Xu Hướng 2/2024 # Một Số Giải Pháp Giúp Hs Dân Tộc Thạo Tiếng Việt # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Giúp Hs Dân Tộc Thạo Tiếng Việt được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH DÂN TỘC THẠO TIẾNG VIỆT

Trọng Hóa là một trong những xã biên giới đa số người dân là người dân tộc thiểu số, dân trí còn thấp, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn Hs khi đến trường chưa biết sử dụng Tiếng Viết, vì thế rất khó khăn trong học tập, ngại giao tiếp; ngại đến lớp.

Với mong muốn là giúp học sinh dân tộc sử dụng thành thạo Tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, thuận lợi cho các em trong học tập, giao tiếp, các em không còn mặc cảm khi đến lớp nữa là điều mà tôi cảm thấy hạnh phúc nhất. Chính vì thế mà tôi đã cố gắng học hỏi, tìm tòi các giải pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình của học sinh nơi tôi công tác. Đồng thời kết hợp những phương pháp mà Ngành đã tập huấn, hướng dẫn. Từ đó, tôi rút ra cho bản thân mình một số giải pháp sau:

Thứ nhất là: Tạo sự tự tin, mạnh dạn cho học sinh

Giáo viên cần quan tâm, gần gũi, thương yêu học sinh, giúp đỡ các em mọi mặt và chú ý tới từng việc nhỏ. Kiên trì trong việc rèn kĩ năng nói tiếng Việt cho các em trong từng tiết học, mọi lúc, mọi nơi có thể. Phối hợp tốt với phụ huynh học sinh, vận động phụ huynh học sinh dân tộc đảm bảo cho các em có đủ sách vở, đồ dùng học tập cũng như việc chuẩn bị bài ở nhà.

Thứ hai: Học hỏi, vận dụng tiếng dân tộc vào giảng dạy

Trong giảng giải kết hợp tiếng DTTS và tiếng Việt để học sinh hiểu tiếng Việt hơn. Tùy vào đối tượng học sinh là người dân tộc nào mà giáo viên học hỏi và sử dụng trong quá trình dạy học. Chẳng hạn, như điểm trường tôi công tác học sinh là người Mày, tôi phải học hỏi tiếng Mày để sử dụng một số vốn từ đã biết về tiếng Mày chuyển tiếp trong quá trình dạy học.

Dạy HSDTTS nói Tiếng Việt, giáo viên dùng tiếng dân tộc để giao tiếp, trò chuyện tạo sự gần gũi, thân thuộc giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi tiếp xúc với giáo viên.

Thứ ba: Rèn phát âm chuẩn

Với học sinh lớp 1, đây là giai đoạn đầu tiên của rèn kĩ năng nói. Vì vậy, giáo viên cần quan tâm hướng dẫn các em nói đúng âm, vần, tiếng, từ một cách kĩ hơn. Phải thật kiên trì trong từng tiết học để giúp học sinh dân tộc nói đúng, nói rõ tiếng Việt. Đồng thời, trong môn Tiếng Việt giáo viên cần cho học sinh luyện nói qua các câu đối thoại, thông qua phần trả lời các câu hỏi của bài Tiếng Việt hoặc kể chuyện; sử dụng giáo cụ trực quan, sinh động, gần gũi với đời sống của các em.

Vì vậy giáo viên cần có những biện pháp tích cực để giúp học sinh dân tộc rèn kĩ năng nói Tiếng việt của các em một cách tốt hơn, lưu loát hơn.

Thứ tư: Rèn kỹ năng nói trong các môn học

Mỗi môn học giúp học sinh dân tộc tự tin, mạnh dạn hơn trong học tập nhất là trong rèn kĩ năng nói, vì vậy giáo viên cần biết phát huy thế mạnh của mỗi môn.

Môn Toán: Trong quá trình tìm hiểu kiến thức mới, giáo viên luôn tạo điều kiện để các em luyện nói.

Môn Âm nhạc: Đây là môn học sinh động nhiều học sinh thích thú, nhật là đối với học sinh dân tộc. Dạy kĩ năng nói thông qua việc dạy các em hát theo lời ca, giai điệu của bài hát.

Thứ năm: Chú trọng đổi mới phương pháp

Đổi mới phương pháp dạy học là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Trong các tiết học giáo viên chỉ là người đạo diễn, hướng dẫn, chỉ đạo, còn học sinh là người thực hiện.

Trong quá trình rèn kĩ năng nói cho học sinh dân tộc giáo viên phải luôn sáng tạo, linh hoạt trong sử dụng phương pháp dạy học cũng như lựa chọn hình thức dạy học phù hợp với trình độ và năng lực học sinh.

Phải thật sự tế nhị, nhẹ nhàng, linh hoạt thì mới phát huy được tính tích cực của học sinh bởi học sinh dân tộc hay mặc cảm, tự ti.

