Xu Hướng 1/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Luyện Ngữ Pháp Tiếng Anh Thông Qua Việc Tự Học Ở Nhà Và Thực Hành Cặp, Nhóm Ở Lớp # Top 2 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Luyện Ngữ Pháp Tiếng Anh Thông Qua Việc Tự Học Ở Nhà Và Thực Hành Cặp, Nhóm Ở Lớp # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Luyện Ngữ Pháp Tiếng Anh Thông Qua Việc Tự Học Ở Nhà Và Thực Hành Cặp, Nhóm Ở Lớp được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGUYỄN VĂN ĐỪNG —————————— RÈN LUYỆN NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THÔNG QUA VIỆC TỰ HỌC Ở NHÀ VÀ THỰC HÀNH CẶP, NHÓM Ở LỚP SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Chuyên ngành Tiếng Anh Người thực hiện: Lê Ngọc Phước Cao Lãnh, tháng 03 năm 2012 RÈN LUYỆN NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THÔNG QUA VIỆC TỰ HỌC Ở NHÀ VÀ THỰC HÀNH CẶP, NHÓM Ở LỚP Người thực hiện: Lê Ngọc Phước Đơn vị công tác: Trường THCS Nguyễn Văn Đừng – Huyện Cao Lãnh. A. PHÀN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: 1.1. Cơ sở lí luận. – Học để đạt được kiến thức là yêu cầu tối cần thiết trong đối với giáo dục trong nhà trường hiện nay. Đặc biệt ngữ pháp chiếm một vị trí cực kỳ quan trong trong việc học ngoại ngữ. Do đó, chúng ta nên tìm ra phương cách hữu hiệu để giúp học sinh nắm được lượng ngữ pháp Tiếng Anh trước khi các em tham gia cấp học cao hơn. – Mục tiêu của môn tiếng Anh là nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức kỹ năng cơ bản về ngữ pháp Tiếng Anh và những phẩm chất trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Vì vậy sách giáo khoa Tiếng Anh trung học cơ sở mới từ lớp 6 đến lớp 9 đều được biên soạn theo cùng một quan điểm xây dựng chương trình, đó là quan điểm chủ điểm (thematic approach) và đề cao các phương pháp học tập tích cực chủ động của học sinh. Các điểm ngữ pháp (grammar points) được rải đều từ đầu năm đến cuối năm nên việc hệ thống và thực hành đòi hỏi học sinh phải biết cách tự soạn ở nhà và thực hành hiệu quả trên lớp. – Việc tổ chức luyện tập thành cặp không khó mà lại rất cần thiết để đạt được mục tiêu cuối cùng của các chương trình dạy ngoại ngữ là trang bị cho người học khả năng giao tiếp, trao đổi dễ dàng và trôi chảy bằng ngôn ngữ. Lợi thế của loại hình bài tập này là việc tạo cho học sinh những cơ hội để trao đổi những gì mình biết và chưa biết với bạn bè. 1.2. Cơ sở thực tiễn (Bức xúc hiện nay) – Ở các trường trung học cơ sở chúng ta hiện nay, lớp học thường đông học sinh, giờ học ngắn không đủ cho đại bộ phận học sinh tham gia đóng góp vào bài học. Việc rèn luyện ngữ pháp cũng bị giới hạn thời gian. Từ đó giáo viên không thể cho học sinh rèn luyện ngữ pháp thường xuyên và việc theo dõi tiến bộ của tất cả học sinh sẽ không được tốt. – Lượng kiến thức cần truyền tải trong một bài giảng bộ môn tiếng Anh quá nhiều và quá dài, đặc biệt là tiếng Anh lớp 8, lớp 9, do đó thường không đủ thời gian cho hoạt động của các em nếu các em không xem và chuẩn bị bài trước ở nhà. – Những người theo quan điểm lấy người học làm trung tâm thường cho rằng hoạt động thực hành ngữ pháp (grammar practice) không được thực hành như các kỹ năng (skills) khác. Có nghĩa là học sinh tự làm việc cá nhân và thể hiện phần bài làm của mình trước lớp. Nhưng thực tế không hẳn như vậy, với sự hướng dẫn của giáo viên, sự tự tìm tòi ngay cả làm bài ở nhà trước và làm việc theo nhóm, cặp ở lớp thì hiệu quả mang lại sẽ cao hơn nhiều. – Để việc rèn luyện ngữ pháp Tiếng Anh đạt hiệu quả thì cần phải hiểu thế nào là hoạt động theo nhóm, cặp trên lớp khi thực hành ngữ pháp; cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc gì và yêu cầu giáo viên, học sinh phải làm gì? Ở bài sáng kiến kinh nghiệm này này tôi mạnh dạn chia sẻ những gì bản thân đã làm trong thời gian qua và hiệu quả mang lại khi thực hiện sang kiến kinh nghiệm này. 2. Mục đích nghiên cứu : Với việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này sẽ giúp giáo viên có được những lợi ích sau: – Hiểu rõ hơn hoạt động cặp, nhóm để tăng hiệu quả thực hành ngữ pháp Tiếng Anh. – Học sinh tự soạn bài và thực hành ở nhà nhiều hơn. – Tiết kiệm thời gian thực hành ở lớp, học sinh trung bình, yếu kém sẽ có bạn hướng dẫn, giúp đỡ khi ở nhà và trên lớp. 3. Phạm vi nghiên cứu – Học sinh Trường THCS Nguyễn Văn Đừng. – Học sinh tự chuẩn bị bài ở nhà thông qua “Quyển Từ vựng Ngữ pháp Tiếng Anh ” photo ngay từ đầu năm. – Học sinh thực hành ngữ pháp trên lớp thông qua cặp, nhóm để tiện việc giúp đỡ và tương tác. 4. Phương pháp nghiên cứu: 1. Phương pháp quan sát: Người thực hiện đề tài tự quan sát tiến độ công việc, hiệu quả của “Quyển từ vựng & ngữ pháp” khi học sinh soạn bài trước ở nhà . 3. Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành dạy thực nghiệm một số tiết dạy áp dụng hình thức hoạt động theo nhóm, cặp. 4. Phương pháp điều tra: Giáo viên đặt câu hỏi để kiểm tra đánh giá việc nắm nội dung bài học của học sinh. B. NỘI DUNG Tôi xin trình bày 2 nội dung chủ yếu của sáng kiến kinh nghiệm này theo 2 hướng: giúp học sinh soạn bài, học ngữ pháp trước thông qua “Quyển từ vựng & ngữ pháp” và thực hành ngữ pháp ở lớp theo cặp, nhóm. Giúp học sinh soạn bài, học ngữ pháp trước thông qua “Quyển từ vựng & ngữ pháp” 1.1. Chuẩn bị của giáo viên: – Qua quá trình giảng dạy bộ môn Tiếng Anh tại các trường THCS trong huyện từ năm 2004 đến nay, tôi được phân công phụ trách giảng dạy chuyên môn Tiếng Anh tất cả các khối từ 6 đến 9. Mỗi khối tôi đã có ít nhất 3 năm giảng dạy và đã ít nhiều nắm kỹ kiến thức chuẩn cuả chương trình nên đã tiến hành biên soạn các quyển sách “Ngữ pháp và từ vựng Tiếng Anh” cho mỗi khối lớp. Đặc biệt lượng kiến thức cuả 2 khối 8 & 9 rất khó và nếu bảo học sinh tự soạn bài trước ở nhà là không khả thi nếu không có sự giúp đỡ từ trước cuả giáo viên. 1.2. Giải pháp: – Kiến thức soạn phải thật bám sát vào sách giáo khoa, các kiến thức mới nên có ví dụ minh hoạ sao cho dễ hiểu. Học sinh tham khảo trước và xem đây là việc tự học, tự chuẩn bị trước bài mới của các em. Xem và nắm nội dung bài sắp học trước ít nhiều sẽ có được 2 cái lợi cho việc dạy-học: thứ nhất giáo viên đỡ tốn công giải thích trên lớp tiết kiệm được thời gian; thứ hai học sinh xây dựng bài mới tích cực hơn, hứng thú học hơn vì các em đã nắm trước nội dung từ việc chuẩn bị trước. – Giáo viên soạn cả năm học và đóng lại thành quyển cho học sinh tham khảo. – Yêu cầu học sinh photo và đọc trước, dựa vào gợi ý nội dung được định hướng ở bài mới để soạn và tìm hiểu trước bài. Xem đây là yêu cầu bắt buộc. – Nếu các em có quên kiến thức cũ thì cũng có tài liệu trước mặt để ôn lại liền. – Thường xuyên kiểm tra việc tự học của học sinh. Ví dụ như trước khi bắt đầu bài mới gv có thể hỏi: Hôm nay các em sẽ học những gì? Qua bài này các em cần nắm những gì? Các em gặp lại kiến thức cũ là gì? . Đây là những câu mà giáo viên thường hỏi khi củng cố 1 tiết học nhưng tất nhiên sẽ có được rất nhiều em trả lời được. Từ đó có thể gây sự tò mò cho hs khác và cũng có thể những lời khen của giáo viên sẽ càng kích thích sự hưng phấn đến việc tự xem trước bài mới để tạo nên sự khác biệt trong lớp. – Trong nhiều năm qua, bản thân tôi đã tiến hành áp dụng phương thức như thế cho bộ môn Tiếng Anh đối với hs 2 khối 8 & 9; ít nhiều cũng cho lại kết quả khả quan. Hs tốn rất ít thời gian ghi chép vở vì tất cả có sẵn trong sách hệ thống kiến thức mà các em photo. Phần lớn thời gian là theo dõi những gì còn vướng mắc khi xem trước kiến thức bài mới. Còn những gì cần đến kiến thức cũ thì cũng đã có sẵn ở trước mặt. UNIT 6: THE ENVIRONMENRT J VOCABULARY A. LISTEN & READ (p.47-48) environment (n) : môi trường a garbage dump : bãi rác pollution (n) : sự ô nhiễm deforestation (n) : nạn phá rừng dynamic (n) : thuốc nổ pesticide (n) : thuốc trừ sâu to spray : phun (thuốc) to divide : chia ra don’t worry: đừng lo lắng a plastic bag : bao nhựa, ni-lon a shore : bờ biển sand (n) : cát a rock : tảng đá to provide : cung cấp a map : bản đồ to spoil : làm hư, phá hủy disappointed (adj) : thất vọnfg to achieve : thành công, đạt đến first of all :trước hết B. SPEAK (pages 49-50) to persuade : thuyết phục to protect : bảo vệ banana : lá chuối to wrap : bao,gói to dissolve : phân hủy to reduce : giảm a garbage bin : xọt rác harm (n) : sự nguy hại to prevent : ngăn chận exhaust fume (n): khí thải từ xe cộ littering (n) : nạn xả rác, đốt rừng an amount : lượng to burn : đốt a natural resource : t.nguyên t.nhiên to throw : quăng, vứt trash (n) = garbage (n) : rác why don’t you?tại sao bạn không? It would be better if you..: sẽ tốt hơn nếu bạn.. a factory : xí nghiệp, nhà máy a bottle : chai instead of: thay vì to avoid: tránh traffic jams: nạn kẹt xe to cause: gây ra C. LISTEN (page 50) an ocean : đại dương raw sewage (n) : nước cống to pump : đổ thẳng a ship : chiếc tàu to drop : nhõ giọt, rơi rớt an oil spill : sự rò rĩ dầu to leak : chảy, rò rĩ a vessel : tàu ngầm, tàu đi biển marine life (n) : sinh vật biển a waste material : vật phế liệu to wash : trôi dạt, giặt giũ D. READ (page 51) second-hand (adj) : đã qua sử dụng a junkyard : bãi phế liệu to happen: xãy ra a treasure : kho báu to litter : xã rác hoặc đốt rừng a stream : dòng suối to cover : bao phủ, che to polutte : làm ô nhiễm nonsense (n) : vô lý That isn’t the same thing at all: Hai chuyện đó khác nhau hoàn toàn a wood : rừng gỗ to keep quiet : giữ im, câm mồm a silly idea : ý nghĩ điên rồ other folk (n) : người khác foam (n) : bọt a hedge : hàng rào according to: theo to keep on = to go on : tiếp tục a poet : nhà thơ to minimize : giảm tối thiểu E. WRITE (pages 52-53) complaint (adj) : phàn nàn a situation : tình huống a reason : lý do complication (n) : lời phàn nàn politeness (n) : sự lịch sự to suggest : đề nghị a driver : tài xế to clear up : làm sạch a truck : xe tải a lot of: nhiều a bird: chim smell (n) : mùi a fly : con ruồi to float : nổi bồng bềnh water surface (n) : mặt nước a frog : con nhái a toad : con cóc an electric shock wave : điện giật a local authority : chính quyền địa phương to prohibit : cấm to fine : phạt catching fish: bắt cá F. LANGUAGE FOCUS (p.53-56) extreme (adj) : cực kỳ careless (adj) : bất cẩn wonderful (adj ) : tuyệt vời excited (adj) : hứng khởi amazed (adj) : kinh ngạc to sigh thở dài to win à won à won : chiến thắng a flood : lũ lụt a … e housework 3.2.2. Đặt câu hỏi (Putting questions) Yêu cầu các nhóm rỏ về một chủ điểm ngữ pháp, sau đó đặt câu hỏi về chủ điểm ngữ pháp đó. Sau vài phút các nhóm phải có nhiệm vụ trả lời, lần lượt các trưởng nhóm hoặc thư kí đứng lên đại diện các thành viên trả lời. Để học sinh có hứng thú hơn trong hoạt động, nên tổ chức nó như một cuộc thi: các câu trả lời được chấm điểm dựa vào độ chính xác về ngôn ngữ cũng như thông tin. Ví dụ: TA 9 – Unit 7: Language focus 4 I suggest + V- ing àWhat should we do to help the poor in our neighborhood? 3.2.3. Thực hành mở rộng (Free practice) Sau khi dùng bài luyện thay thế để học sinh làm quen với cấu trúc và chức năng của nó nên tổ chức thêm bài luyện tập có ý nghĩa giao tiếp hơn bằng các hoạt động theo nhóm mang tính chất trò chơi và sáng tạo. Ví dụ: TA 8 – Unit 3: sau khi dạy cấu trúc với should/ shouldn’t (= ought to) với nghĩa khuyên bảo: You should/ shouldn’t + verb (You should eat more fruit) Giáo viên cho một số từ gợi ý để học sinh làm việc theo nhóm. Một người nêu lên vấn đề của mình và những người khác trong nhóm đưa ra lời khuyên. Một vấn đề có thể có nhiều lời khuyên khác nhau. Để học sinh tham gia tích cực hơn nên biến hoạt động này thành một cuộc thi: xem nhóm nào đưa ra được nhiều lời khuyên nhát và có những lời khuyên sáng suốt nhất không thể bắt bẻ được. 3.2.4. Trò chơi đóng vai (Roleplay) Sau khi cả lớp đã luyện tập một cấu trúc với một chức năng nào đó, trò chơi đóng vai có tác dụng rất tốt để củng cố những hiểu biết của học sinh về chức năng của cấu trúc đó trong những hoàn cảnh tự nhiện hơn. Thí dụ, có thể yêu cầu các nhóm đóng một cảnh thuyết phục người khác theo học 1 trường Tiếng Anh với mình, thuyết phục người khác tiết kiệm năng lượng,..Với trò chơi đóng vai, các nhóm có thể dựng lên những vở kịch trong đó mỗi thành viên đóng một vai. Trong khi các thành viên trong nhóm đóng kịch, thư kí nhóm ghi chép vắn tắt các lời thoại để sau đó duyệt lại rồi cả nhóm sẽ trình bày trước lớp. Ví dụ: TA 9 – Unit 4: Speak Why don’t we + Vo.. Let’s + Vo. I agree/ disagree because. Ví dụ: TA 7 – Unit 10: B5 How to take care of your teeth? Do Don’t .. . .. 3.3. Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp, nhóm. Học sinh – người thực hiện hoạt động để chủ động lĩnh hội kiến thức qua hình thức hoạt động này cần phải xây dựng thói quen tuân theo một số những quy định cần thiết. 3.3..1. Cần phải nghe những yêu cầu của bài tập. Yêu cầu này thể hiện trong sách giáo khoa là một phần mà phần lớn là hướng dẫn và yêu cầu của giáo viên, người điều khiển hoạt động. Ví dụ: Có thể yêu cầu về hoạt động, thời gian hoạt động, nhiệm vụ của từng nhóm, cá nhân trong nhóm. 3.3.2. Cần làm việc tự giác không gây quá ồn ào. 3.3.3. Cần phải bắt đầu và ngừng ngay hoạt động khi giáo viên yêu cầu. 3.4. Hạn chế và cách khắc phục. 3.4.1 Tiếng ồn, thời gian: Thông thường làm việc theo cặp, nhóm gây ra tiếng ồn nhưng chính học sinh lại không quan tâm đến vấn đề này. Tiếng ồn này là tiếng ồn có ích nó khuyến khích học sinh thực hành nói Tiếng Anh, thực hiện nhiệm vụ. Thực hành nhóm, cặp có thể mất thời gian hơn. Do vậy giáo viên cần nhanh nhẹn trong các thao tác để tiết kiệm tối đa thời gian cho một tiết dạy. Giáo viên là người đóng vai trò hướng dẫn học sinh trong hoạt động học cho nên cần tránh hình thức chiếu lệ. 3.4.2 Sửa lỗi: Học sinh mắc lỗi trong quá trình thực hiện nhóm, cặp bởi vì giáo viên không thể kiểm soát tất cả lời nói được sử dụng. Để hạn chế những lỗi này giáo viên cần: + Có sự chuẩn bị chu đáo, sử dụng đồ dùng thiết bị ( picure cue, word cue, posters) Nên tận dụng tối đa đồ dùng ở từng cặp, nhóm. Để thêm sinh động, dễ nhập vai có thể yêu cầu học sinh chuẩn bị tranh, đồ dùng đơn giản, gần gũi cho từng tiết thực hành + Kiểm tra một vài cặp/ nhóm và chữa lỗi nếu cần thiết. Giáo viên hiểu rằng các em là đối tượng trung tâm, cho các em thực hành theo cặp, nhóm để các em giao tiếp với nhau giúp các em thực hành dễ dàng và sửa lỗi cho nhau kịp thời. 3.4.3 Giáo viên quản lớp khó hơn thông thường. Giáo viên cần: + Đưa lời chỉ dẫn rõ ràng: when to start, what to do, and when to stop. + Nêu nhiệm vụ trọng tâm rõ ràng. + Lên một lộ trình làm việc để học sinh biết cách làm việc theo nhóm/ cặp và họ biết chính xác họ phải làm gì. 3.4.4.Hợp lí khi phân nhóm: Một số nhóm/ cặp có học sinh yếu, không tự giác có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ hoặc làm việc riêng. Giáo viên cần kiểm soát, giúp đỡ, khích lệ họ làm nhiệm vụ. Năng động sáng tạo trong việc phân nhóm học sinh thành nhóm cặp dảm bảo trong một nhóm học sinh có cả học sinh yếu, có học sinh trung bình, có học sinh khá và giỏi. 4. Những kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài: Việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này bản thân tôi đã đạt được một số kết quả hết sức khả quan. Trước hết những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình, SGK mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng. Không khí học tập sôi nổi nhẹ nhàng. Học sinh có cơ hội để khẳng định mình, không còn lúng túng, lo ngại khi bước vào giờ học. Số học sinh giao tiếp đối thoại được tăng lên, đặc biệt số học sinh yếu kém cũng có phần nào hiểu và sử dụng được một số câu lệnh của giáo viên ,bập bẹ trao đổi với bạn một số câu