Xu Hướng 2/2023 # Sợ Nói Tiếng Pháp # Top 6 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sợ Nói Tiếng Pháp # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Sợ Nói Tiếng Pháp được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

“Tôi sợ nói tiếng Pháp”.  ”Tôi cảm thấy tôi thật ngu ngốc khi tôi mở miệng nói tiếng Pháp”. Đây là tâm lý vẫn thường bắt gặp ở những người sợ giao tiếp bằng tiếng Pháp, hoặc những người học ngoại ngữ chuyên về lý thuyết học thuật và ít khi ra môi trường thực tế để giao tiếp. Do đó, họ thường mang tâm lý sợ sai khi mở miệng ra và nói tiếng Pháp, hơn thế nữa nhiều người thường mang tâm lý nhút nhát và e dè nên khi học ngoại ngữ họ rất ít khi giao tiếp và dần dần học trở nên không thể giao tiếp bằng tiếng Pháp được..

1 – Bạn không thể diễn tả ý của bạn bằng tiếng Pháp!

Đây phải là mẹo đầu tiên của tôi. Nhiều người học ngoại ngữ thường là những người có học thức, họ là những người khéo léo chọn từ ngữ khi họ nói tiếng Việt. Đối với họ, tiếng Việt không chỉ là một cách để giao tiếp, đó là một cách để thể hiện sự hóm hỉnh, hài hước của họ, thể hiện bản thân tốt hơn và vị thế xã hội của họ.

Vì vậy, khi học nói tiếng Pháp, họ muốn làm điều tương tự và do đó tự người học sẽ làm khó bản thân và hình thành những câu phức tạp. Và tất nhiên, điều này đã làm cho họ lưỡng lự nhiều, và việc giao tiếp tốt dần trở nên khó khăn hơn. Và điều đương nhiên là họ sẽ nhanh cảm thấy chán nản và dễ dàng từ bỏ việc học giao tiếp ngoại ngữ.

Khi bạn học một ngoại ngữ, bạn cần phải chấp nhận rằng mục tiêu đầu tiên của bạn là giao tiếp. Đơn giản hóa các câu của bạn, như thể bạn đã nói chuyện với một đứa trẻ bốn tuổi. 

2 – Khoan sử các câu tiếng Pháp bạn biết bạn sẽ sử dụng

“Je voudrais un café allongé s’il-vous-plait” (Tôi muốn một ly cà phê kiểu Mỹ). Hoặc có thể bạn thích trà? “Je voudrais un thé s’il-vous-plaît”. Vì vậy, hãy khoan sử dụng từ vựng thiết yếu của bạn và quen thuộc của bạn, và chuẩn bị các đoạn đối thoại, các cuộc trò chuyện tiêu biểu.

Đa dạng hóa các câu, từ khiến bạn các câu đối thoại của bạn trở nên phong phú hơn và hay hơn và bạn có thể học giao tiếp nhiều hơn nữa thay vì chỉ cố định, rập khuôn một vài mẫu câu trong sách vở. Ngoài ra, sự luyện tập học tiếng Pháp mỗi ngày và sự lặp lại là chìa khóa chìa khóa thành công trong việc giao tiếp tiếng Pháp của bạn.

3 – Khoan sử dụng tiếng Pháp khó

Phát âm tiếng Pháp sẽ không trở nên quá khó khăn trừ khi chính bản thân bạn làm nó trở nên khó khăn. Một số từ như “r” hoặc “u ≠ ​​ou” hoặc “é ≠ è” hoặc “ouille, euille, aille” nổi tiếng đặc biệt khó để phát âm đối với người nói tiếng Việt.

Lặp đi lặp lại, và khoan nghĩ đến việc làm sao để phát âm thật giống và chuẩn giống người bản ngữ khi bạn mới bắt đầu học tiếng Pháp: tự tin về cách phát âm của bạn chính là một sự trợ giúp to lớn để vượt qua sự lo lắng nói.

4 – Tìm từ đồng nghĩa

Tại sao nói “chirurgie” khi bạn có thể nói “opération”? Một số từ vựng sẽ luôn luôn là một thách thức đối với người học ngoại ngữ để phát âm sao cho đúng và chuẩn xác giống người bản ngữ. Tại sao không phải là một từ đồng nghĩa nhưng dễ dàng để phát âm hơn rất nhiều so với từ còn lại?.

Hãy luyện tập từ đó và tự cảm thấy vui vẻ và tự hào mỗi khi bạn phát âm đúng, tự tạo cho bản thân một động lực và niềm vui khi học sẽ giúp bạn có hứng thú đối với việc học ngoại ngữ và việc học tiếng Pháp sẽ trở nên dễ dàng hơn so với việc bạn đặt quá nhiều áp lực và thiếu đi niềm vui khi học một cái gì đó.

5 – Hãy học nói chậm trước

Nếu bạn nói chuyện nhanh, người giao tiếp đối diện bạn cũng sẽ nói chuyện nhanh hơn, và rất có thể bạn sẽ không hiểu, và cuộc trò chuyện có thể bị ngắt quãng hoặc dừng lại luôn. Cách tốt nhất để làm ai đó nói chậm lại (bạn cũng cần phải nói: “parlez un peu moins vite s’il vous plaît” – xin vui lòng nói chậm hơn).

Người Pháp nổi tiếng vì cách giao tiếp/ nói chuyện khá là nhanh, nhưng nói chậm không phải là vấn đề bằng tiếng Pháp miễn là bạn tạm dừng ở những câu có ý nghĩa. Do đó tầm quan trọng của “nhóm” từ của sẽ được đặt một cách hợp lý trong câu của bạn.