Ngoài ra còn rèn học sinh kĩ năng nghe, khi bạn nói, học sinh chú ý nghe để nhận xét lời nói của bạn cũng là một cách để các em nâng cao kĩ năng nói của mình.

Nói tóm lại, đồ dùng trực quan rất quan trọng trong dạy học học sinh tiểu học; càng quan trọng hơn với học sinh lớp 1, đặc biệt là học sinh dân tộc do vốn hiểu biết còn quá ít, vốn từ Tiếng Việt hạn hẹp nên học sinh dân tộc cần có cái gì đó cụ thể, cái cụ thể đó chính là đồ dùng trực quan.

Thứ sáu: Khuyến khích động viên học sinh đúng lúc, kịp thời

Điều cần chú ý là học sinh dân tộc rất thích khen mà không muốn nghe chê. Vì vậy trong từng tiết học giáo viên cần động viên học sinh kịp thời, đúng lúc để khuyến khích tinh thần của các em, giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn trong giờ học dù đó là những tiến bộ rất nhỏ để các em có niềm tin tiếp tục tham gia nói trong giờ học một cách tích cực hơn.

Thứ bảy: Tăng cường các hoạt động giao lưu, ngoài giờ lên lớp          

Cần phải tăng cường hoạt động ngoại giờ, sinh hoạt nhóm; tăng cường thực hành giao tiếp bằng Tiếng Việt và phải tiến hành thường xuyên.

Thứ tám: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Mỗi giáo viên khi giảng dạy cho học sinh ở những vùng khó, chúng ta cần hiểu được những vấn đề về tâm lý của học sinh, về điều kiện, hoàn cảnh sống của gia đình các em để tìm ra những biện pháp giáo dục, dạy học các em hiệu quả hơn, đưa các em đến với ánh sáng của tri thức.

Đồng thời mỗi một giáo viên khi công tác tại các vùng miền núi cần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học ngôn nagữ địa phương, thâm nhập vào đời sống bản làng nơi mình công tác. Đồng thời, hằng năm các sở Phòng Giáo dục  – Đào tạo cần có chương trình, kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên dài ngày cho các giáo viên, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường lên công tác tại các vùng miền núi để việc dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có hiệu quả hơn.

Đó là những gì mà tôi đã học hỏi, tìm tòi được. Tuy nhiên đó chưa phải là những giải pháp bất biến, mà còn rất nhiều những giải pháp tối ưu hơn nên tôi và các giáo viên trẻ khác rất cần được học hỏi và đóng góp, giúp đỡ của các đồng nghiệp để bản thân tôi có thêm kinh nghiệm, trau dồi thêm năng lực cho bản thân đồng thời góp phần giúp các em HSDTTS thạo Tiếng Việt hơn, nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới.

Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số

Đề cập đến học sinh DTTS, tại một hội thảo cấp tỉnh bàn về việc xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu trong vùng DTTS tổ chức năm 2024, một thầy giáo người DTTS (đã nghỉ hưu) đề xuất lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng nên nghiên cứu đưa việc dạy chữ DTTS vào chương trình giáo dục dành cho các trường học vùng DTTS của tỉnh. Thầy giáo này lý giải, hiện nay trẻ em các DTTS bản địa (Mạ, Kơ Ho, Churu) không viết được chữ viết của dân tộc mình, chỉ nói thạo tiếng dân tộc (nhờ bắt chước người thân trong gia đình và cộng đồng) và “mù” tiếng Việt!

Tình trạng học sinh DTTS tại hầu hết các trường mầm non (thậm chí tiểu học) ở Lâm Đồng chỉ biết nói “độc” tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt đa số ngọng nghịu, phát âm không chuẩn. Đây là thực trạng hết sức khó khăn khi trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục mầm non, chuẩn bị bước vào lớp 1. Không giao tiếp được bằng tiếng Việt, cộng với tính cách thụ động, khả năng tiếp thu chậm… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của chính học sinh DTTS và chất lượng giáo dục chung của các trường. Để khắc phục thực trạng này, đồng thời thực hiện Quyết định số 1008 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2024 đến nay, UBND tỉnh Lâm Đồng đã triển khai Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2024-2024, định hướng đến năm 2025” trên địa bàn tỉnh. Cụ thể hóa đề án trên, 3 năm qua, Sở GD-ĐT tỉnh đã tích cực triển khai “Chương trình tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người DTTS vừa hoàn thành chương trình giáo dục mầm non chuẩn bị vào lớp 1” tại tất cả các trường tiểu học có học sinh DTTS trong toàn tỉnh. Ông Nguyễn Duy Hải (Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học, Sở GD-ĐT tỉnh Lâm Đồng) cho biết việc dạy tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi nhằm kịp thời trang bị cho các em vốn tiếng Việt cơ bản, tối thiểu nhất để các em có khả năng sử dụng tiếng Việt (nghe – hiểu, nói) trong học tập và giao tiếp với thầy cô, bạn bè; giúp trẻ mạnh dạn hòa nhập trong môi trường giáo dục, hình thành một số kỹ năng để thích ứng và theo kịp yêu cầu trong công tác GD-ĐT chung của tỉnh. Theo đó, các em theo học lớp tiếng Việt trong hè hoàn toàn miễn phí. Nội dung là tài liệu “Em nói tiếng Việt” dành cho học sinh lớp 1 vùng DTTS do Bộ GD-ĐT hướng dẫn. Tất cả giáo viên tham gia chương trình này đều được tập huấn về nội dung, phương pháp tổ chức dạy học và được thanh toán theo chế độ làm thêm giờ.

