Xu Hướng 1/2023 # Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học Học Phần 1 # Top 2 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học Học Phần 1 # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học Học Phần 1 được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

BÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC (Học phần 1) DÙNG CHO HỆ CĐ NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC



HỌ TÊN GV: Th.sĩ NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN BỘ MÔN: GIÁO DỤC TIỂU HỌC KHOA : SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

Quảng Ngãi tháng 10 năm 2014 Tài liệu lưu hành nội bộ 1

LỜI GIỚI THIỆU Để góp phần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng GV tiểu học và phục vụ tốt cho việc học tập, thi kết thúc học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, học phần 1 (gọi tắt: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1) của các sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, hệ CĐ và TCCN, hệ chính quy, chúng tôi tổ chức biên soạn học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1 đào tạo theo chương trình Cao đẳng Sư phạm và chương trình liên thông từ Trung học Sư phạm lên Cao đẳng Sư phạm, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, Phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục tiểu học theo yêu cầu mới. Để biên sọan tài liệu này, nhóm biên soạn đã dựa vào nội dung chương trình của Bộ và các giáo trình “PPDH Tiếng Việt” ở tiểu học dành cho sinh viên hệ CĐ, THSP của Bộ GD&ĐT cùng các giáo trình khác được lưu hành trong cả nước. Đặc biệt, trong lần biên soạn này, nhóm biên soạn có bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung trong tài liệu cho phù hợp với chương trình đào tạo tín chỉ mới và nội dung các giáo trình mới biên soạn. Điểm mới của tài liệu là viết theo thiết kế hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm tích cực hoá hoạt động của người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của người học, chú trọng sử dụng tích hợp nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau giúp người học dễ học, dễ hiểu, tạo hứng thú học tập. Lần đầu tiên tài liệu được biên soạn theo phương pháp mới, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, sinh viên Sư phạm và giáo viên tiểu học trong và ngoài tỉnh. Xin trân trọng cám ơn. Tác giả Th.sĩ Nguyễn Thị Hồng Liên

2

MỤC LỤC

Trang

LỜI GIỚI THIỆU

2

Học phần: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 1

3

PHẦN I: GIỚI THIỆU HỌC PHẦN

3

PHẦN II: MỤC TIÊU HỌC PHẦN

3

PHẦN III: KẾ HOẠCH DẠY HỌC

4

PHẦN IV: NỘI DUNG HỌC PHẦN

8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PPDH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC Bài 1: Đối tượng nhiệm vụ của môn phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 2: Các nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 3: Các phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 4: Môn Tiếng Việt ở tiểu học

Chương II: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC PHÂN MÔN Bài 1: Phương pháp dạy Học vần.

Bài 2: Phương pháp dạy Tập viết.

66

Bài 3: Phương pháp dạy Chính tả

79

Bài 4: Phương pháp dạy Tập đọc

89

Bài 5: Phương pháp dạy kể chuyện

115

Bài 6: Phương pháp dạy học Luyện từ và câu. Bài 7: Phương pháp dạy Tập làm văn

TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC Các từ viết tắt –

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia: NXB ĐHQG

Nhà xuất bản Giáo dục:

Tài liệu tham khảo, sách giáo khoa: TLTK, SGK

Sách giáo viên

Phương pháp dạy học:

PP, PPDH

Giáo viên:

GV

Học sinh:

HS

Tập làm văn:

TLV

Luyện từ và câu:

LT & C

NXB GD

: SGV

3

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC (Học phần 1) PHẦN I: GIỚI THIỆU HỌC PHẦN Học phần “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1” được biên soạn theo “Chương trình khung giáo dục đại học ngành Giáo dục tiểu trình độ cao đẳng” ban hành theo Quyết định số 39/2006/QĐ-BGDĐT ngày 2/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định số 627/QĐ-ĐHPVĐ ngày 10/9/2012 của Hiệu trưởng Trường ĐH PHẠM VĂN ĐỒNG. Chương trình học phần gồm hai chương: Chương 1 “Những vấn đề chung về PP dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” gồm: Bài 1: Đối tượng nhiệm vụ của môn phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 2: Các nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 3: Các phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 4: Môn Tiếng Việt ở tiểu học Chương 2 “Phương pháp dạy học các phân môn” gồm các bài: Bài 1: Phương pháp dạy Học vần. Bài 2: Phương pháp dạy Tập viết. Bài 3: Phương pháp dạy Chính tả Bài 4: Phương pháp dạy Tập đọc Bài 5: Phương pháp dạy kể chuyện Bài 6: Phương pháp dạy học Luyện từ và câu. Bài 7: Phương pháp dạy Tập làm văn PHẦN II: MỤC TIÊU HỌC PHẦN 1. Kiến thức: Sinh viên phải nắm được các hiểu biết về – Đối tượng, nhiệm vụ của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học – Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. – Đặc điểm HS tiểu học trong quá trình chiếm lĩnh Tiếng Việt ở trường tiểu học. – Mục tiêu, nội dung chương trình, nguyên tắc, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học. 2. Kĩ năng: Sinh viên có các kĩ năng – Kĩ năng tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học. 4

– Kĩ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu nội dung, chương trình, sách giáo khoa (SGK) dạy Tiếng Việt ở tiểu học. – Kĩ năng thiết kế bài Tiếng Việt, tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt – Kĩ năng phân tích đánh giá thực tế dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. 3. Thái độ – Bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm yêu quý tiếng mẹ đẻ. – Có ý thức rèn luyện năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh. – Yêu mến đồng cảm với học sinh tiểu học. PHẦN III: KẾ HOẠCH DẠY HỌC Học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1. 1. Số đơn vị học trình: 04 2. Trình độ sinh viên: Năm thứ II hệ CĐGD Tiểu học 3. Phân bố thời gian: – Số tiết lí thuyết:

45 (giảng dạy: 30; SV tự nghiên cứu: 15)

Bài 4: Môn Tiếng Việt ở tiểu học (1LT + 2XMN) 1. Mục tiêu và yêu cầu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học 2. Cấu tạo nội dung chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học 3. Sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học 4. Xêmina: ” Đặc điểm chương trình và SGK Tiếng Việt Tiểu học”. Chương II: Phương pháp dạy học các phân môn Tiếng Việt (35 tiết – 13) Bài 1: Phương pháp dạy học vần (6LT + 3TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của dạy học vần 2. Cơ sở khoa học của dạy học vần 3. Chương trình và SGK dạy học vần 4. Phương pháp dạy Học vần và cách tổ chức dạy các kiểu bài học vần. 5. Thực hành: a) Soạn giáo án các kiểu bài dạy học vần (bài tự chọn) b) Soạn 02 trò chơi áp dụng trong dạy học vần (thực hiện ngoài giờ lên lớp). c) Thực hành dạy học các bài dạy đã soạn. Bài 2: Phương pháp dạy tập viết (3LT + 1TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy tập viết. 2. Cơ sở khoa học của dạy tập viết. 3. Chương trình, vở tập viết. 4. Tổ chức dạy giờ tập viết 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy tập viết lớp 1, 2, 3 (tự chọn bài) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. Bài 3: Phương pháp dạy chính tả (3LT + 1TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy chính tả. 2. Cơ sở khoa học của dạy chính tả. 3. Chương trình, SGK chính tả. 4. Phương pháp dạy chính tả và cách tổ chức dạy giờ chính tả 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy chính tả lớp 1 dến lớp 5 (tự chọn bài) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. 7

Bài 4: Phương pháp dạy tập đọc (7LT + 2TH) 1. Vị trí, tính chất nhiệm vụ dạy tập đọc. 2. Cơ sở khoa học của dạy tập đọc. 3. Chương trình, SGK tập đọc ở tiểu học. 4. Phương pháp dạy tập đọc và cách tổ chức dạy giờ tập đọc 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy tập đọc lớp 1,2,3, 4,5 (tự chọn) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. Bài 5: Phương pháp dạy kể chuyện (3LT + 2TH) 1. Vị trí, tính chất nhiệm vụ dạy kể chuyện. 2. Cơ sở khoa học của dạy kể chuyện. 3. Chương trình, SGK kể chuện. 4. Phương pháp dạy kể chuyện, cách thức tổ chức dạy kể chuyện 5. Nội dung thực hành: a) Soạn giáo án dạy kể chuyện lớp 1, 2, 3, 4, 5 (tự chọn) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. Bài 6 : Phương pháp dạy học Luyện từ và Câu (6 LT + 2TH) 1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Luyện từ và Câu 2. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và Câu 3. Các nguyên tắc dạy học Luyện từ và Câu 4. Phương pháp dạy học Luyện từ và Câu và cách tổ chức dạy học LT và Câu 5. Thực hành: a) Xem băng ghi hình dạy học Luyện từ và câu lớp 2, 3, 4, 5. b) Thực hành soạn giáo án các bài dạy luyện từ và câu (tự chọn). c) Thực hành tập dạy các bài đã soạn. Bài 7: Phương pháp dạy tập làm văn (7 LT + 2TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy tập làm văn. 2. Cơ sở khoa học của dạy tập làm văn. 3. Chương trình, SGK. 4. Phương pháp dạy tập làm văn và cách tổ chức dạy giờ tập làm văn 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy tập viết lớp 2, 3, 4, 5 (tự chọn) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. PHẦN IV: NỘI DUNG HỌC PHẦN 8

9

Thứ hai, “phương pháp” được dùng với nghĩa là khoa học về phương pháp giảng dạy mà nhiều tài liệu gọi là “lí luận dạy học bộ môn; giáo học pháp bộ môn hoặc “phương pháp luận dạy học bộ môn”. Thứ ba, “phương pháp” được dùng với nghĩa hẹp hơn, chỉ cách thức tác động lẫn nhau giữa thầy và trò, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng đến đạt mục đích học tập. Ở đây chúng ta đang dùng thuật ngữ “phương pháp”với nghĩa thứ hai. Từ đó có thể hiểu phương pháp dạy học tiếng Việt như sau: Với tư cách là một khoa học, phương pháp dạy học Tiếng Việt được xem là một bộ phận của khoa học giáo dục (“khoa học sư phạm” hay “sư phạm học”) là một hệ thống lí thuyết dạy học Tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ và với tư cách là ngôn ngữ thứ hai để đảm bảo cho việc dạy học Tiếng Việt đạt kết quả tốt. Khi nói PPDH Tiếng Việt là một khoa học vì: – Có đối tượng riêng, nhiệm vụ nghiên cứu riêng – Có tiền đề lí thuyết và thực tiễn – Có các phương pháp nghiên cứu đặc thù Khi nói PPDH Tiếng Việt là một hệ thống cần chú ý: – PPDH Tiệt Việt là một thể thống nhất: hệ thống này có thể chứa nhiều bộ phận; Mỗi bộ phận lại có đặc trưng riêng nhưng chúng đều thống nhất ở những quy luật chung nhất. 2. Đối tượng của phương pháp dạy học Tiếng Việt Là hoạt động dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường. Hoạt động này được cấu thành từ ba bình diện: 2.1. Nội dung dạy học Tiếng Việt: Nội dung dạy học Tiếng Việt là những tri thức về hệ thống Tiếng Việt mà GV truyền tải đến học sinh. Thông qua đó mà hình thành ở học sinh những kĩ năng về sử dụng Tiếng Việt. Theo Chương trình Tiểu học 2006 (CTTH – 2006), nội dung dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học coi trọng việc dạy tri thức Tiếng Việt gắn với việc rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt giúp HS nhận diện, phát hiện, hoàn thiện các tri thức Tiếng Việt; tri thức Tiếng Việt góp phần ý thức hóa kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. 10