thông dụng hàng ngày nhưng đó cũng là dấu hiệu đáng mừng đối với các em. Thông qua việc thực hành theo cặp, nhóm học sinh ở các lớp tôi thử nghiệm đã mạnh dạn hơn, hoạt bát hơn trong các tiết học ở trên lớp. Mỗi lần tôi đưa một lượng thông tin và yêu cầu hoạt động theo cặp, nhóm là các em nắm bắt và thực hiện khá thành công. Trong khi thực hành, các em tự uốn nắn cho nhau cách phát âm, cách dùng cấu trúc câu, ngữ điệu chúng tôi tổ chức cho học sinh thực hành theo cặp, nhóm, giáo viên có điều kiện để nắm bắt lượng kiến thức mà học sinh tiếp thu được từ đó có biện pháp để phát huy mặt mạnh cũng như để khắc phục những mặt tiêu cực trong quá trình luyện tập của học sinh, đáp ứng được mối quan hệ biện chứng trong quá trình dạy học. Tôi xin đưa ra dẫn chứng chất lượng của riêng khối 8 trong hơn một học kỳ áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này so với tháng 9 và 10: Khối 8 TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % Tháng điểm 9 + 10 121 22 18.18 27 22.31 44 36.36 24 19.83 4 3.33 Tháng điểm 1 + 2 121 23 19.00 30 24.79 57 47.10 8 6.61 3 2.47 5. Những vấn đề kiến nghị: – BGH nên phát động và khuyến khích giáo viên trong trường tham gia soạn. – GVBM khi soạn xong nên giới thiệu và khuyến khích hs photo vì rất có lợi cho các em trong việc tự tiếp cận kiến thức mới ở nhà. – Nếu ở trường có khó khăn có thể liên kết với một số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm ở trường bạn tạo thành một nhóm biên soạn. – Trước khi soạn nên đọc thật kỹ sách, nắm thật rỏ mục tiêu và kiến thức bài học; tìm ra câu chữ thật ngắn gọn, đơn giản để viết sao cho hs đọc vào có thể hình dung và nắm được nội dung chính của bài sắp học. – Giáo viên phải nắm chắc các thủ thuật, phương pháp tổ chức nhóm, cặp. – Giáo viên phải luôn biết khích lệ học sinh sử dụng kiến thức đã học để sử dụng trong giao tiếp. – Nên tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học- Ngữ cảnh cần phải được giới thiệu rõ ràng. C – KẾT LUẬN Việc tổ chức học sinh làm bài tập theo cặp hoặc nhóm tạo được nhiều cơ hội luyện tập và sử dụng ngoại ngữ một cách sáng tạo trong những tình huống gần với đời sống thật của học sinh. Hơn thế nữa, sự thay đổi trong các hoạt động học tập và kiểu giao tiếp giúp duy trì được sự tập trung chú ý của các em. Qua các hoạt động này học sinh cũng ý thức hơn được rằng việc hoàn thiện bản thân họ có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm đôi với sự tiến bộ của chính mình. Trong chuyên đề này tôi mới chỉ đưa ra một số kinh nghiệm bước đầu. Tôi rất mong được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp để chuyên đề này được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Người thực hiện đề tài Lê Ngọc Phước Nhận xét của Hội đồng khoa học trường ____________________________________________ ____________________________________________ ____________________________________________ ____________________________________________ ____________________________________________ ____________________________________________ Tài liệu tham khảo 1. SGV, SGK mới lớp 6,7,8,9 của Bộ GD-ĐT. 2. English language Teachimg Methodology của Bộ GD-ĐT 2003. 3. The ELTTP Methodology course. 4. Tài liệu chuẩn kiến thức Tiếng Anh THCS. 5. Tài liệu tập huấn đổi mới phương pháp môn tiếng Anh lớp 6,7,8,9. 6. English grammar in use – Gear C. Wilson. A- Đặt vấn đề 2 1. Lí do chọn đề tài 2 1.1 Cơ sở lí luận 2 1.2. Cơ sở thực tiễn 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Phạm vi nghiên cứu 3 4. Phương pháp nghiên cứu 3 B- Nội dung 3 1 Giúp học sinh soạn bài, học ngữ pháp trước thông qua “Quyển từ vựng & ngữ pháp” 3 1.1. Chuẩn bị của giáo viên 3 1.2. Giải pháp 3 2 Hoạt động theo cặp, nhóm 8 2.1 Hoạt động theo cặp 8 2.2 Các hình thức luyện tập theo cặp 9 3. Hoạt động theo nhóm 10 3.1 Vai trò giáo viên. 11 3.2 Các loại hình làm việc theo nhóm 11 3.3. Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp, nhóm. 12 3.4. Hạn chế và cách khắc phục. 13 4. Những kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài 13 5. Những vấn đề kiến nghị 14 C- Kết luận 15 Tài liệu tham khảo 16

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Bài Hát Trong Việc Dạy Tiếng Anh Ở Tiều Học

ình sử dụng 3 quyển Let's learn English book 1, 2, 3 cho học sinh lớp 3, 4, 5 và giáo trình thí điểm Family and Friends 3, 4, 5 tôi đã sử dụng các bài hát phù hợp với nội dung của từng tiết dạy cụ thể. 2. ThuËn lîi vµ khã kh¨n trong qu¸ tr×nh thùc hiÖn ®Ò tµi ThuËn lîi Thø nhÊt, Các em đang ở lứa tuổi phát triển mạnh mẽ về ngôn ngữ, việc bắt chước và ghi nhớ la điều dễ dàng với các em. Đặc biệt nếu ngữ liệu ngôn ngữ mới được kết hợp với dai điệu du dương. T"i coi ®©y lµ thuËn lîi ®Çu tiªn, rÊt quan träng cho c"ng viÖc cña m×nh. Thø hai, các em được học môn âm nhạc từ lớp một, được học về những điều cơ bản để hát đúng , hát hay một bài hát như thế nào. Thø ba, nhà trường đã có những trang thiết bị cơ bản để GV thực hiện các tiết dạy có sữ dụng bài hát như: Đầu từ, loa, máy chiếu, máy vi tính xách tay. Khã kh¨n Thø nhÊt, nhà trường chưa có phòng học tiếng riêng. Cho nên các tiết Tiếng Anh nói chung và một tiết học có sử dụng bài hát nói riêng có thể ít nhiều làm ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh. Điều đó làm hạn chế đi sự sôi động cần có của một tiết học ngôn ngữ. Thø hai, một số ít phụ huynh, thậm chí cả giáo viên trong trường chưa thực sự hiểu biết về tác dụng tích cực của việc sử dụng bài hát trong việc học ngoại ngữ. Không biết rằng đây là một trong những phương pháp tích cực được các chuyên viên ngoại ngữ khuyến khích sử dụng trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Một số người khác lại cho rằng việc học một bài hát Tiếng Anh làm mất thời gian và không có tác dụng gì cả. Thø ba, việc chuẩn bị cho một tiết học có sử dụng bài hát tốn khá nhiều thời gian và năng khiếu về âm nhạc của GV dạy bộ môn Tiếng Anh còn chạn chế. 3. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Tõ nh÷ng thuËn lîi vµ khã kh¨n ë trªn, t"i ®· suy nghÜ và tìm ra một số biện pháp để thực hiện đề tài của mình. - Let's learn English book 2, Unit one( My homeland ), sử dụng bài hát: Where are you from? Where are you from? Where are you from? Where are you from? And where are you from? I'm from America. I'm from Australia I'm from England. I'm from China Where are you from? Where are you from? Where are you from? And where are you from? I'm from Canada. I'm from Korea I'm from Newzeland. I'm from Japan Where are you from? Where are you from? Where are you from? And where are you from? - Let's learn English book 3, Unit six( The School Festival ), sử dụng bài hát: Were you in the living room? (Nhạc mượn từ sách English time 4 , nhằm củng cố cấu trúc Were you.?) Were you in the living room, the living room, the living room? Were you in the living room? No, I wasn't. I was in the yard - Let's learn English book 1, Unit ten ( The Weather ), sử dụng bài hát: How's the weather? Nhạc của bài "Kìa con bướm vàng": "How's the weather? How's the weather? It's sunny, It's sunny. The wather is sunny, the weather is sunny, Let's go out, let's go out. How's the weather? How's the weather? It's rainy, It's rainy. The weather is rainy, the weather is rainy, Let's come in, let's come in. How's the weather? How's the weather? It's cloudy, It's cloudy. The weather is cloudy, the weather is cloudy, Let's go out, let's go out. How's the weather? How's the weather? It's windy, It's windy. The weather is windy, the weather is windy, Let's come in, let's come in. - Let's learn English book 3, Unit three ( Jobs ) và Let's learn English book 1, Unit ten( The weather ) sử dụng bài hát "I want to be an engineer". Nhạc của bài "When Johnny comes marching home" như sau: "I want to be an engineer, Hurah, hurah! I want to be an