Ngoài sự quan tâm của ngành giáo dục, trong chiến dịch Tình nguyện hè năm nay, 20 sinh viên Trường CĐ Sư phạm Đà Lạt đã về công tác (một tháng) tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng. Tại đây, các sinh viên Khoa Sư phạm tiểu học phối hợp với giáo viên Trường Tiểu học Đăng Srõn dạy các em học sinh DTTS của trường kỹ năng đọc, viết tiếng Việt. Cô Võ Thị Hồng (Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đăng Srõn) cho biết năm học 2024-2024, toàn trường có 80 học sinh TDTS lớp 1 lên lớp 2. Do số lượng học sinh quá đông nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên gặp nhiều khó khăn do khả năng phát âm, đọc, viết tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế. Nhờ có sinh viên tình nguyện giúp, chất lượng học tập của học sinh cải thiện rõ rệt. Phạm Thị Hồng Vân (sinh viên năm 3 Khoa Sư phạm tiểu học) chia sẻ: “Đa phần học sinh DTTS ngoan và biết nghe lời; những ngày đầu còn thụ động, nhưng sau 2 tuần học tập các em tỏ ra thích thú và tiến bộ. Được trực tiếp dạy các em biết đọc, biết viết, nói được tiếng Việt, chúng em rất vui và cảm thấy việc làm của mình có ý nghĩa”.

Trao đổi về chủ trương tăng cường tiếng Việt trong hè cho học sinh DTTS, ông Nguyễn Duy Hải cho biết đến nay các địa phương trong tỉnh đã triển khai chương trình đến tất cả các trường tiểu học. Hè năm nay, toàn tỉnh có 6.639/7.317 học sinh DTTS tham gia chương trình (đạt 90%); có 133 trường triển khai với 269 lớp…

Có thể khẳng định việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS là mục tiêu, sự quyết tâm của địa phương nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ cập giáo dục của tỉnh.

Nâng Cao Việc Dạy Tiếng Việt Cho Hs Dân Tộc Thiểu Số

Tiếng Việt (TV) là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, dạy TV cho học sinh dân tộc thiểu số (HSDTTS) là vấn đề nan giải trong công tác giáo dục vùng cao, nhất là các bậc học đầu tiên.

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Giáo dục- Đào tạo (GD-ĐT) đã tổ chức nhiều chương trình, dự án, hội thảo quy mô mang tính chất dài hơi để tìm ra phương án tốt nhất nhằm nâng cao khả năng sử dụng TV cho HSDTTS. Hiện Bộ GD-ĐT có 5 phương án gắn liền với các dự án gồm: Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo trước tuổi đến trường (do Vụ GD Mầm non chủ trì); dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ trong chương trình song ngữ Jrai- Việt (Vụ GD Dân tộc); nghiên cứu thử nghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâm Nghiên cứu GD Dân tộc); dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1(Nhóm tăng cường năng lực dạy và học-dự án PEDC); dạy học lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD).

Riêng Gia Lai trước đây còn tham gia các dự án khác như dự án lớp ghép (Bộ GD-DT và UNICEF), Dự án VIE-96010 (do Sở Nông nghiệp và PTNT và Sở GD-ĐT Gia Lai phối hợp thực hiện) cũng nhằm cải thiện khả năng sử dụng TV của HSDTTS trên địa bàn.

