết kiệm

(2) Hiểu biết

(4) Tuyệt đẹp

2. Trò chơi rèn kĩ năng đọc nhanh từ ứng dụng : Trò chơi ” Ai tinh mắt”* Mục tiêu: Luyện đọc nhanh từ ứng dụng* Chuẩn bị: Giáo viên ghi các từ ứng dụng lên bảng lớp.* Tổ chức: Học sinh chia làm 2 đội (chơi tiếp sức) thi đua gạch chân và đọc từ có vần vừahọc. Đội nào làm nhanh, đọc đúng sẽ thắng.3. Trò chơi giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc và rèn kĩ năng nói: Trò chơi “cùng đồng đội”* Mục tiêu: Giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc và rèn kĩ năng luyện nói.* Chuẩn bị: Giáo viên in phiếu (VD: khi dạy bài cây bàng). Đề bài: Điền vào chỗ trốngtrong sơ đồ để thấy sự thay đổi của cây bàng qua từng m a trong năm.* Tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 4 đội, mỗi đội tìm hiểu và điền vào phiếu: Sự thayđổi của cây bàng qua từng m a trong năm. Đại diện tổ trình bày miệng.

Cây bàng

Xuân

Thu

4. Trò chơi mở rộng vốn từ :

Trò chơi ” ong tìm hoa”* Mục tiêu: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc lưu loát, hiểu nội dung đọc

và mở rộng vốn từ.* Chuẩn bị: Giáo viên có 10 chú ong có ghi nội dung từ + 10 bông hoa có ghitừ, cụm từ.

VD : Khi dạy bài vần ang – anh ,giáo viên chuẩn bị :5 x 2 hình vẽ hoa có ghi chữ: cây /buôn /hải / cành / hiền5 x 2 hình vẽ ong có ghi chữ: chanh /làng /cảng /bàng /lành* Tổ chức:– Chơi tiếp sức– Giáo viên gắn một cột bông hoa có chữ, một cột ong có chữ học sinh thiđua gắn ong vào sát hoa để có từ và đọc từ. Đội nào đọc nhanh sẽ thắng.

làng

cảng

cành

cây

hải

hiền

lành

 Trò chơi “câu cá”* Mục tiêu: Giúp mở rộng vốn từ, ôn vần đã học, rèn kĩ năng đọc.

* Chuẩn bị: 2 nón có gắn vần ôn. Những con cá có ghi từ có vần ôn, đínhtrên bảng lớp.* Cách chơi: Học sinh đội nón có vần nào, tìm những từ có tiếng mang vần đóxếp qua một bên. Đội nào nhanh và đúng là thắng.VD: Khi ôn vần anh / ach (bài chính tả “Cái Bống”)* Chuẩn bị:

anh

túi xách tay

quyển sách

hiền lành

róc rách

ach

hộp bánh

nhanh nhẹn

bức tranh

sạch sẽ

– Da cóc mà bọc trứng gàMở ra thơm phức cả nhà muốn ăn.(quả mít – dạy bài vần “it” )-Ruột dài từ mũi đến chânMũi mòn ruột cũng dần dần mòn theo.(bút chì – dạy bài vần “ut” )–

Không phải bò

Không phải trâu

Uống nước ao sâu

Lên cày ruộng cạn(bút mực – dạy bài vần ” ưc” )

5. Lựa chọn phương pháp:– Phương pháp quan sát.– Phương pháp học theo nhóm.– Phương pháp động não.– Phương pháp thực hành.– Phương pháp thi đua khen thưởng.– Việc lựa chọn vận dụng phối hợp các phương pháp một cách hợp lý, linh hoạt sẽ nângcao hiệu quả trò chơi, vì không có phương pháp nào là vạn năng. Sẽ giúp các em học tốtvà phát triển năng khiếu tư duy ham học hỏi.

* Chuyển biến tâm lý từ đầu năm học đến cuối học kỳ I năm học2011:Chuyển biến về Tâm lý

Đầu năm học

Nhút nhát, thiếu tự tin, nói 25/34 học sinh

Cuối Học Kì I4/34 học sinh

nhỏMạnh dạn, hòa đồng, hăng 13/34 học sinhhái phát biểu ý kiến

28/34 học sinh

2010 –

* Kết quả học tập:

Loại

Đầu năm học

Cuối Học Kỳ I

24/34 học sinh

11/34học sinh

Đọc + Viết theo tốc độ 10/34 học sinh

23/34học sinh

Đọc + Viết chậm

quy định

PHẦN V: BÀI HỌC KINH NGHIỆMQua thực tiễn giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm khi thiết kế và tổ chứctrò chơi học tập Tiếng Việt lớp Một như sau: Trò chơi có thể được tổ chức ở bất kì ở mỗi bước lên lớp của một giờ : kiểm tra bài cũ,hình thành bài mới, củng cố bài… Mỗi trò chơi học tập phải là một bộ phận của tiến trình lên lớp và phải giải quyết đượcmục tiêu bài học.Sau mỗi trò chơi, giáo viên phải giúp học sinh rút ra được bài học từ trò chơi đó. Giáo viên cần lựa chọn cách chơi sao cho trong mỗi trò chơi càng nhiều học sinh đượctham gia càng tốt. Giáo viên cần tỏ thái độ quan tâm, khích lệ, động viên những học sinh chậm; học sinhchưa hoàn thành nhiệm vụ. Tránh để các em này có tâm lý “mình dở, mình luôn thuabạn”. Giáo viên cần tự học tập và rèn luyện cho mình khả năng quan sát, óc phán đoán vàhiểu tâm lý trẻ để mỗi lần tổ chức trò chơi là một lần học sinh được tạo điều kiện để pháttriển tối đa khả năng, kinh nghiệm, năng lực của mình.