engineer, Hurah, hurah! I want to be an engineer, I want to be an engineer. Let's me try, let's me try, please let's me try! I want to be a dancer, Hurah, hurah! I want to be a dancer, Hurah, hurah! I want to be a dancer, I want to be a dancer. Let's me try, let's me try, please let's me try! I want to be a singer, Hurah, hurah! I want to be a singer, Hurah, hurah! I want to be a singer, I want to be a singer, Let's me try, let's me try, please let's me try!" - Let's learn English book 3, Unit ten( Seasons and weather ) sử dụng bài hát: What's the weather like? What's the weather like? What's the weather like? What's the weather like today? What's the weather like? What's the weather like? What's the weather like today? It's rainy. It's cloudy It's windy. And it's snowy What's the weather like? What's the weather like? What's the weather like today? What's the weather like? What's the weather like? What's the weather like today? It's sunny. It's fine It's hot. And it's beautiful day. - Let's learn English book 1, Unit three ( Our names ) sử dụng bài hát: What's your name? What's your name? What's your name? My name's Richard. My name's Richard My name's My name's. One, two, three, four. Nice to meet you. What's your name? What's your name? My name's My name's My name's. My name's. One, two, three, four. Nice to meet you. Let's learn English book 1, Unit seven ( Family members) sử dụng bài hát: THE FAMILY SONG ( Lấy từ giáo trình English time book 2) a/ Who's he? He's my father. Who's he? He's my brother. Who's he? He's my grandfather. This is my family. b/ Who's she? She's my mother. Who's she? She's my sister. Who's she? She's my grandfather. This is my family. - Let's learn English book 2, Unit six( My school timetable ) sử dụng bài hát: How many days in a week? How many days ? How many days ? How many days in a week? Sunday, Monday Tuesday, Wednesday Thursday, Friday, Saturday. - Let's learn English book 2, Unit two ( Happy birthday ) sử dụng bài hát: Happy birthday to you. Happy birthday to you. Happy birthday to you. Happy birthday Happy birthday Happy birthday to you. - Let's learn English book 1, Unit one ( Hello ) sử dụng bài hát: Good morning. Good morning to you. Good morning to you. Good morning dear children. Good morning to you. Good morning to you. Good morning to you. Good morning dear teacher. Good morning to you. - Let's learn English book 3, Unit seven( My health ) sử dụng bài hát "My foot hurt" ( Nhạc của bài Three blind mice) như sau: (My foot hurts) x2. (My legs hurt) x2. My knees hurt, My arms hurt. My eyes hurt. My ears hurt. My fingers hurt. And my foot hurt. - Cũng ở Let's learn English book 3, Unit seven ( My health ) tôi có thể sử dụng bài hát "Oh no, poor Ted" ( Nhạc của giáo trình English Time 4) như sau: OH, NO! POOR TED a. He has a fever. He doesn't have a sore throat He has a fever. He doesn't have a rash. He has a fever. He doesn't have a col. Oh, no! poor Ted! b. She has a rash. She doesn't have a stomachache. She has a rash. She doesn't have a cough. She has a rash. She doesn't have a cold. Oh, no! poor Annie! * Riêng đối với giáo trình thí điểm 4 tiết/ tuần "Family and Friends 3, 4, 5" thì trong mỗi bài học đều có tiết dạy bài hát cụ thể phù hợp hoàn toàn với nội dung từ vựng, cấu trúc ngữ pháp yêu cầu của bài đó nên GV không cần mất thời gian tìm bài hát hay đặt lời cho phù hợp với bài, mà chỉ cần tập cho Hs hát thật nhuần nhuyễn, thuộc lòng các bài hát đó là nhớ từ vựng của bài đó rồi. Ví dụ: Trong sách Family and Friends 3 Unit 3 ( This is my nose: Bài hát "Ten fingers on my hands, các em có thể thay lời bài này bằng các từ khác như sau: Ten fingers on my hands, on my hands, Ten fingers on my hands, on my hands, Two eyes, one nose all on my face. Ten fingers on my hands, on my hands. Hay ở sách Family and Friends 3 Unit 4 ( He's a hero: Bài hát "Two kind doctors, các em có thể thay lời bài này bằng các từ khác như sau: Two kind doctors meet in a land, hello, hello, What's your name? How are you? How are you? How are you again? Two kind farmers,..Two kind teachers,..Two kind pupils,..Two kind nurses,..Two kind firemen,.Two kind workers,..vô số các nghề khác nhau để tạo thành bài hát dài nhưng dễ thuộc. Hay ở sách Family and Friends grade 4 Unit seven (Feelings) Bài hát: If you're tired and you know it. Sau khi tập hát hết 4 lời của bài ta có thể thay các từ chỉ cảm giác khác nhau như: hungry, thirsty, .làm như vậy bài hát sẽ tiếp tục dài ra và vốn từ vựng cũng dễ nhớ hơn. * Nói chung hầu như bài hát nào trong giáo trình Family and friends 3, 4, 5 GV đều có thể thay lời để tạo thành bài hát mới dựa trên bài nhạc gốc từ đó tạo nên sự phong phú về từ vựng cho HS dễ nhớ. - Thứ hai, tùy vào bài hát cụ thể mà tôi lựa chọn các thiết bị phù hợp để không làm mất thời gian cho việc chuẩn bị. Có lúc sử dụng máy chiếu để các em xem được hình ảnh sinh động. Có lúc chỉ cần có đầu từ, một bộ loa mini và USB, hay điện thoại có dây jack có sẵn, hoặc laptop cá nhân và bộ loa mini cá nhân, hoặc có lúc tôi không sử dụng một thiết bị nào cả. - Thứ ba, tôi trau dồi thêm kĩ năng âm nhạc để có thể tự tin hát mẫu trước học trò nếu các em yêu cầu. + Unit one: bài "Open your book" thực hiện các động tác minh họa sau: Open the book: Dùng 2 tay mở sách Close the book: Dùng 2 tay đóng sách lại Open the door: Dùng 1 tay mở cửa chính Close the door: Dùng 1 tay đó đóng cửa. Open the bag: Dùng 1 tay mở cặp (mở theo chiều ngang) Close the bag: dùng 1 tay đóng cặp theo chiều ngang (ngược lại với mở) Open the window: Dùng cả 2 tay mở cửa sổ (như tập thể dục động tác tay) Close the window: Dùng 2 tay đóng cửa sổ (ngược lại với chiều mở) + Unit two: bài "Toys" thực hiện các động tác sau: Toys, toys, toys, toys, toys, toys, toys: đưa ngón tay lên đếm đủ 7 lần. This is my big red kite: làm động tác thả diều (giơ 2 tay lên nắm sợi dây) This is my big blue bike: quay tròn 2 tay giống như bánh xe đang di chuyển. This is my big green train: dùng 2 chân giậm đều như chuẩn bị bước lên tàu. I love toys: Đưa 2 tay tư ngoài vào trước ngực thể hiện sự yêu thích. + Unit three: Ten fingers on my hands làm các động tác sau: Ten fingers: xòe mười ngón tay, on my hands: vỗ 2 tay vào nhau. (2 lần) Two eyes: chỉ 2 tay vào mắt, one nose: chỉ vào mũi, all on my face: chỉ vào khuôn mặt. Ten fingers on my hands, on my hands: làm lại như trên. + Unit four: Two kind doctors làm các động tác sau: Cho các em vẽ lên đầu 5 ngón tay hình 5 người khác nhau: doctors, farmers, teachers, policemen, pupils. Khi hát tới người nào thì 2 ngón tay của 2 bàn tay giơ ra chào nhau. + Unit five: At the park dùng các động tác sau: At the park: Dùng 2 ngón tay chỉ vào vị trí đang đứng. It's so much fun: đưa 2 ngón tay chỉ lên má. For you: đưa 2 bàn tay về phía người đối diện, For me: đưa 2 tay về phía mình. For eveyone: đưa 2 bàn tay ra xung quanh. Play on the seesaw: Di chuyển cẳng tay lên xuống từ khuỷu tay. Play in the pool: Dùng 2 tay làm động tác bơi. Eat an ice cream: 1 tay cầm và ăn kem (có thể làm động tác liếm kem) Play with a ball: lấy 2 tay vẽ quả bóng tròn rồi tung lên. Play with a frisbee: dùng tay ném 1 cái đĩa. Play on the slide: dùng tay diễn tả động tác trượt cầu tuột từ trên xuống. + Unit six: In my family dùng các động tác sau: In my family: Đưa 2 bàn tay lên như chào đón ai. Lots of love: Đưa 2 tay đặt lên đầu thành hình trái tim. For you and for me: Đưa 2 tay về phía ngoài rồi đưa vào phía trong. Mum and dad: giơ ngón cái lên. Sister and brother: giơ ngón trỏ lên. Grandma and grandpa: giơ ngón giữa lên Aunt and uncle: giơ ngón áp út lên. Cousins: giơ ngón út lên. + Unit seven: bài Everyday làm các động tác sau: I put on my socks: làm động tác mang tất. I put on my shoes: làm động tác mang giày. I put on my coat: làm động tác mang