Lớp học thực nghiệm chương trình Giáo dục song ngữ tại Trường Tiểu học Ngô Mây- xã Ia Dêr- huyện Ia Grai. Ảnh: N.T.D

Cùng với các phương án trên là các chương trình, phương pháp, tài liệu, hình thức dạy học cũng được thay đổi, cải tiến nhằm đạt hiệu quả dạy học TV cao nhất. Chẳng hạn tăng thời lượng dạy học từ 350 tiết thành 500 tiết, tăng thời gian học TV lên 2 buổi/ngày, đưa môn TV vào trường mầm non để học sinh làm quen với TV, vận dụng triệt để tài liệu, tranh ảnh, kỹ năng giao tiếp, sinh hoạt, vui chơi trong ngoài trường…

Ở Gia Lai, chương trình “Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” được triển khai 8 lớp từ lớp mẫu giáo đến hết bậc tiểu học ở xã Ia Phí (huyện Chư Pah) và xã Ia Dêr (huyện Ia Grai) bắt đầu từ năm học 2008-2009 trên bộ song ngữ Việt-Jrai. Sẽ có 6 bộ sách tương ứng từ mẫu giáo đến lớp 5 sau khi hoàn thành dự án. Ưu điểm của phương án là do dạy trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ nên học sinh nghe hiểu, tiếp thu được bài giảng và nắm bắt kiến thức nhanh.

Qua tìm hiểu thực tế một số điểm trường thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh, chúng tôi nhận thấy, các điểm trường thực nghiệm đã tiến hành khá tốt. Với tư cách của một giáo viên dạy bậc cao đẳng tiểu học nhiều năm, người viết bài này nhận thấy rằng các tài liệu tập huấn, sách giáo khoa, sách giáo viên, đồ dùng dạy học, quá trình tập huấn cho cán bộ điều hành dự án, giáo viên đứng lớp khá công phu và bài bản. Qua nghiên cứu tài liệu, trao đổi với giáo viên điều hành dự án, giáo viên trực tiếp đứng lớp và học sinh lớp này, chúng tôi nhận thấy tiến trình thực hiện dự án được lên kế hoạch chi tiết, khoa học và các khâu kiểm tra, đánh giá rất công phu bằng những phương pháp thống kê, so sánh, trắc nghiệm, đánh giá khoa học.

So với các lớp đại trà mà gần đây chúng tôi được dự giờ ở một số trường tiểu học trong thành phố Pleiku, chúng tôi nhận thấy rằng HSDTTS thuộc dự án này có kỹ năng học tập khá tốt. Từ những kỹ năng nghe-nói-đọc-viết, thao tác thực hiện lệnh của giáo viên, khả năng giao tiếp TV… đều được các em thực hiện khá nhuần nhuyễn. Đặc biệt, khả năng làm việc nhóm của các em rất tốt. Đây là kỹ năng quan trọng nhất giúp các em đủ khả năng học lên lớp trên, giao tiếp với cộng đồng cũng như khả năng làm việc độc lập của các em sau này.

Có thể nói, chương trình “Giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ” đã cho thấy kết quả bước đầu khả quan. Bộ GD-ĐT đánh giá cao kết quả việc thực hiện dự án này tại Gia Lai. Cụ thể, HSDTTS thuộc chương trình đã có kết quả học tập, rèn luyện khá tốt, tương đương hoặc có tỷ lệ khá hơn các lớp đại trà, mặc dù đây chỉ là kết quả của học kỳ I năm học đầu tiên bậc tiểu học. Điều quan trọng nhất là HSDTTS các lớp này đã tự tin hơn trong sinh hoạt và học tập, khả năng tiếp thu bài nhanh hơn, học sinh thích đến trường hơn, kỹ năng học tập tốt hơn…

Việc nâng cao việc dạy học TV cho HSDTTS vẫn là câu hỏi khó cho những người làm công tác giáo dục vùng cao. Mặc dù Nhà nước, ngành Giáo dục đã quan tâm, đầu tư rất nhiều để cải thiện chất lượng nhưng hơn ai hết các nhà quản lý giáo dục trung ương và địa phương nên có phương án linh hoạt, mềm dẻo cho từng vùng, phù hợp với từng đối tượng để hạn chế những khó khăn gặp phải. Được vậy hy vọng sẽ nâng cao năng lực sử dụng TV cho HSDTTS.

Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Qua Một Số Trò Chơi Dân Gian

Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc qua một số trò chơi dân gian

Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những chương trình đặc biệt được quan tâm của ngành giáo dục trong những năm gần đây. Bởi sự khác biệt trong học tập của các em học sinh đồng bào dân tộc thiểu số với các em học sinh người Kinh đó là các em dân tộc thường sử dụng hai ngôn ngữ trong giao tiếp cũng như trong học tập. Vì thế nó làm giảm sự phát triển về ngôn ngữ Tiếng Việt của các em. Nhất là những em học sinh lớp 1, bởi khi đặt chân lên mái trường tiểu học thì vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của các em hết sức nghèo nàn. Đa số các em đều sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, thậm chí trong học tập khi các em hỏi nhau một vấn đề nào đó, các em cũng sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ. Đây là một khó khăn hết sức lớn đối với giáo viên dạy tiểu học nói chung ở các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số. Chính vì thế tham gia thi viết sáng kiến năm học 2024 – 2024 này tôi quyết định chọn nội dung đề tài: “ Bản thân tôi là một giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm dạy lớp 1, tôi nắm bắt khá rõ về tâm sinh lí lứa tuổi những như đa số hoàn cảnh các em ở trong lớp. Chính vì thế tôi thường tìm nhiều biện pháp, phương pháp dạy học hay nhất nhằm tăng cường tiếng việt cho các em học sinh dân tộc do tôi chủ nhiệm. Năm học 2024 – 2024 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1A với số học sinh là 35 em. Trong đó có tới 31 em là học sinh thuộc đồng bào dân tộc thiểu số (Ê đê). Vẫn là những khó khăn như tôi đã trình bày ở trên. Với chuyên môn dạy lớp 1 vững vàng và những kinh nghiệm vốn có của mình tôi liên tục tìm tòi và lựa chọn thêm nhiều phương pháp dạy học tích hợp hay, hiệu quả nhằm nâng cao Tiếng Việt cho các em. Một trong những phương pháp mà tôi nhận thấy rất hiệu quả đó là tích hợp một số trò chơi dân gian trong dạy học sẽ giúp các em hòa nhập nhanh, thân thiện hơn và nâng cao khả năng giao tiếp cho các em từ đó nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt cho các em.Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số qua một số trò chơi dân gian ”

3. Nội dung các biện pháp.

Để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, giúp các em có cách nắm vững các kỹ năng về nghe – nói- đọc- viết của tiếng Việt, để các em học sinh dân tộc thiểu số học tập tốt hơn ở các môn học. Tôi đã thực hiện mộ số biện pháp như sau:

Biện pháp 2: Lựa chọn những trò chơi phù hợp với đối tượng học sinh. Sau khi đã phân loại được đối tượng học sinh tôi tiến hành lựa chọn một số trò chơi dân gian bổ ích, phát huy được khả năng nghe, đọc nói viết Tiếng Việt cho các em. Sau khi lựa chọn được một số trò chơi tôi phân ra hai loại để tổ chức nhằm đảm bảo thời gian hợp lý và tính khả thi trong tăng cường Tiếng Việt cho các em. * Nhóm trò chơi nhỏ, nhanh: hoa búp – Hoa tàn; Trời ta – Đất ta; Trán – cằm – tai; Ai nhanh – Ai đúng; Xì điện;…Những trò chơi này tôi thường sử dụng nhanh trong giờ học. * Nhóm trò chơi lớn: Tổ chức vào các buổi ngoại khóa, các hoạt động ngoài giờ lên lớp,… – Trò chơi: Bảo vệ đàn con (dựa vào trò chơi rồng rắn lên mây để tôi thiết kế lại cho phong phú và hấp dẫn tránh sự nhàm chán của học sinh). – Trò chơi: Xòe bàn tay (dựa vào trò cho chi chi chành chành tôi đã thiết kết lại cho phong phú và hấp dẫn tránh sự nhàm chán của học sinh). – Trò chơi: Ai đọc chuẩn nhất (Dựa vào các bài vè, bài đồng dao tôi thiết kế lại để tổ chức chơi cho các em phong phú)