Tóm Tắt Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Trong Giờ Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 2

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xuất phát từ thực tế và từ mục tiêu giáo dục của nước ta là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; trong những năm gần đây nhà nước ta đã từng đổi mới phương pháp giáo dục ở các nhà trường phổ thông nói chung và ở nhà trường tiểu học nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Hiện nay, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được áp dụng vào nhà trường tiểu học. Trong đó có sự kết hợp hài hóa giữa việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, và vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực. Một trong những phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học đang được giáo viên (GV) chú trọng là phương pháp trò chơi học tập. Hoạt động trò chơi học tập góp phần giúp giáo viên tổ chức dạy học tiếng Việt theo định hướng nói trên. Thông qua hoạt động thực hành nói chung và các trò chơi nói riêng, hoạt động dạy học sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh. Đã có nhiều tác giả đề xuất các trò chơi học tập Tiếng Việt. Tuy nhiên việc vận dụng sáng tạo các trò chơi đó vào dạy học môn Tiếng Việt còn rất hạn chế. Vì vậy, ở đề tài này chúng tôi đi sâu vào việc nghiên cứu cách vận dụng các trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 bậc Tiểu học. Xuất phát từ những lí di trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: ” Tổ chức trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp 2″. Với mong muốn giúp các em học sinh yêu thích và học tập tốt hơn môn Tiếng Việt. 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài Nghiên cứu hoạt động tổ chức trò chơi học tập, trò chơi Tiếng Việt nói chung và trò chơi trong giờ học Tiếng Việt nói riêng không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập tập trung ở một số hướng chính sau: Hướng thứ nhất: nghiên cứu các trò chơi học tập nói chung Trò chơi học tập không phải là vấn đề mới. Nhiều nhà nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã chỉ rõ tầm quan trọng của loại hoạt động này. Trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều nhà giáo dục trong nước nghiên cứu, tìm tòi, thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn diện hứng thú học tập cho các em như cuốn: “Tổ chức hoạt động

2

vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng (chủ biên), hay cuốn: “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sĩ Tụng và Trần Quang Đức (đồng chủ biên). Ở các tài liệu này, các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò cũng như tác dụng của trò chơi và đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung nhưng chưa đi sâu vào ứng dụng và tổ chức trò chơi trong môn học cụ thể. Hướng thứ hai: Nghiên cứu các trò chơi Tiếng Việt Nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu và nhiều ý kiến xung quanh vấn đề trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học. – Theo tác giả Nguyễn Trí: Dạy học ở bậc Tiểu học, nhất là các lớp 1,2,3 nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập thì sẽ có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập và tạo chất lượng cho bài học Tiếng Việt. – Các tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga thông qua cuốn Trò chơi học tập Tiếng Việt 2,3 NXB Giáo dục, 2003, 2004 đã bàn về việc sử dụng trò chơi học tập: Những trò chơi đưa vào sách thường dựa vào nội dung cụ thể của từng phân môn. Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào từng địa bàn, từng đối tượng HS để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí. Tóm lại, khi xây dựng trò chơi sử dụng trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói chung và trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 nói riêng , mục tiêu vui mà học được các nhà nghiên cứu cho là yếu tố quyết định. Mặt khác thông qua trò chơi học tập, học sinh được phát triển một cách toàn diện cả về thể lực, trí tuệ lẫn nhân cách. Đưa trò chơi vào lớp học làm cho việc học Tiếng Việt nhẹ nhàng và hiệu quả. Điểm qua các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập và trò chơi trong dạy Tiếng Việt, chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào diện rộng, quan tâm giới thiệu các trò chơi và một số ví dụ về cách tổ chức. Việc xem xét các biện pháp cụ thể để tổ chức các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt cho một đối tượng HS xác định vẫn chưa có công trình nào đi sâu xem xét. Đây chính là khoảng trống dành cho đề tài chúng tôi đi tiếp. 3. Mục đích nghiên cứu. Thông qua các trò chơi giúp học sinh tự mình chiếm lĩnh các tri thức và kĩ năng Tiếng Việt một cách tự nhiên, thoải mái nhất nhằm góp phần nâng cao năng lực giao tiếp cho các em. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

4

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn Chương 2: Tổ chức một số trò chơi học tập trong giờ học Tiếng Việt lớp hai Chương 3: Thực nghiệm