6 – Phát biểu và có thái độ tích cực

Bởi vì họ sợ nói tiếng Pháp nên học sinh có xu hướng lẩm bẩm. Vì vậy, bây giờ, người đối thoại của bạn không chỉ phải chỉ là một mình bạn nỗ lực để phát âm, giao tiếp với người đối diện mà chính họ cũng phải nỗ lực để lắng nghe bạn đang nói về vấn đề gì. Điều nay dễ gây khó chịu đối với người nghe.

Phát biểu cũng sẽ làm cho bạn cảm thấy tự tin hơn và giúp bạn vượt qua nỗi sợ hãi khi nói. Cố gắng thư giãn, hít thở, mỉm cười – ngay cả khi nó không thật tự nhiên, bạn cần phải chơi một phần và nhận thức được thái độ thể chất của bạn khi bạn nói tiếng nước ngoài.

Nhìn vào mắt người đang đối thoại, không nhìn vào những vị trí khác (nhìn lên trên và nhìn sang bên phải) cho cả cuộc trò chuyện. Khi bạn nhìn vào mắt người khác để giao tiếp, bạn sẽ có thể nhận được các thông điệp hác đến từ người đang giao tiếp đối diện: Nụ cười của họ sẽ khuyến khích bạn, đôi mắt của họ sẽ cho bạn thấy họ quan tâm đến những gì bạn đang nói. Nó sẽ làm cho sự tương tác toàn bộ cuộc trò chuyện giữa con người với con người trở nên dễ chịu.

Như tôi đã giải thích ở trên, ngôn ngữ không chỉ là một cách để giao tiếp: nó là một phần của chúng ta như (Giọng nói của bạn, tiếng cười của bạn…). Thật khó để chấp nhận để nhút nhát trong khi bạn là người khá thông minh, hài hước…

Và nếu bạn quá sợ hãi, thì một lưu ý khi học tiếng Pháp đó là luôn dành thời gian để bạn trau dồi và luyện tập. Càng thực hành nhiều thì càng ngày bạn càng tiến bộ hơn và tiếng Pháp sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Giống như mọi thứ khác, nỗi sợ hãi được chinh phục bằng cách đương đầu với nó nhiều lần, cho đến khi nó không đáng sợ nữa.

7 – Thực hành nói tiếng Pháp thường xuyên

Không có gì sẽ thay thế các tương tác của con người khi nói đến ngôn ngữ. Bạn sẽ trải nghiệm một lối sống của người Pháp thực sự và có một trải nghiệm tuyệt vời ở Pháp! Hãy nghĩ đến những điều tích cực hơn một chút, bạn có thể từng chút một cải thiện vốn tiếng Pháp của bạn. Vì vậy, để vượt qua nỗi sợ nói tiếng Pháp, bạn cần phải luyện tập.

Hãy nắm lấy bất kỳ cơ hội nào để có thể mạnh dạn, tự tin hơn và giao tiếp tốt hơn: giao tiếp với người phục vụ bằng một vài từ đơn giản trong một nhà hàng Pháp, hoặc với một người quen tiếng Pháp, bạn có thể học tiếng Pháp qua tin tức, hoặc tốt hơn nữa ghi danh vào một lớp học tiếng Pháp hoặc các bài học của Skype – Lắng nghe tiếng Pháp. Ngoài ra, hãy luyện tập hít thở hàng ngày, việc hít thở sẽ giúp bạn trở nên bình tĩnh hơn.

Tags: học tiếng Pháp, hoc tieng Phap, tu hoc tieng Phap hieu qua, tự học tiếng Pháp hiệu quả.

Tiếng Lóng Trong Tiếng Việt Là Nỗi Sợ

Đánh giá

Ngày nay, ngôn ngữ phát triển và tiếng lóng tồn tại như một sự tất yếu. Việc sử dụng Tiếng lóng trong ngày nay không còn là xa lạ, nhưng bắt đầu chúng ta thấy sự lạm dụng tiếng lóng rất nhiều. Việc lạm dụng sử dụng tiếng lóng không chỉ ảnh hưởng đến sự chuẩn mực của ngôn ngữ Việt mà đối với người nước ngoài. Tiếng lóng trong Tiếng Việt thực sự là nỗi sợ với nhiều người.

Tiếng lóng là gì?

Tiếng lóng – phương ngữ xã hội không chính thức của một ngôn ngữ, là những từ thường không mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từ phát ra mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng. Nó chỉ được dùng trong vui chơi, giải trí một cách thân mật, hoặc có thể dùng trong trường hợp cần nhấn mạnh điều gì đó, nhưng phải dùng trong văn cảnh phù hợp.

Ví dụ một vài Tiếng lóng phổ biến hiện nay:

Trẻ em thường nói “Hôm nay tớ bị ăn ngỗng (điểm 2)” hay “Anh tớ vừa bị trượt vỏ chuối” để ám chỉ kết quả không tốt của bài thi

‘Gấu’ không còn đơn thuần chỉ là một loại động vật mà nay đã biến thành một danh từ dùng để chỉ người yêu.

Trâu con lúc xưa gọi là nghé. Ngày nay, ‘trẻ trâu’ hay ‘sửu nhi’ dùng để chỉ tầng lớp thanh thiếu niên trẻ tuổi, sung sức, ngông cuồng, thích thể hiện và thường có những hành động mang tính bốc đồng.

Tại sao Tiếng lóng trong Tiếng Việt là nỗi sợ?

Không chỉ đối với người nước ngoài mà kể cả với người Việt cũng gặp không ít hiểu lầm, khó khăn trong việc sử dụng tiếng lóng.