Để thực hiện yêu cầu này, chương trình quy định hai mức độ học tri thức Tiếng Việt. Ở lớp 1,2,3, tri thức Tiếng Việt không có tiết học riêng. Các đơn vị tri thức quy định cho 3 lớp học này giúp giáo viên có cơ sở lí luận để dạy các kĩ năng cho học sinh, chưa yêu cầu học sinh phải học thành bài các khái niệm, quy tắc. Ngược lại, ở các lớp 4, 5 tri thức Tiếng Việt được dạy thành tiết học riêng sắp xếp thành hệ thống (mặc dù chỉ là tri thức sơ giản) và vẫn gắn với việc luyện tập các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Nội dung dạy học còn chi phối cách tổ chức, PP và thủ pháp dạy học. 2.2. Hoạt động dạy của thầy giáo Theo quan điểm dạy học hiện đại, thầy giáo là người điều khiển hoạt động học, hoạt động nhận thức của HS, sử dụng các phương tiện dạy học để tổ chức cho HS tiếp cận với các nội dung dạy học, bằng cách đó mà HS được phát triển và hình thành nhân cách. Nói cách khác, GV là chủ thể của quá trình giảng dạy. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, các điều kiện thiết bị dạy học hiện đại hơn, thầy giáo càng có điều kiện tổ chức cho HS tiếp cận nội dung dạy học một cách hứng thú, có hiệu quả cao. Nghiên cứu hoạt động dạy của giáo viên phương pháp dạy học tiếng Việt phải trả lời được các câu hỏi : – Giáo viên lựa chọn những phương pháp nào ? Tại sao ? – Giáo viên tổ chức công việc của học sinh ra sao ? Giúp học sinh nắm tri thức như thế nào ? – Giáo viên kiểm tra việc nắm tri thức, kĩ năng của học sinh như thế nào ? 2.3. Hoạt động học tập của học sinh Theo quan điểm dạy học hiện đại, HS là chủ thể nhận thức, chủ động tiếp thu tri thức bằng việc phát huy vai trò tích cực của mình tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành và phát triển nhân cách dưới sự điều khiển sư phạm của GV. Vì vậy, trong dạy học, thầy giáo phải sử dụng các biện pháp và hình thức linh hoạt để có thể phát huy được hết tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập. Hoạt động học của HS bao gồm những hoạt động cụ thể: Hoạt động chuẩn bị cho giờ học, hoạt động trong giờ học, tự học ở nhà, hoạt động ngoại khoá,…. Hoạt động của HS được tiến hành dưới sự điều khiển của thầy. Hiệu quả hoạt động của trò 11

là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những phẩm chất đạo đức mà các em đạt được. Do đó, phương pháp dạy học Tiếng Việt không chỉ quan tâm đến hoạt động trực tiếp của HS mà còn lưu tâm đến kết quả của hoạt động đó. Nói cách khác là, Phương pháp dạy học Tiếng Việt cần phải nghiên cứu quá trình hoạt động học tập Tiếng Việt của học sinh và những kết quả thu được của quá trình này cũng như quy luật chi phối quá trình đó. Trên cơ sở đó, phương pháp dạy học Tiếng Việt mới có thể đúc kết thành lý thuyết và những chỉ dẫn đáng tin cậy. 3. Nhiệm vụ của phương pháp dạy học Tiếng Việt 3.1. Nhiệm vụ của PPDH Tiếng Việt với tư cách là một ngành khoa học 3.1.1. Xây dựng cơ sở phương pháp luận cho phương pháp dạy học Tiếng Việt. Xét trên bình diện lí luận dạy học, phương pháp dạy học Tiếng Việt là hệ thống những kiến thức về bản chất, cấu trúc, chức năng và quy luật cơ bản của sự chi phối sự vận hành của quá trình dạy học Tiếng Việt, nói cách khác, đó là học thuyết lí giải bản chất của quá trình dạy học Tiếng Việt. Ngoài ra , nó còn hệ thống những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng để chiếm lĩnh hệ thống kiến thức mới. Nhiệm vụ cụ thể của việc xây dựng cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy học Tiếng Việt bao gồm: a. Xác định đối tượng, vị trí của phương pháp dạy học Tiếng Việt trong hệ thống các khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục. b. Phát hiện ra bản chất của quá trình dạy học Tiếng Việt, cấu trúc chức năng, những quy luật chi phối sự vận hành của nó, từ đó đề ra những nguyên tắc cơ bản điều khiển tối ưu quá trình dạy học. Phương pháp dạy học Tiếng Việt không chỉ là cụ thể hoá những quan điểm giáo dục vào bộ môn cụ thể mà các tài liệu dạy học Tiếng Việt không thể tách rời lí luận dạy học, tâm lí học, ngôn ngữ học,… Các ngành này không thể thay thế cho phần cơ sở riêng của phương pháp. c. Xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống khái niệm chuyên biệt của phương pháp dạy học Tiếng Việt, góp phần làm giàu khái niệm lí luận dạy học. d. Xây dựng hệ thống PPNC khoa học riêng cho PPDH Tiếng Việt. Vận dụng những phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác vào lĩnh vực chuyên biệt của mình như thực nghiệm, thống kê, mô hình hoá,… 12

e. Xác lập các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các vấn đề cơ bản của phương pháp dạy học Tiếng Việt sao cho việc giải quyết chúng sẽ thúc đẩy sự phát triển của bản thân khoa học này. 3.1.2. Xây dựng lí thuyết về môn học Tiếng Việt trong nhà trường Phương pháp dạy học có nhiệm vụ trả các câu hỏi : a. Dạy học để làm gì? Trả lời câu hỏi này tức là đi nghiên cứu xác định hệ thống mục tiêu của môn Tiếng Việt trong trường học. PPDH Tiếng Việt phải xây dựng hệ thống tiêu chí nội dung và cách thức đánh giá kết quả dạy môn học mà sản phẩm của nó là “chuẩn trình độ tối thiểu môn Tiếng Việt”. b. Dạy học cái gì? Trả lời câu hỏi này tức là nghiên cứu việc xây dựng nội dung môn học Tiếng Việt trong nhà trường. Nội dung đó bao gồm : – Những tri thức về hệ thống và chuẩn Tiếng Việt văn hóa, về quá trình hoạt động giao tiếp. – Các kĩ năng hoạt động ngôn ngữ (kĩ năng tiếp nhận và sản sinh lời nói). Nội dung môn học Tiếng Việt phải thoả mãn ba yêu cầu sau: – Đáp ứng được yêu cầu của xã hội. – Phản ánh trung thành Việt ngữ hiện đại. – Phù hợp với đặc điểm tâm lí lĩnh hội của HS. c. Nghiên cứu những quy luật mối quan hệ giữa các kiến thức trong nội bộ môn Tiếng Việt. Ví dụ mối quan hệ giữa đọc, viết trong dạy học vần với tập đọc, chính tả… d. Nghiên cứu quy luật mối quan hệ liên môn. Ví dụ mối quan hệ giữa dạy văn với dạy tiếng với dạy tự nhiên, xã hội,… e. Nghiên cứu những lĩnh vực cụ thể khác của nội dung dạy học Tiếng Việt như: thực hành nghe, đọc, nói, viết; bài tập Tiếng Việt; giáo dục tư tưởng tình cảm trong giờ học Tiếng Việt. 3.1.3. Xây dựng lí thuyết về phương pháp dạy học môn học Tiếng Việt Phương pháp dạy học có nhiệm vụ trả các câu hỏi: a. Dạy học như thế nào ? Trả lời câu hỏi này tức là: – Xác định cách thức hoạt động cụ thể trong quá trình dạy học của thầy và trò. 13

của việc dạy học tiếng trong nhà trường. Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt, cả dạy đọc, viết, cả nghiên cứu ngữ pháp, từ ngữ… phải đi theo khuynh hướng này. – HS phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy luật cũng như hoạt động hành chức của nó. HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình mà còn cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, dễ hiểu. – Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt. + Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (C.Mác). Từ đây ta rút ra những kết luận có tính chất PP: – Kiến thức, kĩ xảo ngôn ngữ phải được xem xét như là những yếu tố của phát triển tư duy, các hệ thống dạy học Tiếng Việt cần bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói và tư duy. – Phải thường xuyên luyện tập cho HS khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau. Lời nói cần có nội dung, đó chính là tư duy. Trong dạy tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ, ví dụ từ một ý viết thành những câu khác nhau. + Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng: Con đường biện chứng của nhận thức chân lí đi qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, đồng thời cũng chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của nhận thức, cũng là tiêu chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng của nhận thức. Đây là cơ sở của nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng và cũng là cơ sở để đề cao nguyên tắc phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của HS trong quá trình dạy học Tiếng Việt. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường trong dạy tiếng là phát triển những khả năng nhận thức cảm tính của trẻ em. Dạy tiếng phải dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói của HS. Những quan sát và ấn tượng sống của trẻ em phải là cơ sở cho bài học Tiếng Việt. b.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ, của Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và PP dạy học Tiếng Việt. Ví dụ, từ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, dạy tiếng phải làm cho HS nắm được giá trị của từng 15

Quan hệ của Phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp dạy học tiếng được một hệ thống lí luận giáo dục tạo ra và làm cơ sở. Phương pháp dạy học Tiếng Việt hoàn toàn sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của giáo dục học. Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do giáo dục học đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho HS, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động. Trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học… Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này tuỳ theo những đặc trưng riêng của mình. Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành trong PPDH Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩa bằng lời nói, viết, cùng với việc thường xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết vào giải bài tập. Nhiệm vụ phát triển lời nói đã quy định việc xây dựng chương trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục đích phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ tiếng Việt không chỉ là việc chỉ sử dụng sơ đồ, bảng biểu, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là “trực quan lời nói”, bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào bài khóa trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp. Tài liệu trực quan cơ bản trong giờ học Tiếng Việt là Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt trong những mẫu tốt nhất của nó: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới. Phương pháp dạy học Tiếng Việt chọn ở giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học như bài học và các hình thức khác. Các phương pháp dạy học cơ bản – phương pháp bằng lời, phương pháp bài tập, phương pháp dạy học nêu vấn đề… đều có mặt trong giờ Tiếng Việt. b.1.4. Cơ sở Tâm lí học và Tâm lí ngôn ngữ học Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lí người nói chung và 17

tâm lí trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS. PPDH Tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả của Tâm lí học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Thầy giáo cần biết, sản phẩm lời nói được sản sinh ra như thế nào, quá trình học được thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành ở trẻ em ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy ra sao, kĩ năng nói, viết được hình thành như thế nào…? Tâm lí học đưa ra cho phương pháp những số liệu cụ thể về quá trình nắm lời nói, về việc nắm ngữ pháp. Những nghiên cứu tâm lí học cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập. Mặt khác, Tâm lí ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người. b.2. Cơ sở thực tiễn chính là tình hình dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học. 3.2. Nhiệm vụ của bộ môn PPDH Tiếng Việt trong trường sư phạm 3.2.1. Cung cấp những kiến thức cơ bản về dạy học môn Tiếng Việt cho SV như: a. Kiến thức đại cương về phương pháp dạy học Tiếng Việt: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của phương pháp dạy học Tiếng Việt và quan hệ của nó với các ngành khoa học khác. b. Những kiến thức cụ thể về lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị và tiến hành dạy từng bài học trên lớp. 3.2.2. Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo về dạy học môn Tiếng Việt cho sinh viên: a. Kĩ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu chương trình, SGK và các tài liệu dạy Tiếng Việt ở tiểu học. b. Kĩ năng tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của HS tiểu học. c. Kĩ năng lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy. d. Kĩ năng tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt. e. Kĩ năng kiểm tra, đánh giá HS. g. Kĩ năng tổ chức các hoạt động ngoại khoá, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS kém; công tác chủ nhiệm, công tác Đội,… 18