5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 . Cơ sở lí luận 1.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ * Giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội + Giao tiếp – nhu cầu thiết yếu của con người + Hai phương tiện giao tiếp cơ bản của con người + Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ * Khái niệm về hoạt động giao tiếp + giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm giữa người và người. + Giao tiếp, một hiện tượng xã hội + Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp Nhân vật giao tiếp Nội dung giao tiếp Mục đích giao tiếp Phương tiện giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp + Hoàn cảnh giao tiếp rộng là hoàn cảnh xã hội, lịch sử, là hoàn cảnh văn hóa mà các nhân vật giao tiếp tồn tại và thực hiện hoạt động giao tiếp. + Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thể… diễn ra cuộc giao tiếp. 1.1.2. Lí luận chung về trò chơi học tập 1.1.2.1 Khái niệm về chơi, trò chơi và trò chơi học tập a) Khái niệm chơi b) Khái niệm trò chơi c) Trò chơi học tập * Khái niệm * Luật chơi của trò chơi học tập 1.1.2.2 Trò chơi học tập Tiếng Việt  Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt Theo tác giả Lê Phương Nga: kết hợp sử dụng các hình thức trò chơi về Tiếng Việt làm phương tiện hỗ trợ cho việc phát triển Tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hoạt động trò chơi học sinh được củng cố về môn Tiếng Việt (ngữ âm, chữ viết, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp và văn bản).

6

 Loại hình trò chơi học tập Tiếng Việt Tùy đặc trưng từng phân môn Tiếng Việt mà có các loại hình trò chơi thích hợp. Có thể kể tới một số loại hình trò chơi tiêu biểu như sau: từ ngữ, ngữ pháp và văn bản. 1) Trò chơi tô chữ trên tranh 2) Trò chơi đi tìm lời thơ 3) Trò chơi đọc thơ truyền diện 4) Trò chơi đi tìm từ hoặc tiếng theo yêu cầu chính tả. – Các hình thức tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt ” Trò chơi tiếp sức” ” Trò chơi tăng tốc” ” Trò chơi đồng đội”… 1.1.2.3 Vai trò của trò chơi học tập và trò chơi học tập Tiếng Việt * Vai trò của trò chơi học tập Vui chơi chiếm vị trí đang kể trong đời sống của các em, đặc biệt giai đoạn đầu bậc Tiểu học. Thông qua trò chơi trẻ dần hoàn thiện các thuộc tính tâm lí, nhân cách, trí tuệ và cả thể lực cũng được nâng lên. Có nghĩa là trẻ em “lớn” lên trong vui chơi. Khi chơi trẻ được hoạt động, được nhận thức hiện thực khách quan một cách cụ thể và để trả lời kích thích biến đổi thực tiễn. Trong lúc chơi: Hình thành cho trẻ các khả năng quan sát, óc phán đoán, suy luận; phối hợp tập thể; hoàn thiện khả năng ngôn ngữ. Mỗi trò chơi có một tác dụng khác nhau, song trò chơi nhìn chung là giúp các em rèn luyện những đức tính quý báu. Đồng thời trò chơi còn giúp các em hoàn thiện các kĩ năng ứng dụng học vấn vào cuộc sống hằng ngày. * Vai trò của trò chơi học tập Tiếng Việt Thứ nhất: Việc sử dụng trò chơi học tập vào dạy học tiếng Việt làm thay đổi hình thức học tập, tạo bầu không khí trong lớp học trở nên sôi nổi, thoải mái hơn. HS tiếp thu kiến thức tự giác hơn, tích cực hơn. HS thấy vui hơn, dễ chịu và khỏe mạnh hơn. Thứ hai: Trò chơi học tập được sử dụng nhằm vận dụng, củng cố các nội dung kiến thức vừa được hình thành, hình thành kĩ năng cho học sinh, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em tích lũy được thông qua hoạt động chơi.

7

Thứ ba: Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng, khả năng linh hoạt, độc lập , sáng tạo cho học sinh. Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình học tập của HS trở thành hoạt động vui và hấp dẫn hơn. Thứ tư: Đối với HS Tiểu học, không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách tự nhiên, có hiệu quả, rèn luyện tính tự chủ cao bằng trò chơi học tập vì qua đó các em biết tự kiềm chế, tích cực trong từng hoạt động. Tóm lại: Trò chơi học tập Tiếng Việt giúp HS phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Loại trò chơi này làm cho HS được phát triển năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng 1.2. Cơ sở tâm lí học Ở lứa tuổi tiểu học, cơ thể trẻ đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể là các hệ cơ quan chưa hoàn thiện, vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt, nhất là khi hoạt động quá mạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí.Trò chơi học tập Tiếng Việt, nhất là các hình thức học tập ngoại khóa sẽ góp phần cải thiện đáng kể tình trạng này Học sinh Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ. Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên phải tạo ra hứng thú trong học tập và phải thường xuyên cho học sinh được luyện tập.Trò chơi học tập Tiếng việt với phương châm vui mà học sẽ tạo sự hào hứng cho trẻ. Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh. Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới, song các em lại chóng chán. Do vậy, trong dạy học, giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, đưa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ,… để củng cố, khắc sâu kiến thức. 1.3 . Cơ sở thực tiễn Trong thời gian gần đây, trò chơi học tập đã được giáo viên sử dụng. Họ đã sáng tạo và áp dụng nhiều hơn trong quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt (đặc biệt các lớp đầu cấp) nói riêng. Tuy còn