Tiếng lóng luôn có nhiều nghĩa khác nhau, nên đôi khi trong quá trình sử dụng, rất dễ nhầm lẫn trong việc phân biệt nghĩa của từ đối với từng bối cảnh

Tại Việt Nam, đôi khi chúng ta dạy quá nhiều kiến thức ngôn ngữ mà ít dạy kỹ thuật giao tiếp, điều đó phần nào dẫn đến tình trạng tiếng lóng được sử dụng sai, không đúng mực

Dù gì đối với người nước ngoài, học được tiếng Việt và hiểu được tiếng lóng là một thử thách khá lớn

Giải pháp

Đừng lo lắng, nếu bạn là người nước ngoài, bạn có thể tìm cách giải quyết nỗi lo sợ tiếng lóng bằng cách tham gia đến học ở trung tâm E-Solution dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài. Chúng tôi sẽ đập tan mọi nỗi sợ Tiếng Việt của bạn bằng cách giúp bạn nhận thức rõ sự cần thiết của việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp đúng mực, và đồng thời sẽ hướng dẫn học viên sử dụng những từ lóng thông dụng ở Việt Nam sao cho đúng cách và đúng ngữ cảnh.

Bùi Hà Quí

Nói Tiếng Anh Không Cần Ngữ Pháp

Bạn đã học tiếng Anh từ hồi phổ thông, rồi trung học và đại học. Trong suốt thời gian đó bạn phải học ngữ pháp, bạn phải học các công thức, học thì, học cách đặt câu… rồi bạn viết câu đó ra giấy và đem nộp làm bài kiểm tra. Kết quả của bạn thật tuyệt vời, bạn có điểm cao nhưng thực tế là bạn chẳng “nói” được câu nào. Nếu như may mắn bạn nói được thì đó là sự lặp lại một câu mà bạn đã học thuộc. Và chẳng may nếu được hỏi lại bằng một câu hỏi khác thì bạn có một câu trả lời cũng rất tuyệt “I don’tknow” hoặc là “I don’t understand” và thế là kết thúc cuộc giao tiếp.

Vì vậy, câu hỏi của tôi là: Bạn có thể nói được tiếng Anh một cách dễ dàng, nhanh chóng và tự động ngay bây giờ?

– Nếu câu trả lời của không có, Tại sao không? Bởi vì bạn đã học tiếng Anh trong nhiều năm. Tại sao bạn không thể nói được tiếng Anh một cách nhanh chóng, dễ dàng và tự động, tại sao không? Bạn có câu trả lời cho chính mình chưa?

– Vâng, đó không phải lỗi của bạn thực sự. Lý do, câu trả lời cho hầu hết mọi người là bạn học những quy tắc ngữ pháp quá nhiều. Nếu bạn cứ mãi tậptrung vào quy tắc ngữ pháp, bạn sẽ vẫn khó khăn khi nói tiếng Anh.

– Tại sao khi bạn học ngữ pháp mà mọi việc vẫn tệ như vậy? Tại sao ngữ pháp không giúp bạn nói tiếng Anh tốt hơn? Bí mật rất đơn giản là khi bạn nghiên cứu quy tắc ngữ pháp, khi bạn tập trung vào các quy tắc ngữ pháp, bạn tập trung vào phân tích tiếng Anh và bạn chỉ mải mê vận dụng “khả năng nhìn” của bạn để phân tích chữ nghĩa mà quên dùng “khả năng nói” của mình để bắt chữ nghĩa trở thành những âm thanh sống động.

Nói cách khác, khi bạn suy nghĩ, tư duy về ngữ pháp, về thì quá khứ, thì hiện tại, tương lai, hiện tại hoàn thành, quá khứ hoàn thành…và tất cả chỉ biến trí óc bạn thành nơi “lưu trữ” thông tin chứ không thể trở thành “Cơ quan phát thanh và ngôn luận”.

– Một bí mật khác, bạn cứ thắc mắc tại sao bạn “VIẾT” được mà không “NÓI” được? Bạn viết rất tốt ư? Okay, tôi công nhận. Nhưng bạn có biết tại sao bạn viết tốt không? Bởi vì khi bạn viết tiếng Anh, bạn có thời gian. Bạn có thể đi từ từ, bạn nghiền ngẫm, bạn suy nghĩa, bạn tra từ điển,bạn kiểm tra ngữ pháp. Bạn có thể viết rất chậm, bạn có thể nghĩ về nó,bạn có thể xóa “mistakes”, bạn có thể “check speelings”. Bạn không cần phảiviết nhanh. Nhưng để nói, có thời gian không. Khi bạn NGHE – là lập tức bạn phải nói. Cho dù bạn có mấy quyển từ điển và ngữ pháp trong đầu nhưng bạn không có thời gian để mở chúng ra, không có thời gian để suy nghĩ về quy tắc, về thì hiện tại, tương lai. Mọi chuyện là phản ứng thật nhanh, khi bạn lắng nghe là bạn phải trả lời ngay. Khôngcó thời gian là điều không thể chấp nhận trong một cuộc giao tiếp. Nếu bạnđể ai đó phải chờ bạn quá lâu để bạn suy nghĩ, bạn chẳng có cơ hộ nói chuyện với họ đến câu thứ ba.