áo khoác. I put on my hat: làm động tác mang nón. Goodbye mum: vẫy tay tạm biệt và hôn mi gió. + Unit eight: Come into my house làm các động tác sau: Come into my house: dang 2 tay chào đón What can you see: nhìn từ trái qua phải Upstairs and downstairs: chỉ lên xuống Come, follow me: vẫy tay ra hiệu đi theo. Go through the door: dùng 2 tay mở cửa Go upstairs: Đi lên Go downstairs: Đi xuống. + Unit nine: Open my lunch box, làm các động tác sau: Open my lunch box: Dùng 1 tay mở hộp. What can you see: Đưa mắt nhìn qua nhìn lại. I've got a sandwich: vẽ hình bánh mì trong không khí You can share with me: Giả bộ đưa về phía đối diện. I've got a tomato: vẽ hình quả cà chua nhỏ. I've got a pear: vẽ hình quả lê. And I've got some grapes: làm động tác ăn quả nho. And I'm happy to share: mỉm cười. * Giáo trình Family and Friends 4: + Unit one: It's a square làm các động tác sau: It's got four sides: Đưa 4 ngón tay lên. They're all the same: đếm từ 1 tới 4. It's a square: vẽ hình vuông vào không khí. It's got three sides: đưa 3 ngón tay lên. Just one two three: đếm ngón tay từ 1 tới 3. It's a triangle: vẽ hình tam giác trong không khí. It's got four sides: đưa 4 ngón tay lên. Two long two short: 1 tay đưa 2 ngón, tay còn lại vẽ 1 đoạn dài và 1 đoạn ngắn. It's a rectangle: vẽ hình chữ nhật trong không khí. It hasn't got sides: làm ngón tay hình số không và lắc đầu. It's smooth and round: 2 bàn tay xoa vào nhau. It's a circle: vẽ hình tròn trong không khí. + Unit two: Let's go to the zoo, làm các động tác sau: Here's the tiger: giơ các ngón tay lên làm như móng vuốt con cọp. Growl: giả giọng kêu của cọp. Let's go to the zoo: Giả bộ chạy như vui mừng. Here's the snake: đưa 1 tay ngoe nguẩy như con rắn. Hiss: thở như con rắn hổ mang. Here's the parrot: vẫy 2 tay như đang bay. Squawk: Giả tiếng kêu của con vẹt. You can come, too: vẫy tay rủ bạn cùng tham gia. + Unit three: Drink your milk lam các động tác sau: Eat your figs: giả bộ ăn nhai, and drink your milk: giả bộ uống. Don't be late for school: chỉ vào đồng hồ và ra hiệu lắc đầu. Here's your water, here's your bag: phát các món đồ cho bạn. + Unit four: There are ten in the bed, làm các động tác sau: Gọi 1 HS lên trước lớp làm "the little one", phát các thẻ hình từ 10 đến 20 cho các HS còn lại trong lớp. Khi HS nào nghe được số của mình thì giơ thẻ lên. HS đóng vai little one khi nghe toi ten mình thì mời 2 bạn nữa tham gia. Cứ làm như vậy tới khi tất cả các thẻ hình đều ở trước lớp. + Unit five: i can do anything, làm những động tác sau: I can write my alphabet: viết chữ a trong không khí. I can draw an elephant: vẽ vòi của con voi. I can sing this song: chỉ vào miệng (tay làm động tác cầm micro) I can do anything: dang 2 tay ra. + Unit six: What's in the classroom? What's in the classroom : giơ tay lên như muốn đặt câu hỏi. Passage one: chỉ vào những tấm tranh tren tường và làm động tác mở sách. Passage two: làm động tác mở ngăn kéo và mở tủ. Passage three: chỉ vào cửa chính và cửa sổ, rồi chỉ vào bàn ghế trong lớp. Passage four: chỉ vào những cái móc và làm động tác treo áo khoác lên. + Unit seven: If you are tired and you know it. tired: gối đầu lên tay rồi nhắm mắt lại. scared: khoanh tay lại. angry: nghiến răng, nắm chặt tay và giậm chân. Brave: mỉm cười và giơ nắm tay lên. + Unit eight: Where is my teddy bear? Where is my teddy bear?: nhìn quanh tìm gấu. I can't find him anywhere: lắc đầu tỏ thất vọng. Look behind the bedroom door: mở cửa. Look in front of the sofa: đứng chống nạnh tỏ vẻ tìm kiếm. Look between the bed and chair: cúi xuống và nhìn khắp nơi. Look next to the big toy box: quỳ gối trên sàn nhà. Yes, my teddy's hiding there: ôm chú gấu vào lòng. - Sau nhiều n¨m trùc tiÕp d¹y TiÕng Anh 3, 4, 5 theo ch­¬ng tr×nh míi và thí điểm, t"i c¶m thÊy ch­¬ng tr×nh ®ßi hái ng­êi d¹y vµ ng­êi häc ph¶i lu"n lu"n t×m tßi c¸ch míi ®Ó truyÒn thô vµ tiÕp thu kiÕn thøc mét c¸ch cã hiÖu qu¶. Trªn ®©y míi chØ lµ mét trong nh÷ng s¸ng t¹o mµ b¶n th©n t"i tù nghÜ ra ®Ó ®¸p øng yªu cÇu cña s¸ch gi¸o khoa TiÕng Anh 3, 4, 5. Xuyªn suèt kiÕn thøc, ch­¬ng tr×nh cung cÊp cho häc sinh mét khèi l­îng tương đối lín vÒ ng÷ ph¸p vµ tõ vùng ë møc ®é n©ng cao vÒ kü n¨ng cho nªn mçi ng­êi d¹y nªn cè g¾ng ®Ó cã nh÷ng tiÕt d¹y thµnh c"ng. BiÖn ph¸p thùc hiÖn ®èi víi "Let's learn English" và "Family and Friends cña t"i mÆc dï ch­a ®­îc ®¸nh gi¸ ë kho¶ng thêi gian dµi nh­ng víi c¸c ®èi t­îng häc sinh kh¸c nhau vµ trong suèt 6 n¨m theo dâi, t"i ®· ¸p dông vµ ®¹t ®­îc môc tiªu ®Ò ra. VÒ phương pháp trªn ®©y, t"i tù ®¸nh gi¸ r"ng nã cã vµi ®iÓm ­u viÖt h¬n mét sè phương pháp kh¸c. IV. Bµi häc kinh nghiÖm 1. Mçi bµi d¹y lµ mét c"ng tr×nh cña ng­êi gi¸o viªn cho nªn tr­íc khi thùc hiÖn bÊt cø mét tiÕt d¹y nµo, ng­êi d¹y còng cÇn ph¶i bá c"ng nghiªn cøu ®Ó t×m ®­îc h­íng ®i phï hîp víi tõng ®èi t­îng ng­êi häc. §Æc biÖt, víi nh÷ng bµi thuéc d¹ng kü n¨ng nh­ nghe (Listening), gi¸o viªn ph¶i l­êng tr­íc mét sè vÊn ®Ò n¶y sinh (Anticipated Problems) ®Ó chuÈn bÞ c¸c ph­¬ng ¸n gi¶i quyÕt. 2. Sù chuÈn bÞ c¸c ®å dïng d¹y häc (Teaching Aids) nh­ b¶ng phô, bót, nam ch©m, b¨ng dÝnh, thiết bị máy móc kh"ng chØ lµ b­íc cÇn thiÕt ®Ó mçi gi¸o viªn bao qu¸t tr­íc bµi häc mµ cßn gióp tiÕt kiÖm rÊt nhiÒu thêi gian trªn líp, bªn c¹nh ®ã, t"i thiÕt nghÜ, ®ång nghiÖp vµ häc sinh sÏ cã sù ®¸nh gi¸ kh¸ch quan vÒ møc ®é chØn chu cho mçi tiÕt häc. Râ rµng, gi¸o viªn b­íc vµo líp häc víi c¸c ®å dïng d¹y häc sÏ kÝch thÝch tÝnh tß mß vµ kh¸m ph¸ cña häc sinh h¬n lµ lªn líp d¹y víi mçi quyÓn s¸ch gi¸o khoa. Tuy nhiªn, chóng ta còng cÇn l­u ý mét ®iÒu, ®å dïng d¹y häc chØ lµ ph­¬ng tiÖn gióp gi¸o viªn ®­a kiÕn thøc ®Õn víi häc sinh nhÑ nhµng vµ thuËn lîi h¬n, khuyÕn khÝch häc sinh ph¸t huy tÝnh s¸ng t¹o vµ tù m×nh kh¸m ph¸ bµi häc qua viÖc ®äc, nghe, xem . NÕu ng­êi d¹y phô thuéc qu¸ vµo ®å dïng d¹y häc sÏ dÉn ®Õn mét tiÕt d¹y kh" khan, khu"n mÉu vµ h×nh thøc. 3. Gi¸o viªn nªn chän ng"n tõ vµ cÊu tróc c¬ b¶n, dÔ hiÓu trong c¸c bµi mÉu. §iÒu nµy quyÕt ®Þnh tÝnh thµnh c"ng cho tiÕt d¹y bëi v× nÕu häc sinh kh"ng hiÓu néi dung hoÆc dïng sai cÊu tróc, toµn bé môc ®Ých vµ yªu cÇu bµi d¹y xem nh­ ch­a ®¹t. KÕt luËn vµ ®Ò xuÊt: Khai th¸c mét bµi d¹y lµm sao cho phï hîp víi kiÓu bµi vµ ®Æc biÖt víi ®èi t­îng häc sinh cña m×nh lµ hÕt søc cÇn thiÕt ®èi víi mçi gi¸o viªn. ChÝnh v× thÕ, c¸ch lµm trªn ®©y cña t"i còng míi lµ sù thö nghiÖm vµ b­íc ®Çu cho thÊy cã tÝnh thùc tÕ, tÝnh hµi hoµ vµ kh¶ thi cho c¸c ®èi t­îng häc sinh kh¸c nhau. T"i cho r"ng, cßn nhiÒu c¸ch khai th¸c kh¸c cña kiÓu bµi nµy mµ t"i rÊt mong muèn ®­îc c¸c ®ång nghiÖp bæ sung, gãp ý ®Ó chóng ta cïng nhau thiÕt kÕ ®­îc nh÷ng c¸ch d¹y theo yªu cÇu vµ ph­¬ng ph¸p míi ®¹t hiÖu qu¶ h¬n. T"i còng rÊt mong muèn ®­îc tham kh¶o nh÷ng ®Ò tµi nghiªn cøu cña c¸c ®ång nghiÖp ®Ó ngµy cµng hoµn thiÖn kh¶ n¨ng s­ ph¹m cña m×nh h¬n. VI. TƯ LIỆU THAM KHẢO - Sách giáo viên tiếng Anh Let's learn 3, 4, 5. - Sách giáo viên Family and Friends grade 3, 4, 5. - Sách English Time 2, 3, 4 của Oxford. - Trang Xác nhận, đánh giá của đơn vị: Quảng Thành, ngày 20 tháng 12 năm 2014 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung người khác. Kí tên Nguyễn Văn Hiền

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Học Tiếng Anh Nhanh Chóng Và Dễ Nhớ

Để học từ vựng dễ nhớ bạn có thể thử học bằng những cách sau đây:

1. Cách một: chuẩn bị một cuốn sổ tay nhỏ vừa để được trong túi áo hoặc quần của bạn, bất cứ đi đâu, bất cứ khi nào bạn gặp một từ mới, hay bạn ghi ngay vào sổ, nếu bạn chưa biết được nghĩa cử từ thì về nhà bạn mở từ điển ra xem rồi bổ sung ngay nghĩa vao sổ. Bạn nên nhớ, mỗi lần bạn tra từ điển là một lần giúp bạn khắc sâu đươc từ đó về cả cách đọc, cách dùng và nghĩa chính xác của nó.Thỉnh thoảng bạn lấy nó ra xem. Cứ như vậy, vốn từ của bạn ngày càng dồi dào hơn.