8

nhiều bỡ ngỡ và lúng túng, song không thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của trò chơi học tập đối với việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Muốn học sinh Tiểu học học tốt thì mỗi người giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động. Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh sẽ diễn ra đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo cac em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với cuốc sống diễn ra hằng ngày. 1.3.1. Nội dung các trò chơi trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 Về SGK Tiếng Việt lớp 2 có hai tập (tập 1 và tập 2), mỗi tập gồm 15 chủ điểm, mỗi chủ điểm học trong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần). Các chủ điểm có nội dung gần gũi, quen thuộc, gắn bó với đời sống hằng ngày của các em. Ví dụ: Chủ điểm Bạn bè, trường học, thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em, sông biển, cây cối… 1.3.2. Khảo sát thực trạng sử dụng các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt lớp 2 ở hai lớp 2A và 2B trường Tiểu học Minh Đức – huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên * Mục đích khảo sát Tìm hiểu thực tế dạy học ở trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – Thái Nguyên nhằm biết khi dạy học môn Tiếng Việt giáo viên có sử dụng trò chơi TV hay không? Nếu có thì đạt hiệu quả đến đâu? Nếu không thì do những nguyên nhân nào?, Những hiểu biết về thực trạng này giúp chúng tôi đề xuất, thiết kế một số trò học tập vá cách vận dụng trò chơi đó vào các bài học cụ thể trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 có hiệu quả hơn * Nội dung khảo sát – Thực trạng có hay không sử dụng trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. * Nhận xét chung Qua điều tra, khảo sát thực tế tại trường Tiểu học Minh Đức tôi nhận thấy: đa số GV đều thấy vai trò, ý nghĩa, tác dụng của trò chơi học tập trong dạy học

9

ở Tiểu học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 2 nói riêng, nhưng do nhiều nguyên nhân như đã trình bày ở trên mà GV ít sử dụng trò chơi học tập vào giảng dạy. Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn để chúng tôi tìm hiểu, thiết kế minh họa một số trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 ở chương sau. Tiểu kết chương HS tuổi Tiểu học rất thích trò chơi học tập bởi lẽ nó phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của các em: Trò chơi học tập giúp các em có hứng thú học tập với môn học này, rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan và tạo cơ hội cho HSTH giao lưu với bạn bè, nâng cao hiệu quả học tập. Môn Tiếng Việt là môn học khó, được xây dựng theo quan điểm tích hợp với các môn học khác tích hợp trong các phân môn của môn học; là môn học được xây dựng theo hướng đồng tâm; thực hiện theo định hướng đổi mới từ đó tạo điều kiện tối đa cho GV đổi mới phương pháp dạy học. Đây cũng là môn học có nhiều ứng dụng trong đời sống, cần thiết cho tất cả mọi người, góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm của con người với con người, với quê hương đất nước. Trò chơi học tập là một phương pháp được áp dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học. sử dụng trò chơi học tập tạo không khí lớp học sôi động (học mà vui), vui vẻ; làm cho việc tiếp nhận các kiến thức của môn Tiếng Việt trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn. Để phát huy tối đa vai trò, tác dụng của trò chơi học tập thì người GV phải tìm tòi, sáng tạo trong việc thiết kế, tổ chức trò chơi học tập để gây hứng thú và tránh sự nhàm chán cho HS. Đồng thời nắm bắt các yêu cầu cơ bản khi tổ chức trò chơi học tập để đạt được hiệu quả mong muốn. Như vậy, việc đưa trò chơi học tập vào dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học là việc làm phù hợp và thiết thực đối với việc dạy và học. Góp phần vào việc thực hiện nguyên lí giáo dục: “học đi đôi với hành”. CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 2 2.1. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi phù hợp với từng phân môn Tiếng Việt Có thể căn cứ vào một số nguyên tắc sau đây để lựa chọn trò chơi học tập.

10

* Căn cứ vào đối tượng học sinh * Căn cứ vào mục đích sử dụng trò chơi học tập * Căn cứ vào nội dung bài học * Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của lớp học 2.2. Cách tổ chức, những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt * Cách tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt Khi tổ chức một trò chơi học tập môn Tiếng Việt thường được tiến hành theo 5 bước như sau: Bước 1: giới thiệu trò chơi: – Nêu tên trò chơi: – Giới hiệu đồ dùng để tham gia chơi – Hướng dẫn cách chơi (vừa mô tả, vừa thực hành). – Phân chia nhóm chơi (đội chơi)  Bước 2: Chơi thử (nếu cần) đối với những trò chơi mới, phức tạp GV có thể cho HS chơi thử trước. Khi đó GV theo dõi, hướng dẫn thêm cho các đội chơi.