– Bạn vô cùng thắc mắc “Làm thế nào để người bản ngữ học ngữ pháp”? Bạn là người Việt Nam; thì giáo viên của bạn là người Mỹ; tất cả chúng ta khác quốc gia; khác ngôn ngữ nhưng chúng ta có 01 điểm chung là chúng ta nói tiếng Mẹ đẻ của mình. Bạn hãy nhớ lại hồi nhỏ “cóbao giờ Cha Mẹ bạn dạy bạn ngữ pháp; chủ ngữ, vị ngữ, phân tích câu khi bạn nói tiếng Việt không? KHÔNG, chẳng bao giờ cả vậy mà bạn vẫn nói tiếng Việt một cách tuyệt vời và giáo viên bản ngữ của bạn cũng vậy. Vậy làm thế nào để chúng ta tìm hiểu các quy tắc ngữ pháp, để chúng ta nói đúng ngữ pháp? Bạn có biết bí mật nằm ở đâu không? Đó là vì chúng ta học hỏi thông qua lắng nghe, lắng nghe, lập lại, lập lại. Đó là một quá trình, thông qua việc nghe đúng ngữ pháp một lần nữa và một lần nữa … rất nhiều đúng ngữ pháp. Vấn đề là thoạt đầu bạn cứ nói mà đừng quan tâm đến ngữ pháp. Khi bạn làm chủ ở mức độ đó rồi, bạn tự nhận ra lỗi ngữ pháp của bạn và bạn tự sửa nó. Rất tự động, rất đơn giản và nhẹ nhàng.

– Nếu bạn đồng ý với quan điểm của tôi và nhận thấy vấn để, thì bạn hãy hành động. Hãy nói tiếng Anh một cách chủ động và tự nhiên, không quan tâm đến ngữ pháp. Hãy học qua âm thanh của ngôn ngữ; giai điệu của ngôn ngữ và qua việc lặp lại của bạn, rồi thì bạn sẽ biết chính xác ngữ pháp là cái gì.

Đó là cách tôi đã bắt đầu học nói tiếng Anh sau hơn 10 năm học tiếng Anh ở nhà trường.

Phương Pháp Giảng Dạy Môn Nói Tiếng Trung

MỤC LỤC

O. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………….. 1 I. Nguyên tắc giảng dạy môn Nói tiếng Trung ……………………………………………………… 3 1.1 Nguyên tắc giao tiếp …………………………………………………………………………………. 5 1.2 Những nguyên tắc về ngữ cảnh hóa (tình huống)………………………………………….. 8 1.3 Nguyên tắc giảng ít luyện nhiều …………………………………………………………………. 9 II. Phương pháp giảng dạy môn nói tiếng Trung …………………………………………………. 10 2.1 Phương pháp giảng dạy ngữ âm và từ vựng ……………………………………………….. 12 2.2 Phương pháp giảng dạy ngữ pháp và đàm thoại………………………………………….. 15 III. Kỹ xảo giảng dạy môn Nói tiếng Trung ……………………………………………………….. 18 3.1 Thuật lại bài khóa và kỹ xảo nêu câu hỏi …………………………………………………… 19 3.2 Chủ yếu dựa vào kết cấu ngữ pháp, thay thế cụm từ……………………………………. 20 3.3 Chủ yếu dựa vào nội dung, luyện tập đối thoại …………………………………………… 22 IV. KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………. 24

[Từ Khoá]: Giảng dạy môn Nói tiếng Trung, nguyên tắc giảng dạy, phương pháp giảng dạy, kỹ xảo giảng dạy.

1

O. PHẦN MỞ ĐẦU Mục tiêu giảng dạy môn nói là nâng cao năng lực diễn đạt bằng lời nói cho học sinh. Lý Kiến Quân (2003)1 cho rằng mục tiêu này được phân tích từ năm góc độ: ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp và việc giảng dạy nghe – nói. Theo Lý Kiến Quân, tuy việc học tiếng Trung đối với sinh viên bắt đầu từ năm thứ nhất sẽ có một độ khó nhất định, nhưng chỉ cần chúng ta nắm vững được các quy tắc trong việc giảng dạy tiếng Trung, đồng thời luôn luôn hoàn thiện và cải tiến giáo trình, phương pháp giảng dạy trong quá trình dạy học, tăng cường điều tiết tính tích cực trong quá trình học tập của học sinh thì chắc chắn sẽ hoàn thành tốt công tác giảng dạy. Tôn Hải Lệ (2005) 2đã phát biểu cần chú trọng vào tính chính xác về ngữ âm, ngữ điệu, chú trọng vào việc học tập từ vựng và mẫu câu, đưa những đoạn cần biểu đạt vào nội dung chính trong phần giảng dạy khẩu ngữ sơ cấp, mục đích là bắt học sinh nhanh chóng nắm bắt được tiếng Hán trong giai đoạn sơ cấp, có thể sử dụng tiếng Hán làm công cụ giao lưu tư tưởng. Triệu Lệ (2007) 3 thông qua việc nghiên cứu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến việc giảng dạy môn nói tiếng Trung sơ cấp đã đưa ra những tổng kết và nêu lên một số phương pháp giảng dạy tương ứng nhằm giúp ích cho việc học tiếng Trung trong giai đoạn trung cấp và cao cấp. Lưu Hiểu Vũ (2001) 4trong quá trình nghiên cứu việc giảng dạy môn nóicũng cho rằng: “không có phương pháp giảng dạy hoàn mỹ nào có thể giải quyết tất cả các vấn đề, chúng ta không theo đuổi tính duy nhất, mà nên khích lệ sự sáng tạo mới, sự giao lưu, tranh luận. Bất kể là lý luận và phương pháp gì chăng nữa, thì chúng ta đều cần phải tránh lối suy nghĩ chủ quan và nói suông, cần phải xây dựng phương pháp trên nền tảng cách tư duy, thiết kế, điều tra, chứng thực. Việc nghiên cứu