Biện pháp 3: Tích hợp trò chơi trong các tiết học. Đây là một trong hai biện pháp chính của đề tài này nhằm phát huy tính tự giác, tinh thần hoạt động tập thể để từ đó các em nâng cao Tiếng Việt trong giao tiếp. * Hình thức tổ chức tích hợp như sau: – Đối với trò chơi nhỏ tôi thường tích hợp trong mỗi tiết dạy phân môn Học vần, môn Đạo Đức hay môn Toán. Mỗi tiết dạy, mỗi trò chơi tôi thường biến hóa dựa trên nội dung bài học để gây sự chú ý của các em, tạo không khí thân thiện gần gũi và đặc biệt khuyến khích được những học sinh ít nói, nhút nhát tăng cường giao lưu để phát huy Tiếng Việt trong giao tiếp. Ví dụ: Khi dạy đến bài Học vần K – Kh + Sau khi tổ chức xong các hoạt động chính của bài học, chuyển sang phần luyện nói thì tôi lại lồng ghép vào trò chơi: “Ai nhanh – Ai đúng” với mục tiêu là giảm căng thẳng tiết học, tăng cường khả năng giao tiếp và cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho các em. Cách chơi như sau: Tôi sẽ hô các cụm từ và học sinh phải hô theo tôi đồng thời chỉ đúng vị trí nghĩa của cụm từ vừa nêu. Học sinh nào nói nhanh và chỉ đúng tôi sẽ thưởng cho em đó (phần thưởng là những món quà nhỏ như cục tẩy, cái viết chì hay là những tràng pháo tay động viên khuyến khích,…) Khi giáo viên hô: “Tay đâu – tay đâu” Học sinh hô đáp: “tay đây – tay đây” Giáo viên hô: “Đưa tay ra nào” (học sinh đưa tay ra trước mặt) Giáo viên hô: “Khủy tay” thì học sinh phải hô theo : “Khuỷu tay” và đồng thời chỉ vào khuỷu tay của mình. Ai chỉ đúng nói nhanh sẽ được thưởng. Và tôi tăng dần độ nhanh các cụm từ và đảo nhanh các vị trí để tăng khả năng quan sát cũng như phát âm Tiếng Việt của các em: “khóe mắt”, “Đeo kính”, “Khớp tay trái”, “Khớp tay phải”, “Khuyên tai”,… Tôi lựa chọn các cụm từ có nghĩa trên cơ thể các em và có âm k – Kh. Như vậy vừa chơi mà lại vừa học đồng thời tăng cường được Tiếng Việt cho các em. Cứ mỗi tiết dạy tôi lại sử dụng 2 đến 3 trò chơi nhỏ và chỉ kéo dài 3 đến 5 phút giữa tiết hoặc cuối tiết học. Tương tự cách tổ chức như trên, ở các tiết học Đạo Đức hay môn Toán, tôi lại lựa chọn thêm những trò chơi phù hợp với nội dung bài để tăng cường Tiếng Việt cho các em. Ví dụ khi dạy môn Đạo đức, ở tiết thực hành kĩ năng cuối kì I, sau phần làm xong các nội dung trong sách giáo khoa, tôi tổ chức một số trò chơi nhỏ cuối tiết học. Tôi lựa chọn các trò chơi như: :Nhanh tay, nhanh mắt”; “Ai đúng, ai sai”, … Tôi đọc một câu nhanh, học sinh sẽ điền từ còn thiếu trong câu đó: + Đi học đầu tóc phải…… học sinh phải nêu được từ (gọn gàng) + Trong nhà anh chị em phải…… học sinh phải nêu được từ (đoàn kết hoặc thương yêu hoặc giúp đỡ) + Khi chào cờ áo quần phải…………. học sinh phải nêu được từ (chỉnh tề hoặc gọn gàng) + Với thầy, cô giáo học sinh phải….. học sinh phải nêu được từ (lễ phép) Cứ như vậy tôi thay đổi các trò chơi nhỏ cho mỗi tiết dạy để thu hút các em tham gia một cách nhiệt tình, sôi nổi, tránh cho tiết học căng thẳng, nhàm chán. Tuy nhiên dựa vào nội dung của mỗi bài học để lồng ghép trò chơi, có tiết tổ chức được trò chơi nhưng có tiết không thể tổ chức được trò chơi. Điều này phụ thuộc vào mỗi tiết học để giáo viên linh động, sáng tạo và đưa ra những hình thức tổ chức dạy học phù hợp, hấp dẫn và mang lại hiệu quả cao về mục tiêu bài dạy và tăng cường Tiếng Việt cho các em như mục tiêu của nội dung nghiên cứu đề tài.