Bước 3: Nhấn mạnh luật chơi (nhất là những lỗi thường gặp ở phần chơi

thử). Bước 4: Chơi thật, xử phạt những người phạm luật chơi. Bước 5: nhận xét kết quả trò chơi, nhấn mạnh luật chơi, thái độ của người tham dự. Lưu ý: + Thưởng – phạt phải công minh đúng luật, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác, làm cho trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của HS. + Thưởng những HS, những nhóm tham gia chơi nhiệt tình, đúng luật và “thắng” trong cuộc chơi. Hính thức : khen ngợi, khích lệ bằng tràng pháo tay… + Phạt những HS, những nhóm HS bằng những hình thức đơn giản: chào đội thắng cuộc, kể chuyện vui, hát một bài, múa, nhảy lò cò… * Những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt – Mỗi trò chơi nói chung được gắn với một phân môn, một bài cụ thể hoặc có những tri thức tổng hợp cho cả một chủ điểm.

11

– Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt tạo cho GV nhiều cơ hội tổ chức phù hợp đối với đối tượng HS của mình. – Các trò chơi thường được tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian từ 5 – 10 phút. Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm, dễ kiếm. – GV phải hướng dẫn cụ thể cách rồi sau đó các nhóm tự đánh giá, giám sát lẫn nhau. Ngoài ra, GV viên phải có nhận xét, khích lệ, không để thời gian chơi quá nhiều ảnh hưởng đến giờ học. – Khi tổ chức trò chơi Gv phải lưu ý tránh cho HS những phản ánh không tích cực và kịp thời sửa chữa (nếu có); lưu ý khuyến khích, động viên, khen thưởng những HS có phản ứng tích cực. – Thời gian tổ chức chơi, địa điểm chơi GV phải có sự chuẩn bị kỹ càng và tạo được sự thu hút cuộc chơi, trong quá trình chơi luôn có không khí bình đẳng, tôn trọng nhau. 2.3. Hoạt động tổ chức trò chơi trong các phân môn môn Tiếng Việt lớp 2 2.3.1. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc 2.3.1.1 Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập đọc – Trò chơi: “Thi đọc tiếp sức” – Trò chơi: “Bông hoa kì diệu” – Trò chơi: “Điền từ đúng” – Trò chơi: “Biết một câu, đọc cả đoạn” – Trò chơi: “Thả thơ” – Trò chơi: “Đi học” 2.3.1.2. Tổ chức trò chơi trong phân môn Tập đọc 1/ Trò chơi: “Thi đọc tiếp sức” Áp dụng khi dạy bài: Phần thưởng (trang 13,14 – Tiếng Việt 2, tập 1) Mục đích: Rèn kĩ năng đọc đúng và nhanh bài Tập đọc, luyện tác phong nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng vâu nối tiếp. Thời gian chơi: 5 – 7 phút Chuẩn bị: – Một đồng hồ (bấm thời gian chơi) – Chọn một HS làm trọng tài Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội có 5 em Tổ chức chơi:

12

– 3 đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở sẵn trang 13 có bài Phần thưởng sẽ thi đọc. – Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái) phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh (“Na là một cô bé tốt bụng”). Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 (cạnh vị trí của người số 1) mới được đọc tiếp câu thứ 2 (“Ở lớp, ai cũng mến em”)…cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm; nếu chư chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến người số 1đọc – người số 2 đọc…cho đến hết bài thì dừng lại. Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm. – Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy định được 1 điểm; không được tính điểm nếu vi phạm một rong các trường hợp sau: + Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu. + Đọc tiếp câu sau khi người đọc câu trước chưa xong. + Đọc liền hai câu trở lên. – Khi các nhóm đã đọc xong, trọng tài công bố kết quả về thời gian đọc và điểm số của từng nhóm. Nhóm nào được nhiều điểm nhất (ít hoặc không mắc lỗi) và có thời gian đọc ít nhất là nhóm đó giành phần thắng trong cuộc thi “đọc tiếp sức” theo sách. Thưởng – phạt: – Đội thắng: Được GV tuyên dương trước lớp bằng một tràng pháo tay. – Đội thua: Xếp thành hàng, bắt chước tiếng kêu của các loài động vật: mèo, gà, lợn… Lưu ý: – Trong khi chơi, nếu người đọc câu trước lỡ đọc sang câu sau một vài tiếng rồi mới dừng lại thì người tiếp theo vẫn phải đọc lại từ đầu câu mà mình phải đọc, cả nhóm sẽ bị kéo dài thêm về mặt thời gian. – Trò chơi được sử dụng ở tất cả các tiết Tập đọc. GV có thể thay đổi các bài Tập đọc khác nhau để tổ chức trò chơi phù hợp với nội dung và đối tượng HS. 2/ Trò chơi: “Bông hoa kì diệu” 3/ Tìm nhanh, đọc đúng: 4/ Trò chơi “Biết một câu, đọc cả đoạn” 2.3.2. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Kể chuyện