1

李建军《一年制零起点留学生汉语教学初探》,《昌吉学院学报》,2003 年 3 月第一期。

2

孙海丽《对外汉语初级阶段口语教学浅析》,《齐齐哈尔大学学报》,2005 年 9 月。

3

赵丽《对外汉语初级阶段口语教学浅析》,今日湖北理论版,2007 年 4 月。

4

刘晓雨《对外汉语口语教学研究综述》,《语言教学与研究》,2001 年,第 2 期。

2

và áp dụng thực tiễn cần phải kết hợp với đặc điểm của tiếng Hán, giải quyết một cách thiết thực những vấn đề phát sinh trong quá trình giảng dạy tiếng Trung dành cho người nước ngoài.” Đoàn Minh Hải (2009)5 đã cho rằng điều quan trọng nhất để giảng dạy môn nói tiếng Trung là giáo viên phải coi mình là người học trong giờ giảng, phải đặt mình ngang tầm trình độ ngang tầm của học sinh, không nên bắt buộc học sinh phải phát âm thật chính xác, cũng không nên đòi hỏi học sinh phải hoàn toàn nói đúng ngữ pháp, cần phải dẫn dắt theo trình tự, dựa theo trình độ học sinh mà dạy. Ông Tú Anh (2000) đã cho rằng khi đứng ở vai trò là một người thầy dạy tiếng Hán, nếu như không có phương pháp khoa học, không có lòng nhẫn nại, kiên trì và sự tự tin thì sẽ không bao giờ có thể khiến cho những học sinh người nước ngoài mới học tiếng Trung với thời gian là 1 năm ngồi cùng với những học sinh Trung Quốc để nghe thầy giáo giảng bài chuyên ngành. 6Xem hình 1 bên dưới:

(Hình 1) Thông qua việc thăm dò học sinh, chúng tôi đã biết được mục đích học tiếng Trung của sinh viên trường đại học Lạc Hồng là tìm việc làm, sinh viên tìm kiếm công việc văn phòng và phiên dịch chiếm tỷ lệ cao nhất (80%) học tập (12%), du lịch (5%), khác (4.85%). Do đó làm thế nào để cho sinh viên thực hiện được mục đích học tiếng

段明海《越南汉语口语教学研究》,”50 年汉语教学与研究”,国际研讨会论文,2009 年 10 月。 翁秀英《对外汉语教学法的一些思考》,《化工高等教育》,2000 年,第 3 期。

3

Trung của mình mà cố gắng học tập một cách chăm chỉ, xây dựng một cơ sở vững chắc về ngữ pháp, nói tiếng Hán lưu loát, điều này rất là quan trọng. Từ những vấn đề như đã nêu trên, bài viết này sẽ phân tích theo ba góc độ như nguyên tắc giảng dạy, phương pháp giảng dạy và kỹ xảo giảng dạy, hy vọng có thể cung cấp một số kiến thức tham khảo cho công tác giảng dạy môn nói tiếng Trung dành cho người nước ngoài.

I. Nguyên tắc giảng dạy môn Nói tiếng Trung Theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, việc học ngoại ngữ luôn có sự tác động của các yếu tố bên ngoài, nhưng sự tác động mang tính quyết định lại bắt nguồn từ chính bản thân người học. Giáo viên cần phải hiểu rõ và nắm bắt được hoạt động tâm lý học ngoại ngữ của người học, căn cứ vào hoàn cảnh thích hợp để tạo ra sự hứng thú và đam mê cho người học, đồng thời khơi gợi tiềm năng và trí lực của người học; giáo viên cũng phải nghiên cứu phương pháp học tập, tác động mạnh đến tính tích cực trong học tập của người học. Trong ” Hoa ngữ học tập giảng tập” xuất bản năm 1992 Lữ Tất Tùng cho rằng nguyên tắc dạy học là tổng các nguyên tắc của toàn bộ hoạt động giảng dạy và sự hướng dẫn trong suốt quá trình giảng dạy từ nhiều góc độ. Lữ Tất Tùng đồng ý với quan điểm ” lấy người học làm trung tâm, coi việc tự học là chính”. Lữ Tất Tùng cũng cho rằng việc lấy người thầy làm trung tâm trong quá trình giảng dạy sẽ không đạt được hiệu quả cao nhất. Quyển “Nghiên cứu ngôn ngữ học và ứng dụng ngôn ngữ học” do Học viện Văn hóa Hán ngữ – Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh xuất bản lần thứ II, năm 2007 cho rằng: việc giảng dạy môn nóiđạt kết quả tốt chính là một hoạt động có thể khơi gợi được “cảm hứng” mong muốn biểu đạt của học sinh, cũng là hoạt động có ích có thể đáp ứng cho nhu cầu học tập của học sinh, nhưng cái gọi là “cảm hứng” và “có ích” này cần phải xuất phát từ việc khảo sát và phân tích từ thực tiễn và từ nhiều phương diện.