1.3. Các nguyên tắc dạy Tiếng Việt ở tiểu học 1.3.1. Nguyên tắc phát triển tư duy (Rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy) Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có mối liên hệ mật thiết, có sự tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiền đề và là điều kiện để tư duy phát triển và ngược lại. Mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy Tiếng Việt cho HS Tiểu học. Mục tiêu đầu tiên của việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học là góp phần hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, phát triển tư duy cho HS. Điều này được thực hiện thông qua quá trình dạy học Tiếng Việt, quá trình HS từng bước chiếm lĩnh Tiếng Việt văn hoá. Nói cách khác, cùng với quá trình dạy học Tiếng Việt, đồng thời ở HS cũng hình thành và phát triển các thao tác tư duy, các phẩm chất tư duy. Để phát triển tư duy gắn liền với phát triển ngôn ngữ cho học sinh, trong dạy học Tiếng Việt, người giáo viên cần chú ý các yêu cầu cụ thể: – Trong mọi giờ học đều phải chú ý rèn các thao tác tư duy. Đó là các thao tác phân tích, so sánh, khái quát, tổng hợp… Đồng thời phải chú ý rèn luyện cho các em phẩm chất tư duy nhanh, chính xác và tích cực… – Phải làm cho HS thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ. – Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói và viết trong môi trường giao tiếp cụ thể và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ. 1.3.2. Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói) Hướng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc đặc trưng của việc dạy học Tiếng Việt. Để hình thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ, học sinh phải được hoạt động trong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc biệt là môi trường văn hoá ứng xử. Chỉ có trong các môi trường giao tiếp, môi trường văn hoá ứng xử, học sinh mới hiểu lời nói của người khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo để người khác hiểu được tư tưởng và tình cảm của các em. Bởi lẽ, ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với văn hóa của một dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử. Thông qua các bài tập thực hành đơn 20

Giáo Trình Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt 3 Ở Tiểu Học

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC – MẦM NON ========= o0o ========

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ) PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 3 Ở TIỂU HỌC (Dành cho Đại học hệ chính quy)

Tác giả: Nguyễn Thị Nga

Năm 2017 Chuyên đề 1: BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT………………………………………… 4

MỤC LỤC I. VÀI NÉT CHUNG VỀ HỌC SINH GIỎI VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT …………………………………………………………………………………… 4 1. Quan niệm về học sinh giỏi Tiếng Việt…………………………………………………… 4 2. Vị trí, ý nghĩa của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt…………………. 4 3. Nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt ………………………………….. 5 II. TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT …………………. 6 1. Phát hiện học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn Tiếng Việt ………. 6 2. Bồi dưỡng hứng thú học tập………………………………………………………………….. 7 3. Bồi dưỡng vốn sống…………………………………………………………………………… 10 4. Bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh……………………………………………….. 12 5. Bồi dưỡng cảm thụ văn học ………………………………………………………………… 16 6. Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng về từ và câu ………………………………………… 22 7. Bồi dưỡng làm văn ……………………………………………………………………………. 34 CHUYÊN ĐỀ 2: HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN TIẾNG VIỆT ………………………………………………………………………………………………………… 38 1.1. Vị trí mục đích: …………………………………………………………………………………. 38 1.2. Nhiệm vụ …………………………………………………………………………………………. 38

2

LỜI NÓI ĐẦU Bài giảng Phương pháp dạy học Tiếng Việt 3 ở tiểu học dùng để đào tạo sinh viên theo chương trình Đại học Tiểu học hệ chính quy. Bài giảng thiết kế theo định hướng tăng thực hành, giảm lý thuyết. Bài giảng gồm các vấn đề cốt lõi về Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt, Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Bài giảng nhằm giúp cho sinh viên cơ sở khoa học để rèn luyện, nâng cao năng lực nghề nghiệp, chuyên môn. Bài giảng 2 chuyên đề: Chuyên đề 1: Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt Chuyên đề 2: Hoạt động ngoại khóa trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Tài liệu thiết kế theo chương trình chi tiết học phần, nhằm giúp sinh viên tích cực hoá hoạt động, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề. Trên cơ sở bài giảng, Giảng viên hướng dẫn sinh viên tự giám sát và đánh giá kết quả học tập. Cũng từ đó có thể sử dụng tích hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học và sử dụng các phương tiện dạy học khác nhau (tài liệu in, băng hình…) giúp người học dễ nắm bắt tri thức và tạo được hứng thú học tập. Tài liệu được biên soạn mới, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, sinh viên và giáo viên tiểu học trong tỉnh Quảng Bình. Xin trân trọng cảm ơn.

3

Chuyên đề 1: BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT I. VÀI NÉT CHUNG VỀ HỌC SINH GIỎI VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT 1. Quan niệm về học sinh giỏi Tiếng Việt Thế nào là học sinh giỏi Tiếng Việt ? HSG môn Tiếng Việt ở Tiểu học (bao gồm cả TV và Văn học) trước hết phải là những học sinh có niềm say mê, yêu thích văn chương và Tiếng Việt. Sự say mê ấy phải được biểu hiện thường xuyên, liên tục và bằng ý thức tự giác trong học tập, như soạn bài cẩn thận chu đáo, luôn chủ động tiếp thu kiến thức trong giờ học, đặc biệt phải thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong các bài làm văn theo quy định của chương trình và những bài luyện tập, thực hành rèn luyện kỹ năng mà giáo viên hướng dẫn. Sự say mê sẽ giúp các em chịu khó tìm tài liệu để mở mang kiến thức. Và quan trọng hơn là nó giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sự liên tưởng để sống sâu sắc hơn với những cái mình đã đọc, đã học. HSG Tiếng Việt là những học sinh có những tư chất bẩm sinh, như tiếp thu nhanh, có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới trong bài làm). HSG Tiếng Việt phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc nhiều thơ văn trong và ngoài chương trình qua sự tìm đọc, tích luỹ; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về con người và xã hội. Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường khó giấu của HSG là rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước cuộc sống. Biểu hiện thường thấy ở những học sinh này là dễ vui nhưng cũng rất dễ buồn trước những vấn đề đặt ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng của giáo viên. Thường thì đây là những học sinh sống rất tình cảm, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi người, hay bộc lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm của mình thông qua cách phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp qua các bài viết. Sự nhạy cảm ở các em luôn gắn liền sự thông minh và theo tôi thì sự thông minh của HSG là sự thông minh của cả khối óc lẫn con tim. HSG thường là những học sinh có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào, biết sử dụng chính xác chúng trong những trường hợp khác nhau. Thường những em HSG đều có khả năng diễn đạt mượt mà, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, diễn đạt hàm súc và có bản sắc riêng. Năng khiếu ở ở học sinh thường đi kèm với các biểu hiện bên ngoài như ánh mắt sáng, cách nói lưu loát, gãy gọn bởi ngôn ngữ diễn đạt là cái vỏ của tư duy. Một học sinh hay nói lay, nói lặp, nói dài dòng mà lượng thông tin ít, khả năng lựa chọn ngôn ngữ trong diễn đạt hạn chế … quyết không thể là một học sinh có tư duy trong sáng và có năng khiếu học văn. HSG thường là những học sinh nắm chắc các kỹ năng làm bài Tập làm văn, viết văn có hình ảnh, giàu cảm xúc, biết sử dụng thành thạo các kiểu câu, dung từ chính xác, … 2. Vị trí, ý nghĩa của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt – Có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc góp phần “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Góp phần cụ thể hóa một trong những chiến lược quan trọng mà Đảng đã vạch ra cho Giáo dục – đào tạo.

4

Góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Cha ông ta từng khẳng định: Nhân tài là nguyên khí quốc gia. “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” là một trong những chiến lược quan trọng mà Đảng đã vạch ra cho Giáo dục – đào tạo. Nhà trường của chúng ta hướng đến phát triển tối đa những năng lực tiềm ẩn trong mỗi học sinh. Việt Nam có rất nhiều thần đồng như: Trần Đăng Khoa 8 tuổi làm thơ, có em chưa học chữ nào mà làm toán rất giỏi….Các kết quả nghiên cứu cho thấy số học sinh được xem là phát triển (có năng lực nhận thức, tư duy, vốn sống… nổi trội hơn các em khác) chiếm từ 5 – 10% trong tổng số học sinh đến trường. – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt để hình thành và phát huy những tố chất, có tác động tích cực đến tất cả các hoạt động học tập, giúp các em học tốt hơn. Nó mở rộng tâm hồn, tác động tích cực đến trí tuệ, nhân cách, bồi dưỡng tình yêu, niềm say mê, hứng thú, ý thức trách nhiệm của con người công dân. Vì vậy, mọi người cần quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ khi trẻ còn nhỏ tuổi. Bộ Giáo dục – đào tạo đã chú ý bồi dưỡng cho trẻ bằng việc xuất bản thêm bộ cách Tiếng Việt nâng cao và tổ chức những kì thi học sinh giỏi từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia. Các Sở Giáo dục và Đào tạo đều có các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt nói riêng. Ở trường Tiểu học, việc chăm lo phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước được xem là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng – Giúp học sinh củng cố tri thức Tiếng Việt đã học và đào sâu mở rộng thêm kiến thức mới. – Giáo dục giáo dưỡng học sinh giúp các em phát triển và hoàn thiện dần nhân cách con người qua nội dung bài học. – Góp phần tăng cường và phát triển tư duy, cảm xúc, tình cảm… – Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tổ chức thi và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt còn có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua học tốt, dạy tốt. Nó có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên. Để có thể dạy học sinh giỏi, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự trau dồi kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực Sư phạm, bồi dưỡng lòng yêu nghề, tinh thần tận tâm với công việc. – Bồi dưỡng học sinh giỏi có ý nghĩa lớn trong việc tạo ra thương hiệu, danh dự cho đơn vị, trường, sở, ngành giáo dục của cả quốc gia. Tuy nhiên thực tế của việc giải quyết mối quan hệ giữa giáo dục toàn diện và bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều lúng túng. Đặc biệt việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt càng gặp nhiều khó khăn. Số học sinh có hứng thú môn Tiếng Việt ít hơn môn Toán. Tâm lý phụ huynh học sinh cũng không thích cho con được bồi dưỡng thêm về Tiếng Việt. Về phía giáo viên, kiến thức Tiếng Việt, khả năng tư duy nghệ thuật còn nhiều hạn chế. Số giáo viên có kinh nghiệm bồi dưỡng văn chương. Bài văn phục thuộc rất nhiều vào cá nhân học sinh, vào quá trình bồi dưỡng, tích luỹ lâu dài và khả năng cảm thụ tác phẩm của học sinh. Việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt cũng tiến hành chưa thực sự có phương hướng cụ thể. Hy vọng đặt ra vấn đề này để chúng ta có định hướng cơ bản trong bồi dưỡng học sinh giỏi bậc Tiểu học. 3. Nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt

5

Mục tiêu chính của việc làm này là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó, việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt đặt cho mình những nhiệm vụ sau: 1. Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn Tiếng Việt. 2. Bồi dưỡng hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh. 3. Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh. 4. Bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh 5. Bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh ở Tiểu học. 6. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh. II. TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG VIỆT 1. Phát hiện học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn Tiếng Việt – Quan sát biểu hiện của học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn Tiếng Việt. + Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ, yêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện. Các em luôn có ý thức khám phá trước vẻ đẹp của ngôn từ, văn chương, cố gắng ghi nhớ và ghi chép những câu văn, thơ hay. + Các em có những phẩm chất tư duy cần cho sự phát triển năng lực Tiếng Việt và Văn học. Đây là những phẩm chất tư duy có tính thống nhất nhưng không đồng nhất: tư duy phân loại, phân tích, trừu tượng hoá, khái quát hoá,… rất cần có để học tốt các môn tự nhiên và có tác dụng tích cực trong môn Tiếng Việt. Đặc biệt học sinh cần có tư duy hình tượng, cụ thể cảm tính và nhạy cảm để học giỏi văn. – Điều tra khảo sát để phát hiện những học sinh có năng lực Tiếng Việt và Văn học cần có sự tìm hiểu về hứng thú khả năng tư duy và ngôn ngữ của các em. + Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và bản thân học sinh: nơi sống, quan hệ trong gia đình, nghề nghiệp bố mẹ, mức sống chung của gia đình. Học sinh: sức khỏe, học tập, lao động, vốn sống, vốn đọc, hứng thú như thế nào. + Tìm hiểu thông qua phụ huynh và phỏng vấn trực tiếp các em. Khi trẻ đi học, người giáo viên có nhiệm vụ theo dõi nắm bắt quá trình học tập, phát hiện được biểu hiện đáng chú ý về năng lực Tiếng Việt – Văn học, tìm hiểu hứng thú của các em qua số lượng sách đang đọc, nội dung của chúng… – Thử thách năng lực Tiếng Việt và Văn học của học sinh. Chúng ta nên đưa ra hệ thống câu hỏi, bài tập từ ngữ, ngữ pháp cho các em làm, đưa những tác phẩm văn thơ cho các em đọc. * Bài tập các loại, kiểm tra lý thuyết về từ, vốn từ, các kiến thức ngữ pháp. Các bài tập cần ra dưới dạng cho các em sửa sai hay đặt câu theo cấu trúc nào đó hoặc phân tích cấu trúc câu. * Yêu cầu học sinh viết đoạn văn ngắn miêu tả hay kể chuyện để kiểm tra khả năng tưởng tượng, cảm xúc và năng lực diễn đạt của các em. Cần chọn những bài tập ngoài chương trình, nếu sử dụng các bài tập trong sách bài tập nâng cao cũng cần biên soạn lại để tính khách quan của phép đo được đảm bảo.

6

7

8

9

– Khâu kiểm tra đánh giá. Đúng, khoa học, khách quan công bằng, biết động viên khích lệ dù chỉ thành quả nhỏ nhoi. Chỉ khi đạt được những thành quả, có được niềm tự hào về kết quả đó, cảm giác xúc động, tự hào chính là gốc của mọi hứng thú (ham học hỏi, ham hiểu biết, khám phá…) ở học sinh. Thực hành: – Soạn giáo án trong đó thể hiện việc bồi dưỡng hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh qua bài dạy cụ thể (Tự chọn bài dạy). – Tập giảng trên giáo án đã soạn. 3. Bồi dưỡng vốn sống 3.1. Vốn sống là gì? Là những trải nghiệm trong đời sống hàng ngày mà con người thu lượm được để tích lũy để vận dụng vào quá trình sống. 3.2. Ý nghĩa của bồi dưỡng vốn sống học sinh giỏi Vốn sống có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. – Hỗ trợ mở rộng thêm kiến thức sách vở, tăng cường thêm kiến thức đời sống – Tác động tích cực đến quá trình học tập, tạo sự nhanh nhẹn linh hoạt, tự tin cho học sinh, tiền đề cho học sinh học tốt. Tác động tích cực lên quá trình học tập của học sinh, Giúp học sinh có được trải nghiệm cuộc đời. Nhờ có vốn sống mà học sinh được tác động lên năng lực nhận thức – nhận thức được hiện thực khách quan, rồi tái tạo và khêu gợi được ý tưởng, giúp liên tưởng, tưởng tượng, sáng tạo để học tập, giao tiếp và sống tốt. – Góp phần nâng cao năng lực tư duy, kỹ năng giao tiếp tốt, giúp góp phần cảm thụ văn học tốt, mở rộng được vốn từ phát triển ngôn ngữ. – Góp phần giáo dục đạo đức, bồi dưỡng nhân cách. 3.3. Hướng bồi dưỡng vốn sống cho học sinh – Dạy tốt các môn trong chương trình để giúp HS nắm chắc kiến thức để bồi dưỡng vốn sống. Mỗi nội dung là một thông điệp cuộc sống, tăng cường liên hệ thực tế, cập nhật tri thức mới, thông tin thời sự….. + Đổi mới hình thức tổ chức dạy học vừa tạo hứng thú tăng cường thêm vốn sống cho học sinh. – Tăng cường cho học sinh được trải nghiệm cuộc sống (Tổ chức các hoạt động ngoài giờ, các cuộc thi….) + Tác động đến phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho các em được tham gia và trải nghiệm. Trước hết trách nhiệm thuộc về các cấp lãnh đạo, các cơ sở đào tạo (hiệu trưởng hiệu phó, trưởng bộ môn, bản thân của mỗi người) tự nhận thức đúng đắn. + Tự học hỏi, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhận thức tư tưởng. + Nhờ các bậc phụ huynh + Hiện nay, nhiều giáo viên khi dạy làm văn nói chung và bồi dưỡng làm văn cho học sinh giỏi nói riêng thường thiên về dạy các kĩ thuật làm bài mà không cung cấp các chất liệu sống cái tạo nên nội dung bài viết. Thường giáo viên ra một đề văn mẫu, xào xáo lại, thậm chí có nhiều em bê y nguyên bài của người khác vào bài làm của mình. Em mà xào xáo khéo nghĩa là không “Râu ông nọ chắp cằm bà kia” thì được xem là viết văn khá, nghĩa là giỏi chép văn. Khi thấy một em học sinh ngồi trước một đề văn hàng 15 – 20 phút chưa viết

10

11

những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển. Sách sẽ giúp học sinh có vốn sống, tầm nhìn, hiểu biết rộng hơn, giúp các em có khả năng phát triển sức sáng tạo… + Giáo viên cần định hướng cho học sinh lựa chọn sách báo để đọc. Đọc nhiều không có nghĩa là đọc một cách không chọn lọc. Cần chọn những sách như thế nào? Sách báo phải đạt những tiêu chuẩn về cả nội dung tư tưởng và nghệ thuật, đồng thời đó phải là những quyển sách phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ hiểu biết của học sinh, đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của các em. Đó có thể là truyện tranh, tác phẩm văn học dân gian, những tác phẩm viết về thiếu nhi, tác phẩm lịch sử, danh nhân, khoa học, v.v… Giáo viên cần giáo dục thái độ đọc theo các em: kiên trì, chịu khó, không chỉ đọc để giải trí, mà phải đọc có suy nghĩ, liên hệ, rút ra những bài học bổ ích. Cần hướng dẫn các em phương pháp đọc sách phương pháp làm việc với văn bản, với sách. Đầu tiên cầm tìm hiểu sơ bộ từng cuốn sách để định hướng cho việc đọc: sách viết về cái gì, nhằm đạt mục đích gì. Có thể lướt qua bằng cách đọc lời giới thiệu, lời tóm tắt, xem chương mục. Nhưng có những cuốn sách cần đọc kĩ, đọc chậm có suy nghĩ, ghi chép, thu hoạch về nội dung, nghệ thuật, về những điểm nổi bật, gây ấn tượng còn đọng lại trong tâm trí mình. Với những cuốn sách tham khảo bắt buộc, giáo viên nên định hướng trước khi đọc bằng những câu hỏi nêu vấn đề gợi mở để học sinh suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của sách. Đọc và ghi chép sẽ giúp cho học sinh nhớ được lâu bền hơn và làm cho các em kịp thời thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ của mình. – Giúp học sinh biết cách ghi chép trong sổ tay văn học Ghi chép về nhà thơ và nghệ thuật của mỗi cuốn sách sau khi đã đọc. Có thể chia sổ ra từng phần để ghi chép tiện cho tra cứu, những từ ngữ, câu văn hay, cách miêu tả đồ vật, loài vật, cây cối, phong cảnh, người, cảnh sinh hoạt. Học sinh cần biết cách tóm tắt truyện, nhận xét về nhân vật, kết cấu, v.v… Sau khi học sinh đọc xong, giáo viên nên tổ chức trao đổi về cuốn sách đã đọc. 3.4.Thực hành: – Soạn giáo án trong đó thể hiện ý đồ việc bồi dưỡng vốn sống cho học sinh qua bài dạy. – Tập giảng trên giáo án đã soạn. 4. Bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh 4.1. Thế nào là tư duy? Năng lực tư duy là điều kiện cần và đủ để khám phá và lĩnh hội tri thức. Tư duy có tư duy lôgich (tư duy khoa học) và tư duy hình tượng (tư duy nghệ thuật). Nếu dạy học văn lại chú trọng bồi dưỡng năng lực tư duy hình tượng thì dạy học Tiếng Việt vừa bồi dưỡng năng lực tư duy lôgich lẫn cả bồi dưỡng năng lực tư duy hình tượng. Năng lực tư duy là điều kiện cần và đủ để khám phá và lĩnh hội tri thức. + Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa. Hà Nội. 2005); Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – Bộ não người – Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận .v.v…

12

+ Theo một định nghĩa khác, “tư duy” là danh từ triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Cơ chế hoạt động cơ sở của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định. Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý. Hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp. Nhưng tư duy với tư cách là hoạt động tâm lý bậc cao nhất thì chỉ có ở con người và là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con nguời. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, lao động là một trong các yếu tố quyết định để chuyển hóa vượn có dạng người thành con người. Từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó bằng bản năng thứ hai là tư duy với năng lực trừu tượng hóa ngày càng sâu sắc đến mức nhận thức đuợc bản chất của hiện tượng, quy luật của tự nhiên và nhận thức đựoc chính bản thân mình. (nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_duy). 4.2. Ý nghĩa của bồi dưỡng tư duy – Có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bồi dưỡng tư duy cho học sinh có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề để phát triển tư duy. Phát triển tư duy để phát triển kiến thức, kĩ xảo ngôn ngữ, các hệ thống dạy học Tiếng Việt cần bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói và tư duy. Phải thường xuyên luyện tập cho học sinh khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau. Lời nói cần có nội dung, đó chính là tư duy. Trong dạy tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ, ví dụ từ một ý viết thành những câu khác nhau. Phương pháp dạy học không dựa vào sự phát triển tương hỗ giữa lời nói và tư duy là phương pháp sai lầm về phương diện triết học của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Phát triển ngôn ngữ cho hs. – Trong cuộc sống, ngày nay, khi nền kinh tế tri thức tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì việc rèn luyện tư duy của mỗi người lại càng hết sức cần thiết. Trong nền kinh tế đầy cạnh tranh đó, tri thức trở thành quyền lực, trở thành chìa khoá mở cửa tương lai. Chỉ khi chất xám của tư duy có trong các sản phẩm thì thành phẩm đó mới có thể đứng vững trên thị trường hiện đại. Không có những năng lực, phẩm chất của tư duy, con người không có khả năng nắm bắt tri thức, lĩnh hội tri thức và cũng không có khả năng vận dụng tri thức. – Trong học tập, Quá trình chiếm lĩnh Tiếng Việt văn hoá ở các em học sinh là quá trình dần dần thông hiểu cấu trúc Tiếng Việt, quy luật hoạt động của nó và trên cơ sở đó mà hình thành các kĩ năng và kĩ xảo lời nói. Song song với quá trình này, đồng thời cũng xảy ra