Biện pháp 4: Tổ chức trò chơi dân gian trong hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ở trưởng tiểu học Krông Năng trong một tuần có 1 tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp vào sáng thứ tư. Ở tiết học này được bố trí hoạt động chung, có nghĩa là có khi Đội thiếu niên tổ chức tập dân vũ, thi kể chuyện đạo đức Bác Hồ,…có lúc thì giao cho lớp tự tổ chức hoạt động riêng. Mỗi lúc được tổ chức riêng, tôi thường vận dụng một số trò chơi dân gian vào để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc. Ví dụ 1: tôi tổ chức trò chơi: Bảo vệ đàn con (dựa vào trò chơi rồng rắn lên mây để tôi thiết kế lại cho sinh động và phát triển kĩ năng giao tiếp Tiếng Việt cho học sinh dân tộc) Số học sinh tham gia chơi từ 7 – 11 em, tôi chia thành nhiều nhóm để các em đều được tham gia. Trong mỗi nhóm chơi một trẻ làm “người đến quấy rối” trước một đàn con và một người “mẹ” (hoặc “bố”) bảo vệ đàn con. Các em khác làm con đứng phía sau: “bố” hoặc “mẹ”. (những em nào ít nói nhút nhát thì tôi luôn động viên làm “người đến quấy rối” hoặc “bố” hay “mẹ” nhằm giúp các em tăng cường Tiếng Việt như phương pháp nghiên cứu của đề tài. Cách thức chơi như sau: “người đến quấy rối” đến chơi nhà, dùng những ngôn ngữ đối đáp nhằm chia sẽ đàn con sau lưng người “mẹ” hay “bố”. Nếu đối đáp tốt thì người đến quấy rối sẽ thua. Còn đối đáp không tốt thì “người đến quấy rối”sẽ đuổi đàn con sau lưng mẹ. Bắt được ai thì người đó thua cuộc và ra ngoài. Cứ như thế nếu có từ 3 con bị bắt thì người “người mẹ” cũng sẽ thua. Các câu vè đối đáp như sau, “người đến quấy rối” nói: Trời xanh mây trắng Ông Thắng đến nhà Xin một gói quà Mà sao không thấy “người mẹ” đáp lời. Ấy chết! Ông Thắng Nhà chẳng có ai Chỉ đang luộc khoai Xin mời thầy thắng. Sao nhà yên ắng Mà có tiếng reo Ông sẽ làm theo Đến mời nhà chị. Đến câu này thì ông Thắng bắt đầu đuổi “Người đến quấy rối” đuổi bắt “đàn con”, “người mẹ xoay chuyển đứng đầu dang tay cản “thầy thuốc”, ” Thầy thuốc” tìm mọi cách để bắt được ” một em nào” (trẻ cuối cùng). Nếu thầy thuốc bắt được khúc đuôi thì bạn khúc đuôi bị loại khỏi cuộc chơi. Trò chơi lại bắt đầu từ đầu nhưng lúc này rồng rắn chỉ còn 7 bạn chơi, cứ chơi như thế đến khi rồng rắn ngắn dần vì mất bạn chơi. Nếu ” rồng rắn” bị đứt khúc hoặc bị ngã thì cũng bị thua. Ví dụ 2: Một loại trò chơi dân gian nữa đó là trò chơi: “Ai đọc chuẩn nhất”. Trò chơi có tác dụng rất cao cho việc nâng cao kĩ năng sống cho các em. Ở trò chơi này tôi sử dụng vào giờ sinh hoạt ngoài giờ lên lớp và thường tổ chức xen kẽ với các trò chơi dân gian để tránh nhàm chán cho học sinh. Hình thức tổ chức khá đơn giản. Tôi tập trung học sinh trên một vòng tròn tôi đứng giữa làm quản trò. Tôi đọc một bài vè sau đó cho các em đọc theo từng câu (mỗi em đọc một câu). Ai đọc kịp thì được khen, ai đọc không được hoặc đọc sai sẽ phạt nhảy cò hoặc một vài hình thức phạt vui nhộn khác. Bài vè như sau:

Mỗi buổi học tôi lại đổi một bài vè khác. Đây là những bài vè thú vị tôi sưu tầm trên mạng Internet để tổ chức chơi cho các em. Với hình thức này tôi đã giúp các em học sinh dân tộc thiểu số tăng cường Tiếng Việt của mình từng bước để cuối năm kiến thức cũng như vốn từ của các em đạt được mức độ nhất định. Ngoài ra rồi còn sử dụng nhiều trò chơi tương tự như đã trình bày trên nhằm thay đổi không khí, tránh sự nhàm chán và phát huy khả năng nói, viết Tiếng Việt của các em.

3. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng.

Trong quá trình áp dụng các biện pháp, phương pháp trên để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1A. Tôi đã gặt hái được những kết quả đáng khích lệ như sau: – Hết phần học âm (chữ) 76% học sinh lớp tôi dạy đều nắm vững chữ, âm và đọc được tiếng, từ một cách chắc chắn. – Phần vần: Học sinh nắm vần tốt nhờ học kĩ cấu tạo các nét cơ bản và các âm. – Xây dựng tiếng, từ mới rất phong phú và dần dần đọc được các đoạn văn hay bài văn dài.Kết quả trước khi áp dụng các biện pháp:

Kết quả sau khi áp dụng các biện pháp cuối năm học 2024 – 2024 như sau:

Như vậy nhìn vào bảng khảo sát kết quả đọc của học sinh trước và sau khi áp dụng các biện pháp cho thấy tính hiệu quả của các biện pháp tôi đã áp dụng là rất cao. Phần đọc lưu loát từ 10 em đã tăng lên 22 em. Điều này khẳng định tính khả thi cỉa nội dung nghiên cứu. Đặc biệt trước khi áp dụng các biện pháp, số em đọc chưa được là 4 nhưng sau khi áp dụng số em chỉ còn lại 1. Chứng tỏ rằng những biện pháp tôi thực hiện đều lang lại hiệu quả cao trong việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp 1. Điều này cũng đã được ban giám hiệu nhà trường giám sát và công nhận kết quả đó. Tuy đây là một đề tài nghiên cứu về tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, nhưng với hnững trò chơi dân gian bổ ích đã nêu trong đề tài thì vẫn có thể áp dụng được với mọi đối tượng học sinh tiểu học.