13

2.3.2.1 Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Kể chuyện – Trò chơi : :Kể chuyện theo vai” – Trò chơi : “Nhìn tranh kể chuyện” – Trò chơi : “Thi kể chuyện liên hoàn” – Trò chơi : “Thi kể chuyện theo lời nhân vật” 2.3.2.2 Tổ chức các trò chơi trong giờ Kể chuyện 1/ Trò chơi “Kể chuyện theo vai” Áp dụng khi dạy bài: “Bạn của Nai nhỏ” (trang 24 – Tiếng Việt 2, tập 1) Mục đích: – Giúp HS ghi nhớ, kể lại câu chuyện “Bạn của Nai nhỏ” một cách sinh động, hấp dẫn. – Rèn luyện cho HS cách diễn đạt, sự mạnh dạn, tự tin. Thời gian chơi: 6 – 8 phút Chuẩn bị: Chọn 1 tổ trọng tài gồm 5 em Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội 3 em đóng 3 vai (người dẫn chuyện, Nai nhỏ và cha Nai nhỏ). Tổ chức chơi: Lần lượt từng đội lên phân vai kể chuyện “Bạn của Nai nhỏ” trong khoảng thời gian 2 phút. Quá 2 phút sẽ bị trừ 1 điểm. Kết thúc trò chơi đội nào kể chuyện hay hơn, sinh động, hấp dẫn hơn và hết ít thời gian hơn là đội đó thắng cuộc. Thưởng – phạt: – Đội thắng: Được GV và các bạn cả lớp tuyên dương. – Đội thua: bị phát hát 1 bài hát trước lớp. Tổng kết trò chơi: Qua trò chơi này các em đã biết kể lại câu chuyện “Bạn của Nai nhỏ” bằng hình thức phân vai dựng chuyện. Lưu ý: Trò chơi được áp dụng trong các bài Có công mài sắt có ngày nên kim, Chiếc bút mực, Mẩu giấy vụn… của phân môn Kể chuyện lớp 2. Trò chơi cũng có thể dụng trong phân môn Kể chuyện ở các lớp lớn hơn ( lớp 3, 4, 5) hoặc lớp nhỏ hơn (lớp 1) tùy theo mục đích, nội dung bài dạy. 2/ Trò chơi: “Nhìn tranh kể đoạn” 2.3.3. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Chính tả 2.3.3.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Chính tả – Trò chơi: “Hái quả”, “Hoa tìm lá, lá tìm hoa,”Tìm từ có nghĩa để đặt câu;: ” Điền vần”; “Chọn từ đúng”; “Điền vào ô chữ” 2.3.3.2. Tổ chức các trò chơi trong giờ Chính tả 1/ Trò chơi: “Hái quả”

14

Áp dụng khi dạy bài Chính tả nghe viết: “Thư trung thu” Phân biệt l/n, dấu hỏi, dấu ngã (trang 11 SGK Tiếng Việt 2, tập 2) Mục đích: Giúp HS phân biệt l/n. Rèn cho HS sự nhanh nhẹn, tự tin, tinh

2 bảng phụ: mỗi bảng có 2 giỏ đựng quả, trên mỗi giỏ có ghi l/n (là các chữ HS cần phân biệt) như sau :

thần đoàn kết. Thời gian chơi: 3 – 4 phút. Chuẩn bị : – 2 mô hình cây như hình vẽ trên tờ giấy to A3 hoặc A0 (dành cho 2 đội chơi) – 2 bộ thẻ quả, mỗi bộ gồm 8 thẻ quả có ghi các từ chứa các chữ l/n, mặt sau mỗi quả có dán nam châm để dán các thẻ quả lên cây như hình vẽ sau:

Chọn đội chơi: GV chọn 2 đội chơi, mỗi đội gồm 4HS – Đội 1: Đội Khỉ con – Đội 2: Đội Sóc con Tổ chức chơi: – GV chia bảng lớp thành 2 phần, mỗi phần dán một mô hình cây, trên cây có dán các thẻ quả. Các bảng phụ với giỏ đựng quả được dán ngay bên dưới mô hình cây của mỗi đội chơi để các thành viên trong đội chơi sẽ lên hái quả và bỏ vào giỏ. – Khi có hiệu lệnh của người quản trò, lần lượt mỗi thành viên trong các đội chơi sẽ lên hái các quả và xem các thẻ quả đó phù hợp với giỏ quả nào thì sẻ bỏ quả vào giỏ đó (bằng cách dán quả xuống phía dưới giỏ). Sau đó chạy chạy về và đập vào vai bạn tiếp theo để bạn tiếp tục lên hái quả, cứ tiếp tục như vậy cho đến hết thời gian.

15

– Với 1 quả hái được và cho vào đúng giỏ sẽ được 10 điểm. – Trong khoảng thời gian 3 phút, đội nào hái được nhiều quả và bỏ vào đúng giỏ ghi được nhiều điểm hơn sẽ là đội thắng cuộc. Thưởng – phạt: – Đội thắng: mỗi em được 1 cây bút chì. – Đội thua: Xếp thành hàng hát và làm động tác của bài hát “Một con vịt”. Tổng kết trò chơi: Qua trò chơi này các em được luyện tập kĩ năng phân biệt l/n. GV có thể tổ chức cho HS cả lớp đọc đồng thanh các từ ngữ trên thẻ quả nhằm giúp các em ghi nhớ đọc đúng. Lưu ý: – Trò chơi được sử dụng trong các tiết Chính tả, GV có thể thay đổi nội dung, ví dụ: phân biệt r/d/gi; phân biệt ch/tr… cho phù hợp với nội dung bài học và đối tượng HS. – Với một lần chỉ được một bạn lên hái quả và bỏ vào đúng giỏ. 2/ Trò chơi: ” Hoa tìm lá, lá tìm hoa” 3/ Trò chơi: “Tìm từ có nghĩa để đặt câu” 2.3.4. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu 2.3.4.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu – Trò chơi: Truyền diện – Trò chơi: Tìm từ mới – Trò chơi: Tìm “Kẻ trú ẩn” 2.3.4.2. Tổ chức một số trò chơi trong giờ Luyện từ và câu 1/ Trò chơi: Truyền diện 2/ Trò chơi: Tìm từ mới Áp dụng khi dạy bài: Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về cây trồng vật nuôi (trang 133 SGK Tiếng Việt 2, tập 1) Thời gian chơi: 3 – 5 phút Chuẩn bị: Bảng ô chữ (hàng dọc 6 ô, hàng ngang 6 ô, làm bằng giấy hoặc bìa cứng như hình vẽ: C C C C C C