13

quá trình hình thành và phát triển các thao tác tư duy, các phẩm chất tư duy, vì có ngôn ngữ mới có “cái vỏ vật chất” của tư duy. Cái vỏ vật chất này có phát triển phong phú thì tư duy cũng mới phát triển phong phú theo được. Thực tiễn giảng dạy đã chứng minh rằng học sinh nào yếu về tư duy đồng thời cũng yếu về ngôn ngữ, và ngược lại, em nào yếu về ngôn ngữ thì cũng yếu về năng lực tư duy. Ngay đối với một học sinh cũng vậy, nếu em đó am hiểu và nắm vững nội dung vấn đề cần trình bày (có tư duy trước) thì sẽ viết và nói lưu loát. Ngược lại, em sẽ diễn đạt lúng túng, mắc nhiều sai sót nếu như chưa nắm được, chưa thật am hiểu vấn đề được trình bày (chưa tư duy). – Có tư duy thì sẽ giúp cho con người nhận thức được bao nhiêu vấn đề trong cuộc sống. Tư duy góp phần phát huy nội lực, tăng cường tự giác, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo – Các thao tác và phẩm chất tư duy có tác dụng rõ rệt trong giờ dạy và học tiếng. Nếu học sinh thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ thì sẽ trình bày các vấn đề đặt ra một cách dễ dàng. Hiểu được tiếng, từ, câu tức là tư duy tốt thì sẽ thấy được vai trò của nó, giá trị của nó trong hệ thống Tiếng Việt để giao tiếp. 4.3. Hướng bồi dưỡng tư duy cho học sinh – Tạo tình huống giúp hs tăng các hoạt động giao tiếp (trong sinh hoạt, các hoạt động khác)để bồi dưỡng tư duy Có những đứa trẻ ngay từ những ngày đầu tiên đến trường đã có những nhận xét về ngôn ngữ “Người ta nói mặc áo mà không nói mặc tất, mẹ nhỉ?”, “Nói ăn cơm vã là sai phải không mẹ?”, “Cô con hay nói “coi như là”, “Bạn Hùng không nói cháu ăn no rồi mà nói cháu ăn lo rồi mẹ ạ”, “Mẹ đừng nói giọng như thế (lên giọng khi gắt, mắng) con không thích đâu”. Ở lớp Một, một số em đã phát hiện ra âm a ngắn; ơ ngắn. Nhiều em đã biết sử dụng hàm ngôn trong giao tiếp. + Có khả năng tư duy nghệ thuật cũng có nghĩa là khi tiếp nhận văn chương phải biết tiếp nhận khác so với logic thông tục của đời thường. Đó là khả năng nghe được, đọc được những gì ẩn dưới những chuỗi âm thanh, ẩn dưới các dòng chữ. Ví dụ, những em học sinh có năng lực tư duy nghệ thuật khi đọc hai câu thơ “Con xót lòng mẹ hái trái bưởi đào, con nhạt miệng có canh chua nấu khế” (Mẹ – Bằng Việt, Tiếng Việt 4, tập 2) sẽ hiểu được rằng hai câu thơ này đã nói một cách vừa hình ảnh, cụ thể, vừa khái quát một điều: Mẹ lúc này cũng sẵn sàng chăm sóc con, lo lắng cho con, sẵn sàng làm tất cả những gì mà con cần. Trong khi đó, một số em học sinh khác không có khả năng tư duy nghệ thuật, chỉ biết hiểu “thật thà” hiển ngôn, theo lối đời thường, không hiểu được nội dung hai câu thơ này lại thắc mắc: Tại sao xót lòng lại cho ăn bưởi? Như thế thì mẹ chỉ làm cho con xót lòng thêm. Từ đó ta thấy có khả năng tư duy nghệ thuật là có khả năng tiếp nhận vẻ đẹp của ngôn từ, cách nói của văn chương, biết phát hiện những tín hiệu nghệ thuật ngôn từ và đánh giá được chúng trong việc biểu đạt nội dung. Năng lực Tiếng Việt được thể hiện rõ ở khả năng sử dụng ngôn ngữ. Trước hết đó là khả năng sử dụng nhiều tính từ, từ láy, từ tượng thanh, tượng tình, sử dụng những câu có nhiều thành phần phụ như định ngữ, bổ ngữ. Câu văn của các em sáng sủa, rõ ý. Các em ít viết những câu khô khan, không có hình ảnh cảm xúc. Những câu chỉ có giá trị thông báo, chỉ thuyết phục người khác về mặt nhận thức mà thường

14

viết những câu văn giàu cảm xúc, bộc lộ được sự đánh giá, tình cảm của mình với hiện thực được nói tới, tức là những câu văn bên cạnh chức năng thông báo còn có chức năng thẩm mỹ. Chúng ta thử so sánh hai cách diễn đạt của một học sinh trung bình và một học sinh khá môn Tiếng Việt: Chúng em đã đến thăm quảng trường Ba Đình. Quảng trường này rất có ý nghĩa vì tại đây, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập. Cũng vì thế, lăng Bác được dựng ở đây. Thế là chúng em đã được đến quảng trường Ba Đình lịch sử. Nơi đây Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam. Cũng chính nơi đây, toàn dân ta đã chung sức xây lên nơi an nghỉ cuối cùng của Người. Bài viết trung bình chỉ nêu lên sự kiện, thuyết phục trí tuệ. Đoạn viết khá thì không chí có sự kiện mà còn bộc lộ thái độ sự bình giá, cảm xúc của người viết. Vì vậy, nó tác động không chỉ lí trí mà vào tình cảm người đọc. – Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thực hành để rèn luyện tư duy cho hs – Đổi mới hình thức tổ chức dạy học như (hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân) để kích thích tinh thần tự học tự tìm tòi suy nghĩ kiếm tìm tri thức để rèn luyện tư duy. Tư duy của học sinh chủ yếu được nảy sinh từ cách giảng dạy, lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm và cả phương pháp dạy học của GV Bồi dưỡng qua dạy học các phân môn trong chương trình. Năng lực tư duy Tiếng Việt và Văn học thể hiện ở năng lực quan sát, nhận xét ngôn ngữ của mọi người và ngôn ngữ của chính mình. Bên cạnh khả năng quan sát ngôn ngữ, các em có khả năng về môn Tiếng Việt còn biết quan sát hiện thực, biết liên tưởng, tưởng tượng, biết tư duy nghệ thuật cụ thể, giàu cảm xúc. Một cháu mẫu giáo nhìn trăng bị mây che đã nói “Trăng đắp chăn” còn trăng trong thơ của cậu bé Trần Đăng Khoa thì “Tròn như mắt cá, không bao giờ chớp mi”. – Chú trọng rèn luyện các thao tác phẩm chất tư duy thông qua rèn ngôn ngữ (phân tích, khái quát hóa, trừu tượng). – Tăng cường phương pháp tự đánh giá để kích thích khả năng theo hướng phát triển tư duy. + Có những biểu hiện khá rõ ở học sinh có năng lực Tiếng Việt và Văn học: say mê đọc sách, thích quan sát cuộc sống, nhạy bén với từ ngữ, nghệ thuật, biết tiếp nhận hình tượng, và phần nào biết sử dụng lớp ngôn từ và cách diễn đạt thuộc phong cách văn chương. Vậy, cần đạt vấn đề phải phát hiện những học sinh có khả năng giải Tiếng Việt: và kéo theo đó là nên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi mới tập trung một số buổi để ôn luyện, nhiều trường bắt đầu bồi dưỡng từ lớp 4, có trường bắt đầu bồi dưỡng từ lớp 2. Có thể nói, việc bồi dưỡng học sinh giỏi càng bắt đầu sớm bao nhiêu càng có hiệu quả bấy nhiêu, nhưng trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta chưa tìm hiểu xác định được trong số những học sinh lớp 1, những em nào có khả năng Tiếng Việt, hơn nữa nhiệm vụ chính của các em lúc này là nhanh chóng chiếm lĩnh công cụ chữ viết – đọc thông viết thạo. Ở những trường có điều kiện, cũng chỉ nên đặt vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 2. Thực hành: – Soạn giáo án trong đó thể hiện việc bồi dưỡng tư duy qua học Tiếng Việt cho học sinh.

15

– Tập giảng trên giáo án đã soạn. 5. Bồi dưỡng cảm thụ văn học Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học không có môn Văn nhưng không vì thế mà bỏ qua việc giáo dục năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh. Thông qua những bài tập đọc, kể chuyện, giáo viên bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm thụ văn học, các em ý thức về vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống và tự nâng mình, sửa mình theo những hình tượng nghệ thuật. Mục đích này được thực hiện tích hợp qua dạy tiếng mẹ đẻ (Tiếng Việt). Vì vậy, ở Tiểu học, học sinh giỏi môn Tiếng Việt nghĩa là có cả năng lực Tiếng Việt và Văn học. 5.1.Cảm thụ văn học là gì? “Cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học được thể hiện trong tác phẩm. Có thể ở một tác phẩm, bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ, câu văn câu thơ hay có khi chỉ một từ có giá trị…” (Trần Mạnh Hưởng). Cảm thụ văn học là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo. Khi chúng ta đọc tác phẩm, nghe một câu chuyện ta có những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng và rung động thật sự về một vấn đề, một sự việc…ta như cảm thấy gần gũi yêu thương, căm ghét…với sự việc. Ta như nhập thân với số phận nhân vật, câu chuyện, con người, sự việc … 5.2. Ý nghĩa của cảm thụ văn học đối với học sinh – Cảm thụ văn học có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập của các em và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Nhờ có cảm thụ văn học mà ta thấu hiểu được ý nghĩa nội dung của tác phẩm và nhận chân được giá trị cuộc sống. Khi tiếp xúc một tác phẩm, cảm thụ văn học diễn ra ở mỗi người không giống nhau. Bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Vốn sống, vốn văn hóa, năng lực trình độ hiểu biết, tình cảm, thái độ, cả những yếu tố như tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh sống, thời đại, quan niệm thẩm mỹ… Ngay cả một người nhưng sự cảm thụ về cùng một tác phẩm trong những thời điểm khác nhau cũng không giống nhau. Có khi một bài thơ, một tác phẩm cứ mỗi lần đọc chúng ta cảm nhận ra vẻ đẹp riêng. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc tường cho rằng: ” Bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm thì mỗi độ tuổi của đời người, tôi lại cảm nhận cái hay riêng của nó, và cho đến bây giờ, tôi cảm thấy rằng tôi vẫn chưa đi thấu tận cùng vẻ đẹp của bài học thuộc lòng thủa nhỏ ấy”. Điều đó đòi hỏi cần thiết phải bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh. Cảm thụ văn học là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo. Khi chúng ta đọc tác phẩm, nghe một câu chuyện ta có những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng và rung động thật sự về một vấn đề, một sự việc…ta như cảm thấy gần gũi yêu thương, căm ghét…với sự việc. Ta như nhập thân với số phận nhân vật, câu chuyện, con người, sự việc … Chẳng hạn: Hoàng phủ Ngọc Tường kể: ” Thủa ấu thơ khi đọc Dế mèn phiêu lưu kí đã giúp tôi phát hiện ra tình bạn như một sức mạnh kỳ diệu của tâm hồn… Chi tiết khi đói quá sắp chết, Dế trũi đưa càng cho Dế mèn đề nghị bạn ăn thịt mình để mà sống. Tôi nhận ra chính Mèn và Tũi là những nhân vật của tâm hồn tôi, câu chuyện đa xlàm tôi chảy nước mắt”.