4

Lý Yến (2006) 7đề xuất sử dụng “Phương pháp giảng dạy theo mô hình nhiệm vụ”, bà cho rằng mô hình này nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thành nhiệm vụ làm trung tâm để tổ chức và sắp xếp hoạt động giảng dạy, và như thế ngôn ngữ sẽ được vận dụng tối đa trong hoạt động giao tiếp thực tế. Đặc điểm này biểu hiện tính thích ứng rất cao trong việc giảng dạy môn nói tiếng Trung dành cho người nước ngoài, có ích cho việc giải quyết những vấn đề thực tế trong quá trình giảng dạy môn nóinhư: đã giảng dạy nhưng không thể khuyến khích học sinh biểu đạt hoặc sự thiếu năng lực biểu đạt đoạn văn, hoặc là tốc độ nói chậm của học sinh. Hồ Tú Mai, Lý Vĩ Đông 8tiếp cận vấn đề từ ba góc độ: Những vấn đề tồn tại trong giờ học sử dụng công nghệ truyền thông, nguyên tắc, phương pháp và chiến lược giảng dạy trong giờ học sử dụng công nghệ truyền thông. Cả hai cho rằng môn nghe nhìn nói tuy là một đặc trưng điển hình trong giờ học sử dụng công nghệ truyền thông, nhưng không phải là duy nhất. Họ còn nhấn mạnh rằng phương pháp và các chiến lược giảng dạy trong những giờ học này cũng có điểm giống và khác biệt nhau. Cả hai chuyên gia còn cho rằng ngoài những nguyên tắc giảng dạy đã tổng kết như trên ra còn có những nguyên tắc giảng dạy khác đáng được mọi người tham khảo như: những nguyên tắc về sự cảm hứng, nguyên tắc về sự tác động lẫn nhau, nguyên tắc về tính thực tiễn, nguyên tắc về sự gợi ý, nguyên tắc về tính củng cố .v.v..Bởi vì chỉ có thông qua những lời nói hoàn hảo của người dạy mới có thể đạt đến hiệu quả lý tưởng trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải giỏi về việc gợi ý và dẫn dắt học sinh, đồng thời khéo léo can thiệp vào những lúc thích hợp và cân bằng tiến trình giảng dạy một cách có hiệu quả.

李燕《任务型教学法与对外汉语初级口语教学》,云南师范大学学报(对外汉语教学与研究版),2006 年 5 月,第 4 卷第 3 期。

8

胡秀梅,李炜东《语言学语应用语言学研究》(第二辑),中国社会科学出版社,2007 年,87 页。

5

1.1 Nguyên tắc giao tiếp Mục đích tối thượng của việc học ngôn ngữ chính là giao tiếp, khả năng giao tiếp bao gồm khả năng tiếp nhận và phát đi thông tin chính xác, khả năng chuyển đổi thông tin thích đáng. 9Cũng có thể nói rằng, công cụ giao tiếp chính là ngôn ngữ, việc giảng dạy ngôn ngữ chính là phải thông qua các loại hoạt động để thực hiện mục đích giao tiếp có ý nghĩa, để cho học sinh tham gia vào các hoạt động trong lớp học, trao đổi giao lưu với những học sinh khác, học được các loại tình huống biểu đạt và lý giải trong ngôn ngữ. Giảng dạy theo nguyên tắc giao tiếp có thể chia làm hai phương pháp đó là việc giảng dạy ngôn ngữ theo truyền thống và việc giảng dạy ngôn ngữ hiện đại. Cách giảng dạy của hai phương pháp này hoàn toàn đối lập nhau. Phương pháp giảng dạy truyền thống coi trọng việc phân tích những kiến thức truyền thụ những cấu trúc trong ngôn ngữ, mà bỏ qua những giá trị giao tiếp về ngôn ngữ và chức năng giao tiếp, đào tạo ra những học sinh điểm cao nhưng thực tế năng lực giao tiếp thì thấp, không thể xử lý những tình huống giao tiếp thông thường. Đa số học sinh mới học tiếng Trung đều chịu ảnh hưởng của tiếng Việt khá nặng nề, bởi vì trong môi trường ngôn ngữ đơn nhất, chịu ảnh hưởng của tư duy tiếng mẹ đẻ là điều không thể tránh khỏi. Mời xem hình bên dưới:

贾笑寒《对外汉语教学中的翻译课程》,《语言学语应用语言学研究》(第二辑),中国社会科学出版社,2007 年,79‐80 页。

6

(Hình 2) Theo kết quả khảo sát trên, cách luyện kỹ năng nói của học sinh rõ ràng là cách luyện tập quá đơn điệu, không có sáng tạo, lần lượt chiếm tỉ lệ là luyện tập những mẫu câu đơn giản để giao tiếp với các bạn học chiếm 22.33% ; Dịch những câu đơn giản sang tiếng Trung rồi học thuộc lòng chiếm 62.13%;còn giờ học trên lớp hoặc lúc ra chơi nói chuyện với giáo viên bằng tiếng Trung chiếm tỉ lệ là 8.73%;còn cái khác thì chiếm 6.79%. Nhưng chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính là do giáo viên ngay lúc đầu không chỉ bảo học sinh tránh tư duy bằng tiếng Việt khi học tiếng Trung. Nhưng những ảnh hưởng này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều có sự giống nhau và sự khác nhau. 10Nguyên tắc giao tiếp còn được thể hiện trong các chi tiết giảng dạy trên lớp, nâng cao khả năng biểu đạt khẩu ngữ của học sinh, suy cho cùng thì đây chính là việc giúp cho học sinh xây dựng hệ thống tư duy bằng ngoại ngữ, có nghĩa là giải mã thông tin, biên tập thông tin thông qua hệ thống tư duy bằng tiếng Trung. Tăng cường rèn luyện và bồi dưỡng khả năng tư duy, là nền tảng nâng cao năng lực khẩu ngữ đối với sự khơi gợi kỹ năng ngôn ngữ của học sinh và sự tự gợi ý của học sinh. Nắm bắt được điểm mấu chốt, bản chất thì việc rèn luyện mới có thể đạt được hiệu quả cao. Ví dụ như trong giờ giảng từ mới, chúng ta không thể chỉ

10

杨慧元《汉语听力说话教学法》,北京语言大学出版社,2005 年 3 月,197 页。

7

dừng lại ở việc đọc dẫn và giải thích, mà cần phải đặt câu hỏi mang tính gợi mở, dẫn dắt, và người học sẽ tự sử dụng được từ đang học trong khi trả lời câu hỏi của giáo viên; dưới vai trò là người dẫn dắt, giáo viên cần phải khích lệ học sinh vận dụng tối đa những từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp và cách biểu đạt để tiến hành giao tiếp trao đổi với nhau, và đồng thời khéo léo đưa ra những bài tập tình huống giao tiếp. Nói tóm lại là trong khi giảng dạy chúng ta không chỉ coi trọng việc truyền thụ những kiến thức giao tiếp và kỹ năng giao tiếp, mà còn phải chú trọng đến việc giảng dạy những kiến thức khẩu ngữ tiếng Hán, những câu nói thường ngày, giúp cho học sinh bước đầu tìm hiểu về văn hóa, lối sống và nâng cao năng lực biểu đạt tiếng Trung. Hơn nữa cần phải chú trọng và phân tích cách biểu đạt giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ Trung -Việt.