2. Cách hai: chuẩn bị một cây bút xạ ( hightlight), khi nào bạn học bài và gặp từ mới bạn sử dụng nó để tô lên chữ cần học thuộc. Và cứ mỗi lần bạn mở vở ra , bạn thấy những chữ nỗi bật nhất trong trang vở, tự dưng bạn chú ý đến nó, khoảng 3 đến 4 lần như vậy bạn sẻ học thuộc được từ đó mà thôi.

3. Cách ba: chuẩn bị một cuộn băng dán nhỏ và những mẫu giấy nhỏ. Bạn viết chữ bằng tiếng Anh nhũng đồ vật trong nhà bạn và dán vào từng đồ vật ấy ở những chổ dễ thấy nhất. Như vậy, cứ mỗi lần bạn sử dụng đến đồ vật đó bạn sẽ vô tình nhìn thấy những chữ đó và bạn học thuộc nó lúc nào mà bạn cũng không hay. Ví dụ: bạn viết lên cái thước kẻ bằng chữ: RULER; cái chổi quét nhà chữ: BROOM; cái lược chải tóc chữ: COMB .v.v.

4. Cách bốn: một ngày bạn viết vào một mẩu giấy 3 đến 4 từ , hoặc cấu trúc mà bạn cần học thuộc, cỡ chữ vừa đủ để bạn đứng cách khoảng 2m mà bạn vẫn thấy. Bạn nên viết bằng mực màu gì mà bạn thích, hoặc màu thật nỗi bật, dễ thấy. Rồi bạn dán lên tường trước bàn bạn hay ngồi học hoặc nơi nào bạn hay lui tới. Cứ mỗi lần bạn ngồi vào bàn, bạn vô tình hoặc cố tình nhìn thấy nó, bạn cố gắng là trước khi đi ngủ bạn xem qua lại một lần rồi lên giường, trước khi ngủ bạn nên đọc nhẩm lại một lần cho nhớ, sáng sớm thức dậy bạn nhớ lại xem mình đã thuộc hay chưa. Ngày khác bạn cũng làm tương tự và dán chồng lên mẩu giấy ngày hôm qua, phòng khi bạn quên từ , cấu trúc đã học thì bạn có thể ôn lại những từ, cấu trúc đó.

Sáng kiến kinh nghiệm môn Anh văn Cách học từ vựng tiếng Anh thật dễ nhớ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THCS ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP HỌC TIẾNG ANH NHANH CHÓNG VÀ DỄ NHỚ I- Phần mở đầu: II- Lí do chọn đề tài: Trong tình hình hiện nay, việc học tiếng Anh ở các vùng đồng bằng , nhất là các thành phố lớn đang là một phong trào rất mạnh. Xu hướng này phù hợp với tất cả các đối tượng, từ học sinh tiểu học cho đến các em học sinh THPT, sinh viên và các cán bộ, công nhân.v.v Nhìn lại bộ môn tiếng Anh đang được giảng dạy ở trường ta, một trường ở vùng sâu, vùng xa thì thấy rằng, phong trào học tiếng Anh ở đây đang còn rất nhỏ,yếu. Lí do dẫn đến tình trạng này có lẽ là do các em chưa tìm thấy cách học thích hợp cho bản thân mình, hay cũng có thể là do các em thấy khó khăn trong việc học từ vựng, cấu trúcNhằm giúp các em cảm thấy dễ dàng hơn, thoải mái hơn trong việc học tiếng Anh, giúp các em học nhanh và dễ tìm thấy niềm vui khi học tiếng Anh và ngày càng thích học bộ môn này. III- Giới thiệu chung: Đề tài này gồm có 4 phần: Phần thứ nhất: học từ vựng ( Vocabulary- New words) Phần thứ hai: học quy tắc nhấn trọng âm chung ( Stress) Phần thứ ba: học quy tắc phát âm của động từ tận cùng bằng ED, danh từ, động từ sau khi thêm S/ES ( V-ed; N-s/es; V-s/es) Phần thứ tư: học quy tắc dùng mạo từ AN( Article- AN) IV- Nội dung: A- Phần thứ nhất: HỌC TỪ VỰNG ( Vocabulary- New words): Để học từ vựng dễ nhớ bạn có thể thử học bằng những cách sau đây: 1. Cách một: chuẩn bị một cuốn sổ tay nhỏ vừa để được trong túi áo hoặc quần của bạn, bất cứ đi đâu, bất cứ khi nào bạn gặp một từ mới, hay bạn ghi ngay vào sổ, nếu bạn chưa biết được nghĩa cử từ thì về nhà bạn mở từ điển ra xem rồi bổ sung ngay nghĩa vao sổ. Bạn nên nhớ, mỗi lần bạn tra từ điển là một lần giúp bạn khắc sâu đươc từ đó về cả cách đọc, cách dùng và nghĩa chính xác của nó.Thỉnh thoảng bạn lấy nó ra xem. Cứ như vậy, vốn từ của bạn ngày càng dồi dào hơn. 2. Cách hai: chuẩn bị một cây bút xạ ( hightlight), khi nào bạn học bài và gặp từ mới bạn sử dụng nó để tô lên chữ cần học thuộc. Và cứ mỗi lần bạn mở vở ra , bạn thấy những chữ nỗi bật nhất trong trang vở, tự dưng bạn chú ý đến nó, khoảng 3 đến 4 lần như vậy bạn sẻ học thuộc được từ đó mà thôi. 3. Cách ba: chuẩn bị một cuộn băng dán nhỏ và những mẫu giấy nhỏ. Bạn viết chữ bằng tiếng Anh nhũng đồ vật trong nhà bạn và dán vào từng đồ vật ấy ở những chổ dễ thấy nhất. Như vậy, cứ mỗi lần bạn sử dụng đến đồ vật đó bạn sẽ vô tình nhìn thấy những chữ đó và bạn học thuộc nó lúc nào mà bạn cũng không hay. Ví dụ: bạn viết lên cái thước kẻ bằng chữ: RULER; cái chổi quét nhà chữ: BROOM; cái lược chải tóc chữ: COMB.v.v. 4. Cách bốn: một ngày bạn viết vào một mẩu giấy 3 đến 4 từ , hoặc cấu trúc mà bạn cần học thuộc, cỡ chữ vừa đủ để bạn đứng cách khoảng 2m mà bạn vẫn thấy. Bạn nên viết bằng mực màu gì mà bạn thích, hoặc màu thật nỗi bật, dễ thấy. Rồi bạn dán lên tường trước bàn bạn hay ngồi học hoặc nơi nào bạn hay lui tới. Cứ mỗi lần bạn ngồi vào bàn, bạn vô tình hoặc cố tình nhìn thấy nó, bạn cố gắng là trước khi đi ngủ bạn xem qua lại một lần rồi lên giường, trước khi ngủ bạn nên đọc nhẩm lại một lần cho nhớ, sáng sớm thức dậy bạn nhớ lại xem mình đã thuộc hay chưa. Ngày khác bạn cũng làm tương tự và dán chồng lên mẩu giấy ngày hôm qua, phòng khi bạn quên từ , cấu trúc đã học thì bạn có thể ôn lại những từ, cấu trúc đó. 6. Cách sáu: bạn cũng có thể học từ vựng nhanh bằng vài câu thơ ( có thể những câu thơ này là do Giáo viên bạn cung cấp) ví dụ như: Xe hơi du lịch là car Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam Thousand là đúng...mười trăm Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ Wait there đứng đó đợi chờ Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu Hoặc SKY trời, EARTH đất, CLOUD mây RAIN mưa WIND gió, DAY ngày NIGHT đêm HIGH cao HARD cứng SOFT mềm REDUCE giảm bớt, ADD thêm, HI chào B- Phần thứ hai: HỌC QUY TẮC NHẤN TRỌNG ÂM CHUNG (stress): Quy ước: Dấu huyền, nặng = thanh bằng ( ) Dấu sắc =thanh trắc (/) Không dấu = thanh ngang (_) Quy tắc: - Nếu trong từ có thanh trắc thì trọng âm rơi vào thanh trắc đó. Ví dụ: khi đọc từ : TEACHER là: tích-chờ tương dương với: / . Như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh trắc, là âm đầu tiên. Hoặc trong từ: HUSBAN đọc là: hớt-bần tương đương với: / Như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh trắc, là âm đầu tiên.Hoặc trong từ: EXPECT đọc là: ịt-x-péc-t tương đương với: / Như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh trắc, là âm thứ hai. - Nếu trong từ không có thanh trắc, chỉ có thanh bằng và thanh ngang thì trọng âm rơi vào thanh ngang đó. Ví dụ: từ RULER đọc là: ru-lờ tương đương với: _ . như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh ngang, là âm thứ nhất. Hoặc từ DINNER đọc là: din-nờ tương đương với: _ . như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh ngang, là âm thứ nhất. Hoặc từ PREPARE đọc là: pri-pea tương đương với: _ _ . như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh ngang thứ nhất, là âm thứ hai. - Nếu trong từ có không thanh trắc, chỉ có hai hoặc ba thanh ngang liên tiếp thì trọng âm rơi vào thanh ngang đầu tiên. Ví dụ: từ SCHOOLBOY đọc là xcun-boi tương đương với: _ _ . Như vậy, trọng âm rơi vào thanh ngang đầu tiên, là âm thứ nhất. C- Phần thứ ba: HỌC QUY TẮC PHÁT ÂM ĐỐI VỚ ĐỘNG TỪ TẬN CÙNG BẰNG ED; DANH TỪ, ĐỘNG TỪ SAU KHI THÊM S/ES ( V-ed; N-s/es; V-s/es): C1. V-ed: Theo qui tắc, khi thêm ED vào cuối các động từ thì có 3 cách phát âm đối với ED, đó là: - /id/ đối với các động từ có tận cùng bằng âm /t/ và /d/ tương đương với chữ t và d. ví dụ: với động từ WANT có tận cùng bằng chữ t hay âm /t/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ WANTED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành goăn-tịd. Hoặc với động từ DISCARD có tận cùng bằng chữ d hay âm /d/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ DISCARDED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành dị-x-ca-dịd. - /t/ đối với các động từ có tận cùng bằng âm : /k/, /f/, /p/, /k/, /ʃ/, /s/, /ʤ/ tương đương với các chữ: k,f,p,c,ch,sh,gh,ph,ss,x,tr,z. Ví dụ: với động từ WORK có tận cùng bằng chữ k hay âm /k/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ WORKED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành guốc-k-t. Hoặc với động từ STOP có tận cùng bằng chữ p hay âm /p/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ STOPPED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành x-tóp-t.v.v. Với quy tắc này hơi khó nhớ, vì vậy, bạn có thể nhớ bằng hai câu thơ sau: phảng fất còn ghi t(r)ình kô phượng s(h)ông xưa zờ chạnh ghé xem ssao. - /d/ đối vớ các âm hay chữ cái còn lại. Ví dụ: với động từ PLAY có tận cùng bằng chữ y hay âm /i/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ PLAYED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành p-lây-d. Hoặc với động từ LIVE có tận cùng bằng chữ ve hay âm /v/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ LIVED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành li-v-d. C2. N-s/es; V-s,es: Các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng S/ES có ba cách phát âm, đó là: - /iz/ đối với các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng các chữ cái: sh, ch, o, ss, x, z. ví dụ: với từ GLASS, có tận cùng bằng SS thì ta thêm ES vào cuối từ, ta có từ GLASSES, đọc là g-lax-xiz. Hoặc với từ WASH, có tận cùng bằng SH thì ta thêm ES vào cuối từ, ta có từ WASHES, đọc là goăt-siz. Như vậy, để dễ nhớ quy tắc này bạn có thể nhớ câu: Sháng chiều zò xổ ss ố - /s/ đối với các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng các chữ cái: k, f, p, t, gh tương đương với các âm: /k/, /f/, /p/, /t/.ví dụ: với từ LAUGH, có tận cùng bằng GH thì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ LAUGHS, đọc là la-f-s. Hoặc với từ START, có tận cùng bằng T thì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ STARTS, đọc là x-tát-x. - /z/ đối với các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng các chữ cái: còn lại , ví dụ như với từ OPEN, có tận cùng bằng Nthì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ OPENS, đọc là âu-pần-z. Hoặc với từ STAY, có tận cùng bằng Y thì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ STAYS, đọc là x-tây-z. Giáo Viên: Phạm Song Hào