16

Hữu Thỉnh kể về lần đầu đọc câu ca dao: Giã ơn cái cối cái chày Nửa đêm gà gáy có mày có tao Giã ơn cái cọc bờ ao Nửa đêm gà gáy có tao có mày ” Khi đọc trái tim non nớt của tôi láng máng nhận ra cái vị đắng của cuộc đời xưa kia. Khi đó tôi chưa hiểu hết vị đắng của câu ca dao, nhưng tôi thấy nó thật gần gũi, thân thương. Cái cối, cái chày, cái cọc, bờ ao, những thứ đó qúa thân thuộc nhưng sao cứ lạ mãi, chúng biết nói lên thân phận buồn tủi của mình bắt ta phải thương xót cảm thông? Trí tưởng tượng của tôi như phát ra một bóng người cô độc bị vắt kiệt sức, bị ném xuống tận đáy, bị loại ra khỏi cái thế giới người, chỉ còn biết thui thủi một mình thổ lộ tâm tư cùng những vật vô tri vô giác”. – Mở mang vốn sống vốn hiểu biết về cuộc sống (mở ra cả kho báu kiến thức nhân loại) cho học sinh nhờ hiểu và cảm tác phẩm văn chương. – Nhờ cảm thụ mà học sinh có thể học tốt các môn học khác trong nhà trường, đặc biệt là trong môn Tiếng Việt + Chỉ có cảm nhận được tác phẩm mới có thể đọc và kể hay, mới phân tích được giá trị ý nghĩa của nó. + Chỉ có hiểu nội dung ý nghĩa của văn bản mới thông hiểu các vấn đề của các khoa học tự nhiên và xã hội. – Góp phần bồi dưỡng nhân cách, giáo dục đạo đức, đúc rút kinh nghiệm tìm được cách sống cách làm người hòa nhập với cộng đồng. Các em yêu cái thiện ghét cái ác, yêu chân lý, ghét bất công…hình thành và phát triển nhân cách… – Cảm thụ văn học góp phần rèn các thao tác tư duy, phát triển khả năng suy ngẫm, tưởng tượng, liên tưởng, phát triển những thiên hướng cá nhân. Từ đó ta mới thật sự rung cảm để tạo những cảm thụ ban đầu về đối tượng. Cảm thụ đó giúp ta thấu hiểu cảnh tượng sau dòng chữ, những việc những người, những cảnh đời hiện lên trong tác phẩm. 5.3. Hướng bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học là một quá trình rất lâu dài và công phu. Các phân môn trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học đã góp phần không ít để hình thành năng lực này. Để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần bồi dưỡng cho học sinh sự say mê, hứng thú khi tiếp xúc với văn chương, chịu khó tích lũy kiến thức vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học, nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt để có ngôn ngữ mà giao tiếp, cảm thụ văn học, kiên trì rèn các kỹ năng viết văn giàu hình ảnh, giàu tưởng tượng suy tưởng…Điều đó nó đòi hỏi người giáo viên phải: – Bồi dưỡng cho học sinh vốn sống, vốn hiểu biết, tri thức (lý luận văn học về hình ảnh, hình tượng, nhân vật, kết cấu, các phương tiện và biện pháp tu từ (cơ sở khoa học…) – Rèn đọc, kể đọc diễn cảm, đọc sáng tạo để nâng cao nhận thức và năng lực cảm xúc thẩm mỹ. Một trong những biện pháp có hiệu quả để bồi dưỡng cảm thụ văn học là đọc diễn cảm có sáng tạo. Nó giúp học sinh nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mỹ và kích thích tái sản sinh thành phần nghệ thuật, là khám phá ra những gì ẩn dưới các dòng chữ để cho chúng

17

được vang lên. Cần phải hướng dẫn học sinh đọc văn bằng hệ thống câu hỏi, bài tập đi kèm bài đọc. Đó là những câu hỏi, bài tập nhằm xác định kĩ thuật đọc thành tiếng (giọng đọc chung của bài, đoạn, ngắt giọng, tốc độ, cao độ, chỗ nhấn, cường độ…), yêu cầu tái hiện lại bài đọc (từ ngữ, chi tiết, hình ảnh quan trọng mà học sinh phải nhớ); gợi lên tưởng, tưởng tượng; về ý nghĩa thành phần, giúp học sinh hiểu được đích thông báo của văn bản. Có thể là câu hỏi, bài tập đánh giá nhân vật, thái độ, tình cảm, tư tưởng của tác giả, bài tập nhận xét giá trị nghệ thuật của bài đọc, những từ ngữ, hình ảnh, cấu tứ gây ấn tượng… – Vận dụng các ppdh, đổi mới các hình thức tổ chức dạy học, phả hồn vào trong từng khâu của quá trình dạy học để bồi dưỡng cảm thụ cho học sinh. – Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập thực hành (nghiêng cảm thụ văn học…) hỗ trợ, tác động tiếp sức, kích thích hứng thú giúp học sinh nảy sinh và nâng cao dần năng lực cảm xúc thẩm mỹ, tăng cường phân tích các biện pháp nghệ thuật. + Rèn cho học sinh kỹ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học. Các đề cảm thụ văn học thường đưa ra đoạn văn, đoạn thơ, yêu cầu học sinh phát hiện ra các tín hiệu nghệ thuật, đánh giá chúng trong việc biểu đạt nội dung, hoặc yêu cầu học sinh phân tích được ý nghĩa của đoạn văn, đoạn thơ được đưa ra. Ví dụ: Trong bài thơ mẹ của Trần Quốc Minh …Lời ru có gió mùa thu…Mẹ là ngọn gió của con suốt đời…. Theo em, hình ảnh nào làm nên cái hay của đoạn thơ? Vì sao? + Rèn cho học sinh khả năng phân tích, thẩm bình ngôn ngữ (có thể một từ, một câu, đoạn văn bản…), cái hay của cách dùng từ, đặt câu. Đặc biệt chú trọng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc như: nhân hóa, so sánh, liên tưởng, ẩn dụ, các phép đối, đảo, điệp… Ví dụ: Hãy nêu rõ cái hay của cách dùng từ phép nhân hóa trong đoạn thơ sau: Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió Con kiến qua ngòi bắc cầu lá tre.. (Cái cầu – ) Hãy chỉ ra cái hay của cách dùng từ láy trong đoạn thơ sau: Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha Trưa về trời rộng bao la Áo xanh sông mặc như là mới may… (Dòng sông mặc áo – Nguyễn Trọng Tạo, Trích: Tiếng Việt 4, tập 2, trang 118 – NXB Giáo dục 2008) + Rèn cho học sinh cảm nhận được nhạc điệu, nhịp điệu, giọng điệu, cái thần thái của tác phẩm. + Tăng cường các hoạt động ngoại khóa để nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh. Ví dụ sau đây là một số dạng đề cảm thụ văn học: a) Đề yêu cầu phát hiện từ dùng đắt và nhận xét giá trị của nó trong việc biểu đạt nội dung.

18

19

+ Quần màu đen gọi là quần….(thâm) – Cho đoạn thơ sau: “Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường Lưng trần, phơi nắng, phơi sương Có manh áo cọc tre nhường cho con” (Nguyễn Duy) Tìm những từ ngữ của tre gọi lên những phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam trong đoạn thơ trên ? Dạng 2: Đề yêu cầu phát hiện biện pháp tu từ và đánh giá giá trị của nó trong việc biểu đạt nôi dung. VD : – Hãy chỉ rõ biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau và cho biết tác dụng của nó: “Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh” (Trần Đăng Khoa) – Hãy chỉ ra hình ảnh so sánh có trong hai câu thơ sau và nêu rõ hình ảnh đó gợi cho em cảm nghĩ gì? “Mọi hôm mẹ thích vui chơi Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu” (Mẹ ốm – Trần Đăng Khoa) Dạng 3: Đề yêu cầu học sinh chỉ ra các hình ảnh đẹp của thơ văn và đánh giá. Đây là dạng bài tập có lệnh yêu cầu học sinh chỉ ra hình ảnh hay nhất trong câu thơ, đoạn văn và đánh giá giá trị của hình ảnh đó. Thuật ngữ “hình ảnh” được dùng theo nghĩa rộng. Đó có thể là tên gọi thay cho tên gọi một biện pháp tu từ mà ở Tiểu học không gọi tên . VD: Để phân tích cái hay của biện pháp tu từ, ẩn du, hòa hợp có các đề bài sau. – Chỉ ra cái hay của hình ảnh thơ trong khổ thơ sau và nói rõ ý nghĩa của nó. ” Nước chúng ta, Nước những người chưa bao giờ khuất. Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về” (Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Hay : Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy Biết bao đau thương biết mấy oán hờn. Để cảm thụ được hai câu thơ trên học sinh cần có một vốn từ phong phú, học sinh phải biết về hoàn cảnh sáng tác và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh cây dừa sừng sững, hiên ngang trước bom đạn của kẻ thù. Dù trải qua những thăng trầm của lịch sử, trải qua hai lần

20

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Học Phần Âm Môn Tiêng Việt Lớp 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN ÂM MÔN TIÊNG VIỆT LỚP 1 – CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC” A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1/ Lý do chọn đề tài: Theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, việc học tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục không chỉ giúp HS nắm chắc tri thức cơ bản về tiếng Việt và hình thành đồng thời các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết một cách vững chắc mà HS luôn được tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tự tin; thông qua việc làm, các thao tác học, các em tự tìm ra và chiếm lĩnh tri thức, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình. Đồng thời quá trình dạy học theo phương pháp Công nghệ giáo dục không chỉ giúp GV nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm mà cách tổ chức dạy học theo quy trình công nghệ giúp GV đổi mới phương pháp một cách triệt để. Một điểm khác với phương pháp dạy trước đây, khi áp dụng phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1CGD, Giáo viên không phải cầm tay học sinh tập viết, mà mỗi học sinh tự tư duy bài giảng. Quy trình dạy của giáo viên sẽ được tiến hành theo bốn bước đó là: nhận diện ngữ âm, tập viết, đọc và luật chính tả.

Chương trình đã phát huy được khả năng tư duy của học sinh, giúp học sinh nắm chắc được cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt. Qua thời gian nghỉ hè học sinh không quên chữ. Học sinh có thể nắm chắc luật chính tả và kĩ năng nghe để viết chính tả tốt. Từ những lí do trên nên tôi viết sáng kiến về “Phương pháp dạy học phần âm môn Tiếng Việt lớp 1- CGD “. a) Cơ sở lý luận: Những quan điểm giáo dục: Trong nhà trường, trẻ em là nhân vật trung tâm, thầy giáo là nhân vật quyết định”, “Nhà trường là nơi trẻ em đang sống cuộc sống thực của chính mình”, “Thầy thiết kế – trò thi công”… Vậy Công nghệ giáo dục là gì? Công nghệ giáo dục không phải là Công nghệ thông tin trong Giáo dục, và cũng không phải chỉ là phương pháp Giáo dục. Công nghệ thông tin được sử dụng như các phương tiện trong Giáo dục và Công nghệ giáo dục tận dụng tối đa những phương tiện này. Công nghệ giáo dục là quá trình tổ chức và kiểm soát quá trình Giáo dục sao cho ra được sản phẩm tất yếu, theo đúng ý đồ thiết kế của nhà Giáo dục. Công nghệ giáo dục là thiết kế được

những việc làm Giáo dục để học sinh tự mình làm ra sản phẩm học tập cho chính mình. Tiết học vẫn có giáo viên, nhưng không phải để giảng bài, mà để hướng dẫn các em cách tự học. Điều này vừa giúp trẻ hình thành phương pháp tự học, vừa tạo cho trẻ được trải nghiệm thêm kỹ năng làm việc. Nếu học sinh không làm được thì đó là lỗi của người lớn (của thầy cô giáo) chứ không phải của các em. Nhà trường cũng yêu cầu không đem cái chưa đúng của học sinh ra để trừng phạt hay để phân tích trước cả lớp. Em nào đúng thì khen, em nào chưa đúng thì phải giúp để em làm đúng được mới thôi. Trong lớp được phép “ồn” nếu là ồn trong học tập, không nhất thiết phải im lặng mới là ngoan. Làm xong bài trước, ngọ ngoạy… một tí được chấp nhận, miễn là không làm ảnh hưởng đến bạn khác. Cái quan trọng nhất là “Phải dạy trẻ biết suy nghĩ, không phải chỉ biết nghe lời”,”Phải làm sao cho trẻ suy nghĩ bằng cái đầu của mình, không phải của người khác”. Quan hệ thầy – trò trong nhà trường không phải quan hệ bề trên kẻ dưới, mà là thực hiện một sự phân công – hợp tác.