8

1.2 Những nguyên tắc về ngữ cảnh hóa (tình huống) “Ngữ cảnh hóa” 11là tiền đề cơ bản trong việc giảng dạy môn nói tiếng Trung. Đơn vị giảng dạy cơ bản này chính là những câu nói trong một ngữ cảnh nhất định, không có ngữ cảnh thì những câu nói sẽ không có tác dụng trong giao tiếp, như: “对不

11

李梦莉《语境化策略与外语口语教学》,湖北教育学院学报,2007.10

9

起” là câu nói được hiểu theo nghĩa xin lỗi một cách khiêm nhường lịch sự. Nhưng khi dịch thành Tiếng Việt thì không nhất định là nghĩa xin lỗi, trong một tình huống nào đó nó còn có thể biểu thị sự phẫn nộ hoặc từ chối sự giúp đỡ; “不好意思” sử dụng trong trường hợp xin lỗi ở mức độ nhẹ, nhưng ở mức độ tương đối nặng thì vẫn sử dụng từ “对不起” và “抱歉”; cũng có thể sử dụng vào trường hợp khiêm tốn; ngoài ra trong một số trường hợp không chính đáng thì có thể sử dụng từ “劳驾”.

1.3 Nguyên tắc giảng ít luyện nhiều Trong quá trình dạy học phải lấy học sinh làm trung tâm. Trong quá trình dạy môn nóihọc sinh không phải là đối tượng thụ động của giờ học, mà là ở vị trí trung tâm của giờ học trên lớp, là người tham gia tích cực của giờ học trên lớp. Do đó, trong giờ học khẩu ngữ cần cố gắng giảm thiểu thời gian giáo viên nói, nhất là không “nói cả giờ học”, một mình “độc diễn”. Nên cố gắng gia tăng thời gian giao tiếp của học sinh, để học sinh trở thành chủ thể của hoạt động dạy học môn khẩu ngữ, trở thành diễn viên chính của hoạt động thực tiễn ngôn ngữ. Mời xem Hình 3.

(Hình 3) Hình 3 trên thể hiện rõ học sinh có trở ngại về tâm lý, một khi đứng lên nói sai thì sẽ bị bạn học cười chế nhạo. Để khắc phục mặt tâm lý này chúng tôi cho rằng giáo viên

10

II. Phương pháp giảng dạy môn nói tiếng Trung Theo Đề cương giảng dạy tiếng Trung cho lưu học sinh của Ủy ban Hán ngữ Trung Quốc, bắt đầu từ sơ cấp, trong hệ thống tiếng Hán dành cho người nước ngoài do Học viện Ngoại Ngữ Thượng Hải năm 1986 quy định: học sinh cần phải nắm khoảng 2500 từ đơn trong tiếng Hán; nắm bắt được những mẫu câu thường sử dụng, một số quy tắc về ngữ pháp cơ bản và quy tắc về ngữ dụng, thì mới có thể đàm thoại những tình huống hằng ngày trong cuộc sống, và có thể biểu đạt ngôn ngữ một cách chính xác, đồng thời đạt đến độ chính xác cơ bản về ngữ điệu. Chúng tôi cho rằng, quy định này chỉ thích hợp đối với những học sinh khi đến Trung Quốc du học, nhưng những học sinh học tiếng Trung ở nước ngoài thì không có môi trường ngôn ngữ, ở giai đoạn sơ cấp khó mà học được 2500 từ đơn tiếng Hán. Ở Việt Nam người học ở giai đoạn sơ cấp có thể nắm được khoảng 2/3 số lượng từ đơn tiếng Hán nêu trên là