O

N

T

H

16

– Bút dạ Chọn đội chơi: Chơi cả lớp, phân thành các nhóm, mỗi nhóm 5 HS. Tổ chức chơi: GV phát cho mỗi nhóm 1 bảng, trên bảng có 6 ô vuông, ô đầu ghi chữ cái C. Nhiệm vụ của các nhóm là tìm chữ cái thích hợp để điền vào ô trống ở từng hàng để được những từ ngữ là tên các con vật nuôi. Trong thời gian 3 phút, nhóm nào hoàn thành trước và đúng là nhóm thắng cuộc. Thưởng – phạt: Nhóm thắng cuộc được cô giáo và cả lớp khen ngợi, nhó thua cuộc làm trò gây cười cho các bạn trong lớp (bắt chước tiếng mèo kêu, gà, lợn…). Tổng kết trò chơi: Trò chơi giúp các em có thêm hiểu biết về các con vật nuôi. Lưu ý: Trò chơi có thể áp dụng khi dạy các bài nhằm mở rộng vốn từ ngữ Tiếng Việt cho HS trong phân môn Luyện từ và câu ở các lớp Tiểu học. GV có thể thay đổi bằng ô chữ cho phù hợp với từng bài. Cách tổ chức chơi tương tự như vậy. 3/ Trò chơi: Trò chơi: Xếp từ theo nhóm 2.3.5. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập viết 2.3.5.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập viết – Trò chơi: Thi viết nhanh, viết đẹp – Trò chơi: Thi vở sạch, chữ đẹp – Trò chơi: Ai nhanh hơn – ai đẹp hơn 2.3.5.2. Tổ chức một số trò chơi trong phân môn Tập viết 1/ Trò chơi: Thi viết nhanh, viết đẹp Áp dụng khi tổ chức hoạt động ngoại khóa Mục đích: – Giúp HS viết đúng, viết nhanh, viết đẹp đoạn thơ đã học – Rèn luyện cho các em sự mạnh dạn, tự tin. Thời gian chơi: 12 – 15 phút Chuẩn bị: HS học thuộc lòng, chuẩn bị trước đoạn thơ sẽ tổ chức thi trong buổi ngoại khóa. GV và 4 HS làm trọng tài.

17

Chọn đội chơi: Chọn 2 đội chơi, mỗi đội 4 – 5 HS. Tổ chức chơi: – GV chia bảng lớp thành 2 phần, mỗi phần bảng đã được kẻ sẵn dòng kẻ để HS thi viết. Hai đội chơi xếp thành 2 hàng dọc (mỗi đội 1 hàng). – Khi GV hô “bắt đầu” thì lần lượt từng em ở mỗi đội lên viết dòng thơ vào phần bảng của đội mình, bạn viết xong chạy về chạm vào tay bạn tiếp theo, khi đó bạn đấy mới được lên viết tiếp dòng thơ của mình. Cứ lần lượt như vậy sau khoảng 12 phút đội nào viết xong trước, viết đúng và đẹp sẽ thắng cuộc. Thưởng – phạt: – Đội thắng sẽ nhận được một phần thưởng mà GV đã chuẩn bị – Đội thua sẽ xếp thành hàng ngang và bị phạt viết chữ bằng tay trái, các chữ phải viết sẽ do khán giả (HS trong lớp yêu cầu). Tổng kết trò chơi: Thông qua trò chơi này các em được rèn luyện kĩ năng viết chữ sao cho đúng, cho nhanh và đẹp. Lưu ý: – HS trong đội tự phân công nhau dòng thơ mà mình sẽ viết. Trong khi GV tổ chức cho HS chơi, các em HS lần lượt lên viết dòng thơ của mình, khi bạn viết xong dòng thơ đã được bạn phân công quay trở về thì bạn tiếp theo mới được lên viết tiếp. Nếu bạn lên viết chưa về mà bạn khác đã lên là phạm quy và bị trừ 1 điểm. – Trò chơi được tổ chức trong các buổi ngoại khóa Tiếng Việt, tùy vào số lượng HS, nội dung buổi ngoại khóa mà GV tổ chức trò chơi cho phù hợp. 2/ Trò chơi: Ai nhanh hơn – ai đẹp hơn 2.3.6. Hoạt động tổ chức trò chơi trong phân môn Tập làm văn 2.3.6.1. Giới thiệu một số trò chơi trong phân môn Tập làm văn – Trò chơi: “Phỏng vấn” – Trò chơi: “Sắp xếp câu trong một đoạn văn” – Trò chơi: “Nhận lại đồ dùng” – Trò chơi: “Tập làm phóng viên” – Trò chơi: “Thi kể về người thân” – Trò chơi: ” Chia quà quê cho bạn” 2.3.6.1. Tổ chức một số trò chơi trong phân môn Tập làm văn 1/ Trò chơi: Sắp xếp câu trong một đoạn văn  Áp dụng khi dạy bài: Đáp lời xin lỗi. Tả ngắn về loài chim (Trang 39 SGK Tiếng Việt 2, tập 2)  Mục đích:

18

19

các bài học khác. Tuy nhiên, việc vận dụng các trò chơi này vào các tiết học cụ thể có đạt được kết quả như mong đợi của GV hay không còn tùy thuộc vào sự linh hoạt trong cách vận dụng của GV. Qua khảo sát nội dung chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2 và điều tra thực trạng dạy học của GV, tình trạng dạy học môn Tiếng Việt của HS lớp 2 trường tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành thiết kế một số trò chơi học tập vào 2 tiết học cụ thể ở chương tiếp theo. CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm Đưa ra các trò chơi đã xây dựng ở chương 2 vào dạy thực nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy học Tiếng Việt, góp một phần vào đổi mới phương pháp dạy học, phát triển các năng lực tư duy, sự sáng tạo của HS lớp 2.Rèn các kĩ năng Tiếng Việt, phát huy tính tích cực của HS. Quan trọng hơn là để kiểm chứng tính khả thi của đề tài nghiên cứu. 3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 3.2.1. Đối tượng thực nghiệm Đối tượng mà đề tài lựa chọn thực nghiệm là HS khối lớp 2 trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. 3.2.2. Thời gian và địa bàn thực nghiệm Thời gian tiến hành thưc nghiệm là tháng 3 năm 2014 Địa bàn tiến hành thực nghiệm là: Trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. 3.3. Nội dung thực nghiệm Số tiết thực nghiệm là 4 tiết ở bốn phân môn. Trên cơ sở tôn trọng nội dung kiến thức SGK Tiếng Việt tiểu học. 3.4. Phương pháp thực nghiệm Phương pháp thực nghiệm đối chứng. 3.5. Tổ chức thực nghiệm. Tiến hành thực nghiệm tại 2 lớp: 2A và 2B, trường Tiểu học Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đã tìm hiểu về nhận thức cũng như đặc điểm tâm, sinh lí của HS 2 lớp nói trên. Chúng tôi chọn lớp 2A làm thực nghiệm, lớp 2B làm đối chứng.

20

Chúng tôi sử dụng giáo án có vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy ở lớp 2A còn lớp đối chứng 2B sử dụng giáo án không vận dụng trò chơi học tập vào giảng dạy. 3.6. Thiết kế giáo án thực nghiệm Giáo viên giảng dạy: Nguyễn Thị Bằng và Trần Hồng Vân GVCN lớp : 2A và 2B Trường : Tiểu học Minh Đức * Giáo án 1: Tập đọc: Mẹ * Giáo án 2:Kể chuyện: Tôm Càng và Cá Con * Giáo án 3: Luyện từ và câu Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về vật nuôi * Giáo án 4:Chính tả Nghe viết: Thư trung thu Phân biệt l / n, dấu hỏi/ dấu ngã 3.7. Kết quả thực nghiệm 3.7.1. Kết quả học tập 3.7.2. Hứng thú học tập của HS trong tiết học và trong trò chơi 3.7.3. Mức độ chú ý của HS Tiểu kết chương 3 Trong chương 3 chúng tôi đã thiết kế, minh họa cách vận dụng một số trò chơi học tập vào dạy học một số bài học cụ thể của môn Tiếng Việt ở lớp 2. Mặt khác, từ các trò chơi là những gợi ý cho người dạy tiếp tục sáng tạo vận dụng trò chơi vào dạy học ở tất cả các phân môn trong môn Tiếng Việt lớp 2 nhằm nâng cao chất lượng dạy học . Tuy nhiên, mức độ sử dụng của trò chơi còn tùy thuộc vào đặc điểm của từng phân môn; tùy thuộc vào sự linh hoạt, sáng tạo của người GV và phụ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng HS. Đồng thời chúng tôi cũng thiết kế phần thưởng – phạt sau mỗi trò chơi ở từng bài cụ thể. Từ đó, người GV có thể vận dụng, biến đổi sáng tạo phần thưởng – phạt ở mỗi trò chơi này cho các trò chơi khác. Chúng tôi cũng đã tiến hành thực nghiệm dạy học và nhận thấy rằng: Việc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 2 sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, việc tiếp thu kiến thức và học tập tiếng Việt sau này sẽ nhẹ nhàng hơn đối với HS.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tập Huấn Dạy Ngữ Pháp Và Tổ Chức Trò Chơi Trong Lớp Học Tiếng Anh trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!