Yêu cầu các em học hết sức, chứ không quá sức, phải thiết kế sao cho “Giáo viên không giảng giải, học sinh không cần cố gắng”, với nghĩa thầy chỉ là người làm mẫu, hướng dẫn và điều chỉnh, trò cần học hết sức mình nhưng không phải cố quá sức, không bị căng thẳng, không bị áp lực, vừa đủ để thấy việc học thích thú, hấp dẫn. Tiếng Việt là công cụ để học tất cả các môn học và hoạt động GD khác. Nếu không học được Tiếng Việt, khó có thể học tốt những môn học khác. Tiếng Việt công nghệ giáo dục thành công không những cho học sinh người Kinh mà còn ở cả những vùng chỉ toàn học sinh dân tộc thiểu số, cha mẹ chỉ nói tiếng thiểu số, không biết tiếng Việt. Trân trọng trẻ em, hiểu trẻ em để dạy trẻ em, dạy trẻ biết tư duy, biết yêu thương và biết cách tự phục vụ là đích đầu tiên, dung dị và nền tảng nhất trong nhân cách con người mà nhà trường đặt ra. b) Cơ sở thực tiễn: Trên thực tế qua nhiều năm ở trường tiểu học Phi Liêng nói chung và ở khối lớp 1 nói riêng. Các em học sinh từ Mầm non lên lớp 1, trong việc học tập cũng như các hoạt động các em còn rụt rè và thích ứng với môi trường còn chậm so với học sinh các vùng thuận lợi khác.

Lần đầu các em tiếp xúc với các môn học, đặc biệt là môn Tiếng việt 1 – CNGD về phần âm học sinh chưa biết chữ cái dẫn đến khó ghép vần, bên cạnh đó còn có một số học sinh phát âm sai, phân tích lúng túng, đối với luật chính tả không bắt nắm được, phần viết tốc độ viết quá chậm. Vì vậy học sinh nhập tâm và ghi nhớ một cách máy móc. Trong việc học tập của các em còn lúng túng, chưa phát huy hết năng lực học tập. Bước đầu học đọc, học viết, học cách phân biệt nguyên âm, phụ âm, cách dùng mẫu, lập mẫu, luật chính tả, biết làm những nguyên âm không tròn môi thành nguyên âm tròn môi, biết phân biệt âm đệm và âm chính, âm chính và âm cuối, vần có đủ âm đệm, âm chính và âm cuối, biết nguyên âm đôi, luật chính tả về nguyên âm đôi nên các em còn nhiều b ng và tiếp thu kiến thức thật khó khăn, một số em chỉ đọc vẹt chưa nắm vững các chữ cái. Với yêu cầu của phần âm, các em phải đọc đúng âm, phải nắm bắt kiến thức một cách vững vàng, để biến kiến thức đó thành kĩ năng, kĩ xảo trong phần âm, vần thì các em mới học tốt được môn tiếng Việt. Để thực hiện tốt chương trình này thì giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu chương trình, giúp các em đọc thông, viết thạo, không tái

mù, các em nắm chắc luật chính tả, nắm chắc hệ thống ngữ âm của Tiếng Việt. Chính vì thế, vấn đề tôi đặt ra làm sao giúp cho học sinh phát triển trí tuệ, tình cảm, yêu thích với mục đích giúp các em: mỗi ngày đến trường là một ngày vui, tập cho các em tính mạnh dạn trong học tập và khả năng sáng tạo để học tốt phần âm, giúp học sinh lớp 1 nắm bắt được âm trong môn Tiếng việt 1- CNGD. 2/ Phạm vi đề tài: – Đối tượng là 59 học sinh khối 1. B. THỰC TRẠNG Qua đợt kiểm tra khảo sát chất lượng tháng 10 năm học 2014 2015, về chất lượng của khối 1, cũng như qua quá trình theo dõi học tập của học sinh, kết quả đạt được như sau: TSHS

59

HS biết

HS biết

âm

ghép

11 HS

23 HS

1. Đối với giáo viên: a. Thuận lợi:

HS biết phân tích, đọc trơn

25 HS

100 % Giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn. Hầu hết giáo viên tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ, cơ bản được dự giờ và học hỏi kinh nghiệm từ chuyên đề trường bạn, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do ngành, nhà trường và cấp trên tổ chức. Giáo viên nhiệt tình trong công tác, tận tụy với học sinh, luôn tích cực tự học và sáng tạo trong giảng dạy. Cơ sở vật chất thiết bị, sách giáo viên, SGK đầy đủ, phục vụ cho công tác giảng dạy, trường lớp khang trang, thoáng mát, sạch sẽ đáp ứng nhu cầu giảng dạy của giáo viên. Giáo viên không phải soạn bài môn tiếng việt, tiết kiệm được thời gian để giáo viên nghiên cứu bài dạy. Tác phong sư phạm chững chạc, lời nói nhẹ nhàng dễ nghe, luôn gần gũi giúp đ học sinh. Về chương trình mới dạy ƯDCN – TV1 rất tốt cho việc triển khai dạy học chương trình này tại đơn vị cụ thể là: Việc sử dụng ký hiệu thay lời nói của giáo viên đ mất thời gian. Quy trình đọc, đọc phân tích tiếng rất hiệu quả. Quy trình hướng dẫn tập viết và viết chính tả rất kỹ.

b. Khó khăn: Do bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh. Là năm đầu tiên áp dụng chương trình SGK mới nên giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc nghiên cứu nội dung bài dạy và việc truyền đạt kiến thức trên lớp. Giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy học nhằm phát huy tính tích cực lấy học sinh làm trung tâm ở môn Tiếng Việt 1 – CNGD. Hoạt động dạy cho học sinh nhớ máy móc là chủ yếu. Phần lớn giáo viên được phân công phụ trách khối lớp 1 kinh nghiệm công tác còn ít vốn hiểu biết về văn hóa ở địa phương còn hạn chế, trong tổ có một số giáo viên năm đầu tiên được phân công giảng dạy lớp 1. Khi tổ chức dạy học sinh ở phân môn này còn khô khan, lúng túng chưa mang lại hiệu quả cao. Chưa định hướng cách học cho học sinh nên khi tìm hiểu về âm học sinh chưa có cách học chủ động, tích cực và sáng tạo. Từ quá trình triển khai cũng thấy rằng có một số hạn chế của tài liệu TV1- CNGD, theo thiết kế thực hiện, tài liệu có 2 điểm chưa phù hợp: Thứ nhất, theo hướng dẫn thì trong quá trình tổ chức giảng dạy,

giáo viên không sử đụng đồ dùng dạy học. Điều này làm hạn chế kết quả nhận thức của học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc. Thứ hai, chưa có nhiều thời gian cho học sinh rèn kỹ năng nói, đọc nhiều … Khó khăn khi dạy luật chính tả: ví dụ như đọc âm c viết âm k hoặc là yêu cầu học sinh làm tròn môi âm l học sinh đọc chưa theo yêu cầu. 2. Đối với học sinh: 1. Thuận lợi: Luôn được sự quan tâm và giúp đ của chính quyền địa phương và các cấp lãnh đạo. Điều kiện cơ sở vật chất: Có đầy đủ bàn ghế đạt chuẩn, phòng học sáng sủa, sạch sẽ thoáng mát, ĐDDH, tủ, SGK, vở viết, được cấp phát và trang bị đầy đủ. Đa số gia đình các em tập trung ở 3 thôn, điểm thôn nào đều học tại điểm đó thuận tiện cho việc đi học của các em. 2. Khó khăn: 93,6% HS đều là con em dân tộc thiểu số. Vốn tiếng việt của các em còn hạn chế.

Bất đồng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh nên trong quá trình tiếp thu bài học sinh còn gặp khó khăn. Các em từ trường Mầm non lên nên chưa thuộc hết bảng chữ cái, chưa bắt nhịp được môi trường học tập mới. Các em còn rụt rè, chưa đọc thông viết thạo. Do đổi mới chương trình môn tiếng việt 1 công nghệ giáo dục nên các em còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu chương trình mới, các em chưa nắm bắt được ngữ âm và vần chưa định hình phân tích được đâu là nguyên âm, đâu là phụ âm, không phân biệt được đâu là âm đệm, đâu là âm chính, đâu là âm cuối, chương trình này còn quá sức đối với các em là người dân tộc thiểu số, ngoài ra các em không nắm được luật chính tả nên rất khó khăn trong việc dạy. Khi học sinh thực hiện vẽ mô hình còn lúng túng chưa biết quy tắc vẽ, chưa biết đưa âm đệm, âm chính, âm cuối vào mô hình, chưa xác định rõ đâu là âm chính và đâu là âm cuối, và chưa nắm được vần vì vấn đề nắm âm chưa chắc, học về luật chính tả các em chưa phân biệt được luật chính tả về âm đệm, nguyên âm đôi, yêu cầu học sinh viết bài vào vở thì bài quá dài mà học sinh còn viết quá chậm, Cách cầm bút học sinh còn run, do đó có phần ảnh hưởng đến quá trình

giảng dạy cũng như học tập của học sinh. Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa biết chữ cái nhưng đã phải viết như dạng chính tả, ngoài ra học sinh không biết chữ khó ghép âm, vần và phát âm sai nhiều dẫn đến sai lỗi chính tả nhiều, lúc thì chữ, âm, tiếng, vần. Trong quá trình học, các em còn phải phân biệt được tiếng có âm đầu, tiếng có âm chính, tiếng có âm đệm, âm chính, tiếng có âm đệm, âm cuối… Trước đây, học hết 9 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép chữ thành âm, tiếng, từ, học sinh chỉ đọc bài dài 15 tiếng. Nay hết 9 tuần, học sinh đã phải đọc những bài dài tới 20 tiếng, mặc dù các em biết tiếng luôn, nhưng chỉ là đọc vẹt theo giáo viên, nên không viết được chữ. Với những lớp có học sinh yếu, giáo viên rất vất vả và nguy cơ các em “mù chữ” luôn nếu chẳng may bị ốm phải nghỉ một vài buổi học. Chưa kể đến việc khi giáo viên giao bài về nhà tập đọc, học sinh thấy bài quá dài, không có bạn bè đọc cùng cho khí thế nên “ngại” không muốn đọc, do đó ngày càng yếu, kém. Đa số gia đình các em hoàn cảnh, cuộc sống còn khó khăn nên ảnh hưởng đến một phần học tập của các em. Hầu hết các em chưa có góc học tập ở nhà.

Trước những tồn tại và thực trạng nêu trên, tôi đã mạnh dặn viết lên skkn của bản thân về ” Phương pháp dạy học phần âm trong môn Tiếng việt 1 – Công nghệ giáo dục”. C. CÁC GIẢI PHÁP: 1. Mục tiêu chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD Học xong chương trình Tiếng Việt lớp 1-CGD học sinh đạt được các mục đích sau: 1. 1. Các em đọc thông, viết thạo, không tái mù. 1.2. Các em nắm chắc luật chính tả. 1.3. Các em nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt. 2. Đối tượng chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp1- CGD chính là cấu trúc ngữ âm của tiếng Việt bao gồm : – Tiếng – Âm và chữ – Vần 3.Nội dung chương trình chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD ( gồm 4 bài) 3.1. Bài 1: Tiếng

3.2. Bài 2: Âm 3.3. Bài 3: Vần 3.4.Bài 4: Nguyên âm đôi 4. Phương pháp dạy chương trình Tiếng Việt lớp 1- CGD 4.1. Phương pháp mẫu: -Lập mẫu, sử dụng mẫu. -Làm mẫu tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có. 4.2. Phương pháp làm việc: – Tổ chức việc học của trẻ em thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy. II.Phần cụ thể – phần âm 1. Mục tiêu phần âm – HS nắm chắc 38 âm vị của Tiếng Việt cũng như cách viết của các âm vị này. – Biết phân biệt nguyên âm, phụ âm qua phát âm dựa vào luồng hơi bị cản hay luồng hơi đi ra tự do.