12

引自 李建军《一年制零起点留学生汉语教学初探》,《昌吉学院学报》,2003 年 3 月。

11

một chuyện khó, đặc biệt là sinh viên của trường đại học Lạc Hồng. Bởi vì số học phần về chuyên ngành tiếng Trung tương đối ít, nhất là môn nói ở giai đoạn sơ cấp, một học kỳ thường chỉ có 45 tiết giảng (lý thuyết chỉ chiếm khoảng 1/3 học phần). Mỗi một giờ lên lớp cần phải hoàn thành một bài khóa, đây là sự quy định của nhà trường. Do đó, đa số giáo viên đều sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống. Cách dạy này vừa không khơi gợi sự hứng thú trong học tập của sinh viên mà còn khiến cho sinh viên cảm thấy giờ học khẩu ngữ này không khác gì với những giờ học các môn khác. Trong giờ lên lớp giáo viên chỉ chú trọng đến cách hướng dẫn đọc, giảng ngữ pháp, cách phiên dịch, không nêu lên được những tình huống giao tiếp để cho sinh viên luyện nói nhiều hơn, và điều đương nhiên rằng sinh viên sẽ không mở miệng tập nói chuyện. Lâu dần, sinh viên chỉ có thể đọc hiểu chữ Hán hoặc là nghe hiểu những lời thầy giáo nói, chỉ có thể trả lời những câu đơn giản như đúng sai, có không có v.v..hoặc là không nói được câu nào. Một khi yêu cầu các em trả lời câu hỏi thì sẽ xuất hiện những lỗi sai như phát âm hoặc ngữ pháp. Mục đích giảng dạy môn Nói là thông qua một hai năm giảng dạy, chúng ta dạy cho sinh viên nắm bắt được những kỹ năng ngôn ngữ trong giao tiếp và kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ ở bước sơ cấp, có thể đáp ứng được nhu cầu giao tiếp trong các trường hợp sinh hoạt, học tập hằng ngày và những trường hợp xã giao thông thường. Khi giao tiếp, diện mạo và ngữ âm của một người nào đó sẽ tạo ra ấn tượng ban đầu cho người đối diện. Người mà phát âm chuẩn (ngữ âm), nói chuyện đàng hoàng từng chữ từng tiếng thì sẽ làm cho người khác cảm thấy khả năng về ngôn ngữ của người đó giỏi, trình độ Hán ngữ cao. Do đó, chúng tôi cho rằng giáo viên trong giờ lên lớp, cần coi việc giảng dạy ngữ âm là một nhiệm vụ thường xuyên, nghiêm khắc, coi việc luyện phát âm là việc chính yếu trong suốt quá trình học ở giai đoạn cơ bản. v.v..

12

q [‘tɕ]

x [ɕ]

Nhóm 2 là âm sau đầu lưỡi: zh[tʂ]

ch[‘tʂ]

sh[ʂ]

Nhóm 3 là nhóm âm đầu lưỡi: z[ts]

c[‘ts]

s[s]

Nhóm 1 là âm mặt lưỡi:

So sánh thì thấy cả ba nhóm đều có cách phát âm rất khó, cũng dễ bị phát âm sai, cho nên khi bắt đầu học, chúng ta viết lên bảng cả ba nhóm có kết hợp với vần đơn âm tiết (i), giáo viên để cho học sinh phân biệt và đọc ở bất kỳ một âm nào. Nếu vận mẫu

13

đơn nguyên âm i và nhóm thanh mẫu j、q、x kết hợp với nhau, thì sẽ tạo thành ji、 qi、xi. Chúng ta sử dụng phân biệt với cách phát âm trong tiếng mẹ đẻ để phân biệt vần i trong nhóm ji, qi, xi và vần i trong hai nhóm zhi chi shi、zi ci si có cách phát âm không giống nhau. Vần “i” trong nhóm ji、qi、xi chúng ta đọc thành “ia”, nhưng vần “i” trong hai nhóm zhi chi shi、zi ci si thì chúng ta phát âm giống như vần “ưa”trong cách phát âm của tiếng Việt. Đợi sau khi học sinh nắm được tất cả, hẵng tiếp tục hướng dẫn các em phát âm cho tự nhiên hơn. Chúng ta thường viết trên bảng những âm khó phát âm nhất. Ở sau mỗi một thanh mẫu chúng ta có thể đánh số từ 1 đến 9. Giáo viên đọc dẫn mấy lần, sau đó cho đảo lộn để đọc, yêu cầu học sinh đoán thử số thứ tự của chữ mà giáo viên đọc. Nếu học sinh đoán sai, chúng ta có thể phán đoán ra rằng em này vẫn chưa phân biệt được âm nào là âm cuốn lưỡi, âm nào là âm không cuốn lưỡi, hoặc là âm nào là âm bật hơi và không bật hơi. Ngoài ra khi chúng ta giảng dạy phiên âm cũng có thể vận dụng cách giảng dạy đọc đánh vần như trong môn học ngữ văn của học sinh tiểu học. Cách đọc đánh vần của Việt Nam có hai cách. Một là đọc thanh mẫu trước đọc vần sau, hai là đọc vần trước rồi đọc thanh mẫu sau, sau đóghép vào thành một chữ. Nếu từ ngữ có thanh điệu, thì đánh vần xong rồi ghép thanh điệu vào. Do tiếng Việt mượn âm đọc từ tiếng Hán rất nhiều, người Việt Nam gọi đó là âm Hán Việt, âm đọc của nó cũng gần giống như âm đọc của tiếng Hán. Người Việt Nam học tiếng Trung, nếu biết cách lợi dụng âm đọc của âm Hán Việt để học tiếng Trung thì có thể nắm vững ngữ âm tiếng Hán trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu học sinh phát âm sai thì giáo viên có thể nhắc nhở học sinh trước, cố gắng để họ tự mình chỉnh sửa, nếu không được thì giáo viên mới chỉnh sửa cho họ. Khi giảng dạy ngữ âm, giáo viên cần phải thiết kế các cách luyện tập như: cách phân biệt (giáo viên đọc, học sinh phân biệt, hoặc điền vào chỗ trống hoặc là phán đoán đúng sai), cách luyện đọc theo (học sinh luyện tập nghe xong rồi đọc theo trên nền tảng là nghe và phân biệt), cách biểu diễn đối chiếu. Về cách giảng dạy thanh điệu ông Trương Hòa Sinh (2006) đã nêu

14

15

2.2 Phương pháp giảng dạy ngữ pháp và đàm thoại Thông thường vào giờ học môn Nói, có những giáo viên rất chú trọng đến ngữ pháp, dành hai phần ba thời gian cho việc giảng dạy ngữ pháp. Cách dạy như thế làm cho học sinh cảm thấy giờ học khô khan, không khác gì những giờ học các môn khác, khiến bầu không khí trong lớp tẻ nhạt, nặng nề.

16

17

18

Cập nhật thông tin chi tiết về Sợ Nói Tiếng Pháp trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!