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Kinh Nghiệm Dạy Từ Vựng Môn Tiếng Anh Lớp 6

ới, muốn giao tiếp được với nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ. Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ vựng. Thật vậy, nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không thể phát triển tốt các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho dù các em có nắm vững các mẫu câu và kiến trhức ngữ pháp. Do vậy, giúp học sinh nắm vững các từ đã học để vận dụng vào việc rèn luyện các kỹ năng là việc làm rất quan trọng khiến tôi trăn trở và quyết định thực hiện đề tài : "Kinh nghiệm dạy từ vựng môn tiếng Anh 6" . - Nhưng đa phần, học sinh không hiểu được tầm quan trọng của từ vựng nên rất lười học hoặc chỉ học hoa loa rồi không sử dụng được nó , trong đó học sinh khối 6 cũng không ngoại lệ, với lượng kiến thức mới mà nó khác xa với tiếng mẹ đẻ như thế thì học sinh rất sợ học. Do vậy người giáo viên phải làm gì để từ vựng không còn là " nổi khó khăn "của học sinh , suy nghĩ ấy cứ làm tôi trăn trở mãi , với vài năm đứng lớp gặp không biết bao nhiêu lần học sinh không thuộc từ vựng , viết sai , hiểu sai câu và không dịch được đã thôi thúc tôi thực hiện đề tài "Kinh nghiệm dạy từ vựng môn tiếng Anh 6" 2. Đối tượng - phương pháp nghiên cứu : - Học sinh lớp 6 Trường THCS Nguyễn Văn Tre - Phương pháp nghiên cứu tài liệu , dự giờ đồng nghiệp , kiểm tra , đối chiếu , so sánh kết quả của học sinh 3. Đề tài đưa ra giải pháp mới : - Trước khi đi vào những vấn đề cụ thể , chúng ta thống nhất với nhau rằng , phương pháp chủ đạo trong dạy học ngoại ngữ của chúng ta là lồng ghép , nghĩa là từ mới cần được dạy trong ngữ cảnh , ngữ cảnh có thể là một bài đọc , một đoạn hội thoại hay một bài khoá tuy nhiên , nói đến cùng thì việc dạy và học ngoại ngữ vẫn là việc dạy từ mới như thế nào ?, dạy cấu trúc câu mới như thế nào để học sinh biết cách sử dụng từ mới và cấu trúc mới trong giao tiếp bằng tiếng nước ngoài. Ngay từ đầu , giáo viên cần xem xét các thủ thuật khác nhau cho từng bước xử lý từ vựng trong các ngữ cảnh mới : gợi mở , dạy từ , kiểm tra và củng cố từ vựng. - Có nên dạy tất cả những từ mới không ? dạy bao nhiêu từ trong một tiết thì thừa ? - Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới. - Dùng tranh ảnh , dụng cụ trực quan để giới thiệu từ mới . - Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc , vận dụng từ vựng vào cấu trúc để hoàn thiện chức năng giao tiếp . Thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới và vốn từ đã có. - Khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và qua những bài tập thực hành. 4. Hiệu quả áp dụng: - Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn. - Học sinh đã thuộc các từ mới ngay tại lớp học. - Vốn từ vựng của các em tăng lên rõ rệt. - Các em học sinh yếu kém có thể sử dụng được từ vựng vào những câu đơn giản. Những học sinh khá có thể sử dụng từ vựng trong những câu phức tạp hơn. A. MÔÛ ÑAÀU I. Lý do chọn đề tài : Để nắm bắt các thông tin văn hoá - khoa học kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, thì điều quan trọng trước mắt là chúng ta phải học tiếng nước ngoài, phải học để hiểu và nói được một thứ tiếng phổ biến nhất thế giới đó là tiếng Anh . Là một giáo viên dạy bộ môn tiếng Anh , đào tạo những lớp người sau này có thể nắm bắt được những thông tin của nước ngoài áp dụng vào việc xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng giàu mạnh hơn . Giáo viên phải nhận thức rằng bộ môn tiếng Anh được coi là một công cụ để giao tiếp , đòi hỏi chúng ta phải có một số vốn từ, cho nên việc học từ vựng là một tất yếu không thể không kể đến trong việc học tiếng Anh . Ở trường trung học cơ sở giáo viên dạy học cho học sinh cùng với các môn khác trên cơ sở trang bị cho học sinh hệ thống những kỹ năng , kỹ xảo cần thiết, nhằm đào tạo đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có kỹ năng thực hành, năng động và sáng tạo .., việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng cho học sinh giáo viên không chỉ chú ý vào việc truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa, sử dụng các phương tiện dạy học mà phải quan tâm đến việc tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học , đề cao và phát huy tốt vai trò tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức bằng chính hoạt động của mình, nhưng đa phần học sinh không hiểu tầm quan trọng của từ vựng nên rất lười học hoặc chỉ học hoa loa rồi không sử dụng được nó, với lượng kiến thức mới mà nó khác xa với tiếng mẹ đẻ như thế thì học sinh rất sợ học. Do vậy người giáo viên phải làm gì để từ vựng không còn là ' nỗi khó khăn ' của học sinh, suy nghĩ làm tôi trăn trở mãi , với kinh nghiệm vài năm đứng lớp , gặp không biết bao nhiêu lần học sinh không thuộc từ vựng , viết sai , hiểu câu sai đãï thôi thúc tôi thực hiện đề tài " Kinh nghiệm dạy từ vựng môn Tiếng anh 6" 2. Đối tượng nghiên cứu : - Được phân công giảng dạy môn tiếng Anh , tôi chọn lớp 6A1,2 để nghiên cứu đề tài với mục tiêu cải tiến phương pháp dạy học tiếng Anh 6, nhằm phát triển vốn từ vựng cho học sinh và qua đó áp dụng vào thực tế nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy ở học sinh các khối. 3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này có thể áp dụng giảng dạy cho các học sinh khối 6, 7, 8, 9 ở trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Tre . 4. Phương pháp nghiên cứu : Tôi đã tìm tòi nghiên cứu các tài liệu, kết hợp dự giờ, thực nghiệm, kiểm tra đối chiếu các kết quả học tập của học sinh, hầu rút ra được phương pháp dạy tốt nhất cho các em. B. NOÄI DUNG 1. Cơ sở lý luận : Luật Giáo dục - 2005 (điều 5) quy định "phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên." Với mục tiêu giáo dục phổ thông là " Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc". Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: " Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh , phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh. 2. Cơ sở thực tiễn: - Bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ. Bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ, được sử dụng cho hoạt động giao tiếp. Do vậy, việc nắm vững số từ đã học để vận dụng là việc làm rất quan trọng. - Trong Tiếng anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ vựng. Thật vậy nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không nghe được và hệ quả của nó là không nói được, đọc không được và viết cũng không xong, cho dù các em có nắm vững mẫu câu. 3/. Nội dung vấn đề: a. Thực trạng: - Về sự phân bố tiết trong tuần, có khi một buổi các em phải học hai tiết tiếng Anh liên tiếp, phải tải một số lượng từ rất nhiều. Điều này chắc chắn sẽ gây tâm lý quá tải cho một số học sinh, gây ảnh hưởng rất nhiều đến tiết học sau. - Về phía học sinh, bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, có không ít học sinh chỉ học hoa loa, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không tập đọc, tập viết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều. Đến khi giáo viên yêu cầu các em sẽ không thành công. - Về phía học sinh, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở nhà. Bởi vì vậy là môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết. Đây cũng là vấn đề hết sức khó khăn trong quản lý việc học ở nhà của học sinh. - Ngoài ra, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm, học sinh thường học từ vựng bằng cách đọc từ bằng tiếng Anh và cố nhớ nghĩa bằng tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo viên, chứ chưa có ý thức tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có. Vì thế cho nên, các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác. Do vậy, nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ quên. Cho nên giáo viên cần chú ý đến tâm lý này của học sinh. b. Định hướng chung của đề tài: Sau khi phân tích những nguyên nhân làm cho học sinh sợ học tiếng Anh, thường xuyên không thuộc bài và việc dạy từ vựng ở trường phổ thông chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, tôi quyết định thử áp dụng một số kinh nghiệm dạy từ vựng của mình qua những năm đứng lớp và suốt những tiết học sau tôi áp dụng những kinh nghiệm của mình được trình bày sau đây, để cuối năm so sánh với kết quả ban đầu. 4. Quá trình thực hiện: a/. Lựa chọn từ để dạy: Tiếng Anh là một môn học có tầm quan trọng, nó là công cụ để giao tiếp với các nước trên thế giới. Muốn giao tiếp tốt chúng ta phải có vốn từ phong phú. Ở môi trường phổ thông hiện nay, khi nói đến ngữ liệu môi là chủ yếu nói đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng là ngữ pháp luôn có mối quan hệ khắng khích với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể. Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy. Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề: - Từ chủ động (active vocabulary) - Từ bị động (passive vocabulary) Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động. - Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là: + Form. + Meaning. + Use. Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ, mà còn biết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ. -Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ của học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là 6 từ. - Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau: + Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không ? + Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ? - Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của học sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh. - Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ của học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay. - Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó lắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán. b. Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới: giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới như: 1. Visual (nhìn): cho học sinh nhìn tranh ảnh, vẽ phác hoạ cho các em nhìn, giúp giáo viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chống. e.g. a car e.g. a flower 2. Mine (điệu bộ): Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ. e.g. hungry Teacher makes bored face T. asks, "How do I feel?" e.g. (to) swim T. swim T. asks, "What am l doing?" 3. Realia (vật thật): Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được. e.g. orange (count), milk (uncount.) T. brings real orange and milk into the class. T. asks, "What's this?" e.g. door T. shows the door T. says, "what's this?" 4. Situation / explanation: e.g. kitchen T. explains, "I usully havebreakfast, lunch and dinner there." T. asks, "Where is it? Tell me the word in Vietnamese." 5. Example e.g. food T. lists examples of food: " noodles, meet, vegetables- these are all ... food ... Give me another example of... food..." e.g. (to) stay T. says, "I live in Thanh My and I have a vacation in HCM city." T. asks, "Where am I in ?" 6. Synonyon antonyon (đồng nghĩa trái nghĩa): Giáo viên dùng những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. e.g. high T. asks, "What's another word for tall ?" e.g. thin T. asks, "What's the opposite of fat ? " 7. Translation (dịch): Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để giảng nghĩa từ trong tiếng Anh. Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách nào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giải quyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, Giáo viên gợi ý học sinh tự dịch từ đó. e.g. near T. asks, "How do you say "gần" in English?" 8. Teacher's eliciting questions : Để giới thiệu từ mới, giáo viên dạy cho học sinh theo bốn kỹ năng nghe - nói - đọc - viết. + Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe. + Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại. + Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằng miệng. + Viết: Học sinh viết từ vào tập. Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau: Nên giới thiệu từ trong mẫu câu, ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợp việc làm việc đó, bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ củ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục. Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách cho các em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quan sát được toàn bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao. Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế. 5. Biện pháp tổ chức thực hiện: a. Các bước tiến hành giới thiệu từ mới: Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theo trình tự: nghe, nói, đọc, viết. Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác "nghe". Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác. Hãy giúp cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất: - Bước 1: "nghe", bạn cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu. - Bước 2: "nói", sau khi học sinh đã nghe được ba lần bạn mới yêu cầu học sinh nhắc lại. Khi cho học sinh nhắc lại , bạn cần chú ý cho cả lớp nhắc lại trước, sau đó mới gọi cá nhân. - Bước 3: "đọc", bạn viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó để đọc. Cho học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một chừng mực mà bạn cho là đạt yêu cầu. - Bước 4: "viết", sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi bạn mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở. - Bước 5: bạn hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không và yêu cầu một học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt. - Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện âm tiết có trọng âm và đánh dấu. - Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mới học. b. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới: 1. Rub out and Remember (giải thích - ví dụ) 2. Slap the board (giải thích - ví dụ) 3. What and where (giải thích - ví dụ) 4. Matching (giải thích - ví dụ) 5. Bingo (giải thích - ví dụ) 6. Lisle order vocabulary (giải thích - ví dụ) 6. Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà: Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình. Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian còn lại ở gia đình các em phải tổ chức cho được hoạt động học tập của mình. Làm được điều đó, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ ngày càng hoàn thiện hơn. Cho nên ngay từ đầu từ năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xây dựng hoạt động học tập ở nhà. Chuẩn bị từ vựng: b. Học thuộc lòng từ vựng. - Hs chuẩn bị 1 quyển tập để học từ vựng bằng cách viết mỗi từ vựng mới từ 5- 10 lần theo từng đơn vị bài học (để giáo viên dễ kiểm tra) 7. Kết quả: a/. Đưa ra kết quả cụ thể. Lớp Tháng Giỏi Khá TB Yếu 6a 1 HK1 9 10 13 7 (39HS) THÁNG 1+2 9 11 15 3 THÁNG 3 10 11 16 2 HK2 6a 2 HK1 8 9 8 9 (34HS) THÁNG 1+2 10 9 10 5 THÁNG 3 12 10 10 3 HK2 b. Nhận xét đánh giá chung về ưu điểm và hạn chế của sáng kiến kinh nghiệm. * Ưu điểm: - Lớp học sinh động, mỗi tiết học đối với hs có sự thu hút khác nhau. - HS giỏi có cơ hội thể hiện khả năng sử dụng Tiếng Anh,hs kém có cơ hội luyện tập thêm . - HS đều được làm việc, không khí học tập thân thiện trong lớp. - Hiệu quả làm việc của HS cao, nhiều HS được thể hiện khả năng cá nhân và tinh thần giúp đỡ nhau. - HS không chỉ được học tập kiến thức, kỹ năng mà còn thu nhận được kết quả về cách làm việc hợp tác cùng nhau, học cách làm việc cùng nhau. * Hạn chế: - Tranh ảnh phục vụ cho giảng day thư viện quá ít, hoặc thiếu. Đa phần do gv tự sưu tầm hoặc tự làm. - Khả năng bao quát lớp của GV gặp khó khăn với lớp có đông HS. - Đa số hs sống ở nông thôn, vì thế không có môi trường nói thực hành Tiếng anh nên khả năng vận dụng kiến thức thực tế rất hạn chế. C. KẾT LUẬN Tôi thực hiện đề tài này chỉ là một phần trong tiết học, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng cho việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có trôi chảy, lưu loát hay không đều phải phụ thuộc vào việc học thuộc lòng từ vựng và phát âm có chuẩn hay không. Nhưng để thực hiện giảng dạy tốt một tiết từ vựng, không chỉ cần có sự đầu tư vào bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của học sinh. Do vậy tôi đã đưa ra một số yêu cầu đối với học sinh như: Chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học phải nghiêm túc. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Những vấn đề chung về đổi mới Giáo dục Trung học cơ sở môn tiếng Anh - Bộ Giáo dục và Đào tạo. ( Nhà xuất bản Giáo dục) 2. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học cơ sở ( Nhà xuất bản Giáo dục) 3. Teach English. 4. Chuẩn kiến thức. 5. Các thủ thuật dạy từ vựng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Luyện Ngữ Pháp Tiếng Anh Thông Qua Việc Tự Học Ở Nhà Và Thực Hành Cặp, Nhóm Ở Lớp trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!