– Biết ghép phụ âm đầu với nguyên âm tạo thành tiếng có thanh ngang, ghép tiếng có thanh ngang với các dấu thanh tạo thành tiếng khác nhau. – Biết phân tích tiếng thanh ngang thành 2 phần : phần đầu và phần vần, phân tích tiếng có dấu thanh thành tiếng thanh ngang và dấu thanh (cơ chế tách đôi). – Đọc trơn, rõ ràng đoạn văn có độ dài 20 tiếng. Tốc độ đọc tối thiểu là 10 tiếng / phút. – Nghe viết chính tả được tất cả các tiếng có vần chỉ có âm chính. Viết đúng kiểu chữ thường c nh . Tốc độ tối thiểu là 3 phút/ một tiếng. – Nắm chắc cấu tạo của tiếng gồm 3 bộ phận cấu thành: Thanh, âm đầu, vần (vần chỉ có âm chính). – Nắm chắc luật chính tả e,ê,i. 2. Quy trình dạy phần âm: Bài âm gồm hai công đoạn: a) Công đoạn 1: Lập mẫu ( Mẫu /ba/ – Phân biệt nguyên âm, phụ âm) Mục đích, yêu cầu : Làm theo đúng Quy trình 4 việc , thực thi chuẩn xác từng thao tác, làm ra sản phẩn chuẩn xác, xứng đáng là mẫu chuẩn mực cho tất cả các tiết học của bài.

b) Công đoạn 2: Dùng mẫu( Áp dụng cho tất cả các bài còn lại của phần âm) ( Quy trình giống quy trình tiết lập mẫu) . Tuy nhiên cần chú ý : + Mục đích của tiết dùng mẫu là: – Vận dụng quy trình từ tiết lập mẫu. – Luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết lập mẫu. +Yêu cầu giáo viên trong tiết dùng mẫu: – Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫu. – Chủ động linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao chu phù hợp với học sinh lớp mình. * Để giúp học sinh lớp 1 nắm vững đƣợc âm trong tiếng việt 1, trƣớc hết giáo viên cần nắm đƣợc: Giúp học sinh nắm vững được từng âm, giáo viên cần chú ý 2 vấn đề then chốt: Yêu cầu đối với học sinh là thuộc bảng chữ cái một cách thành thạo.

Nắm được kĩ năng về các âm trong tiếng việt 1, biết phân biệt nguyên âm và phụ âm, biết cách lập mẫu và dùng mẫu, phân tích âm, tiếng, đọc được theo các mức độ to – nhỏ – nhẩm – thầm theo lệnh và ký hiệu của giáo viên. Biết phân biệt đâu là âm đệm, âm chính và đâu là âm cuối, học về luật chính tả biết phân biệt được luật chính tả về âm đệm, nguyên âm đôi. Tình trạng các em đọc vẹt nhiều, muốn khắc phục những hạn chế này. Vụ Giáo dục Tiểu học hướng dẫn như sau: giáo viên nên tận dụng đồ dùng dạy học của chương trình hiện hành, làm thêm đồ dùng dạy học và chủ động sắp xếp thời gian rèn luyện kỹ năng nói, đọc cho học sinh. Để giải quyết được hai vấn đề nêu trên, giáo viên phải nắm vững vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu dạy âm….. trong môn tiếng việt 1. Giáo viên phải hiểu rõ khả năng nhận thức cũng như các đặc điểm của quá trình nhận thức của trẻ em. Bởi vì khả năng nhận thức của học sinh Tiểu học đang hình thành và phát triển theo từng giai đoạn có quy luật riêng, người giáo viên tiểu học cần phải hiểu trẻ em với đầy đủ nghĩa của nó, mới có thể tiến hành dạy phần âm đạt hiệu quả được.

** Dựa vào thực trạng của giáo viên và học sinh để đƣa ra giải pháp phù hợp với đặc trƣng môn TV1- CNGD đƣợc thể hiện qua 2 tiết dạy với 4 việc. Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm. 1a. T giới thiệu âm mới . 1b. Phân tích tiếng . 1c. Vẽ mô hình . Việc 2: Viết chữ ghi âm 2a. Giới thiệu chữ in thường. 2b. Giới thiệu chữ viết thường. 2c. Viết tiếng có âm mới học 2d. Hướng dẫn H viết vở “Em tập viết – CNGD lớp 1” . Việc 3: Đọc. 3a. Đọc chữ trên bảng lớp. 3b. Đọc sách “Tiếng Việt – CNGD lớp 1” Việc 4: Viết chính tả. 4a. Viết bảng con.

4b. Viết vở chính tả. *** Giải pháp: Tác phong lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên cần phải chuẩn mực, thân thiện. Quy trình 4 việc cần phải thực hiện theo trình tự. + Câu lệnh của giáo viên cần phải dứt khoát, rõ ràng. Học sinh thực hiện theo đúng yêu cầu của giáo viên hoạt động giữa GV- HS cần diễn ra nhịp nhàng. + Các hoạt động của lớp cần phải thực hiện theo “ký hiệu” trên bảng hoặc ký hiệu bằng tay của giáo viên. Giáo viên không phải nói nhiều mà phải ưu tiên các hoạt động cho học sinh. + Giáo viên cần phải thuộc các việc cơ bản ở mỗi bài. + Cần phải nhẹ nhàng, thân thiện và linh hoạt trong tổ chức các hoạt động ở từng việc. + Quan tâm tới các em học sinh có nhận thức chậm trong lớp. + Tiết học buổi 2 giáo viên cần phải xác định được nội dung cần ôn tập chú ý về các kỹ năng cần củng cố phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm giúp các em nắm được bài tốt hơn.

+ Dạy đâu chắc đó, học sinh phải nắm được bài, không để học sinh ngoài lề lớp học. Cần dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, phân hóa đối tượng học sinh, cần đạt chuẩn ở mức độ thấp nhất như: học sinh tiếp thu bài kém…. Dạy học không cần viết tên bài trước, lập xong mô hình mới viết ở bảng, cần phải tuân thủ dạy theo sách thiết kế, có thể linh hoạt lồng ghép. Khen học sinh nhiều, không nên chê bai, nhắc nhở cho học sinh tiến bộ. Khi dạy không nên trở về cái cũ, mỗi ngày chỉ thay đổi một thành phần, khi giao việc giáo viên phải đứng trước lớp – học sinh làm việc giáo viên xuống lớp kiểm tra khen học sinh. Dạy lớp 1 dạy tiếng không dạy từ, không nên đưa những gì có sẵn cho học sinh khi đến lớp. Ở sách giáo khoa không nên gọi là kênh hình, kênh chữ. Chương trình này không yêu cầu chấm điểm, mà chỉ nhận xét đánh giá học sinh, động viên, khen thưởng học sinh.

2. Phân loại đối tƣợng học sinh: Chuẩn bị nghiên cứu kỹ phần kế hoạch dạy học là việc làm không thể thiếu đối với bất cứ giáo viên nào khi đứng lớp, tuy nhiên giáo viên cần phải nghiên cứu, nắm vững mục tiêu bài dạy, bám sát vào Phân phối chương trình, lịch báo giảng. Đặt ra các hoạt động hợp lí thể hiện rõ hoạt động của giáo viên – học sinh, có hoạt động cho đối tượng học sinh nắm bài tốt và học sinh chưa nắm được bài. Phân loại đối tượng học sinh theo nhóm và đặt tên nhóm khi tổ chức trò chơi. Sắp xếp chỗ ngồi của học sinh trong lớp hợp lí. Quan tâm khích lệ học sinh thường xuyên, tạo cơ hội để học sinh được chủ động tích cực thông qua giờ học và thực hành. 3. Giúp học sinh học tốt về âm. Có thể nói môn Tiếng Việt 1 CNGD là một môn học mới giúp học sinh nắm bắt được ngữ âm trong Tiếng Việt, trong phần âm là công cụ hỗ trợ đắc lực và không thể thiếu chiếm tỉ lệ trọng yếu khi học môn Tiếng Việt. Vậy học sinh cần phải thuộc tất cả các chữ cái bảng chữ cái, thì các em mới ghép và đọc được âm, vần, tiếng, từ câu, ngoài ra tạo cơ hội cho học sinh có khẳ năng tư duy sáng tạo trong các tiết

Phương Pháp Tự Học Tiếng Pháp Hiệu Quả (Phần 1)

Phương pháp tự học tiếng Pháp hiệu quả (phần 1)

Rất nhiều người Việt Nam luôn mang tâm lý, học tiếng Pháp là để thi cho có cái bằng, học cốt yếu chỉ hiểu và suy luận lúc đi thi mà thôi, cho nên chưa chú trọng thực sự đến giao tiếp tiếng Pháp trong thực tế, cho nên khi rơi vào tình huống giao tiếp trong thực tế thì hoàn toàn không nhớ được câu từ gì là cần thiết để giao tiếp khi đó. Tiếng Pháp giao tiếp luôn là nỗi ám ảnh của rất nhiều người Việt Nam chúng ta. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tự học tiếng Pháp hiệu quả và lưu loát với những phương pháp sau đây:

Phương pháp tự học tiếng Pháp dễ dàng và hiệu quả

Khi âm bạn nói ra giống hay là gần giống với người bản ngữ, bạn chắc chắn sẽ dễ dàng hơn rất nhiều trong việc nghe họ giao tiếp đó là một điều tất nhiên. Khi giọng phát âm tiếng Pháp của bạn không chuẩn, thì dù người ta nói tiếng Việt cũng rất khó để bạn có thể nhận ra và hiểu được.

Bí quyết dành cho những bạn học tiếng pháp là tổng hợp các nguyên âm (bao gồm các nguyên âm ngắn, nguyên âm dài và nguyên âm đôi) và cả các tổ hợp âm tiếng Pháp phổ biến và thường dùng khi các nguyên âm này kết hợp với các phụ âm còn lại. Nếu bạn có thể phát âm nhuần nhuyễn các nguyên âm đơn lẻ và các tổ hợp âm tiếng Pháp này, bạn sẽ sửa được những âm trong các từ tiếng Pháp khác mà không gặp phải bất cứ khó khăn nào. Nên nhớ việc học phát âm tiếng Pháp là cực kì quan trọng.

Tiếng Pháp và tiếng Việt hoàn toàn là những hệ ngôn ngữ khác nhau, vì vậy lời khuyên mà chúng tôi dành cho bạn đó là nên sưu tầm các cấu trúc câu tiếng Pháp rồi sau đó kết hợp chúng trên các từ vựng riêng lẻ để hình thành các câu mới hoàn toàn. Từ một câu bạn học thuộc lòng và thật nhuần nhuyễn, từ đó bạn có thể dễ dàng tạo ra được nhiều câu mới một cách thật linh hoạt.

6/ Học một điểm ngữ pháp tiếng Pháp mỗi ngày

Ngữ pháp tiếng Pháp thật sự không quá nhiều nhưng khi bạn quá đặt nặng về ngữ pháp sẽ làm cho bạn trở nên ngán ngẫm và dần xa lánh môn học này. Ngữ pháp tiếng Pháp là cần thiết để bạn học tiếng Pháp tốt hơn mỗi ngày. Mỗi ngày, hãy chọn ra một điểm ngữ pháp để có thể hiểu trọn vẹn. Hãy xem thật nhiều ví dụ về điểm ngữ pháp đó, làm một số bài tập ngữ pháp. Bạn sẽ đi từng bước trong từng ngày như thế cho đến hết 365 ngày của năm sẽ học hết trọn bộ ngữ pháp tiếng Pháp.

TIN LIÊN QUAN

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học Học Phần 1 trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!