4. Kết luận về nội dung trình bày:

Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh đồng bào dân tộc thiểu số ở lớp 1 là một nhiệm vụ hết sức cần thiết. Đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ và đồng thuận từ các cấp lãnh đạo đến đội ngũ giáo viên. Với bản thân tôi, vừa là một giáo viên người đồng bào dân tộc thiểu số vừa giảng dạy học sinh đồng bào nên tôi rất hiểu về tâm sinh lí các em. Do đó tôi thấu hiểu đươc nỗi vất vả của những đồng nghiệp, những giáo viên đang dạy học sinh dân tộc như tôi. Đề tài “Các biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số qua một số trò chơi dân gian” mà tôi đã trình bày như trên cũng là một trong những nỗ lực của bản thân với một mục tiêu duy nhất là làm sao để học sinh nghe, đọc, nói, viết Tiếng Việt thành thạo để các em có điểm tựa học tập các môn học khác ở những lớp cao hơn. Tuy nhiên nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ mới nghiên cứu bước đầu. Có tính khả thi, có hiệu quả nhưng vẫn còn gặp nhiều thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và triển khai. Tôi mong rằng, sau khi phát hành, công bố nội dung này trước Hội đồng khoa học giáo dục cũng như các giáo viên đang giảng dạy, tôi sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp để tôi tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nội dung nghiên cứu của mình để giúp các em học sinh đồng bào dân tộc thiểu số học tốt hơn Tiếng Việt.

Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

MỤC LỤC Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………..2 1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………2 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài …………………………………………..3 3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………3 4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………….3 5. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………….3 II. PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………….3 1. Cơ sở lý luận …………………………………………………………… 3 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu…………………………………………..4 3. Nội dung và hình thức của giải pháp……………………………………………… .5 a. Mục tiêu giải pháp…………………………………………………………5 b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp……………………………..5 c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.

……………………….. 16

d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng………………………………………………. ……..17 III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ …………………………………………18 1. Kết luận ……………………………………………………………….18 2. Kiến nghị ……………………………………………………………..19

Người viết: Lê Thị Liên

-1-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, tất cả các trường tiểu học ở Việt Nam đều học chung một chương trình, một bộ sách giáo khoa các môn học, đều đánh giá kết quả học tập của học sinh trên một chuẩn thống nhất về kiến thức, kĩ năng và đều dạy học trực tiếp bằng tiếng Việt. Trong khi, điều kiện dạy học ở các vùng miền rất khác nhau và không phải tất cả học sinh tiểu học đều biết tiếng Việt trước tuổi đến trường. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất đối với học sinh người dân tộc Kinh nhưng lại là ngôn ngữ thứ hai đối với học sinh người dân tộc thiểu số. Trong những năm học vừa qua, công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp, ban ngành vì vậy chất lượng học tập tiếng Việt của các em đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình dạy học nên công tác giáo dục học sinh vùng dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế, chất lượng học tập của học sinh vẫn còn thấp so với mặt bằng chung. Thực tế cho thấy, ở các vùng khó khăn có nhiều học sinh dân tộc thiểu số nói chung và trường tiểu học Y Ngông nói riêng, cha mẹ học sinh phần lớn nằm trong diện lao động nghèo lại đông con, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn, nên chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con em mình ở trường cũng như ở nhà. Đa số học sinh dân tộc thiểu số trước tuổi đến trường chưa nói, giao tiếp thành thạo bằng tiếng Việt. Bên cạnh đó, các em lại ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng. Hơn nữa, tiếng mẹ đẻ còn có thể là rào cản đối với việc học tiếng Việt của các em. Hầu hết giáo viên không biết nói tiếng nói tiếng dân tộc nên công tác phối hợp với cha học sinh để nâng cao chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế. Làm thế nào để học sinh dân tộc thiểu số khắc phục được rào cản ngôn ngữ, học tốt các môn học trong chương trình tiểu học và đạt chuẩn kiến thức kĩ năng chung là vấn đề tôi luôn băn khoăn, trăn trở để tìm giải pháp hữu hiệu nhất. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số”. Người viết: Lê Thị Liên

-2-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Người viết: Lê Thị Liên

-3-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của Quốc gia, được sử dụng trong nhà trường. Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc không thông thạo tiếng Việt sẽ là rào cản rất lớn trong quá trình nắm bắt tri thức của học sinh. Tăng cường tiếng Việt là một trong những giải pháp nhằm giúp học sinh dân tộc thiểu số có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Trong những năm học vừa qua, công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương. Lãnh đạo nhà trường luôn xác định đúng tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số vì vậy đã xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ, đưa ra một số biện pháp phù hợp để tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Hàng năm, 100% số học sinh dân tộc thiểu số trong toàn trường được tăng cường tiếng Việt. Đa số giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm trong công tác, có ý thức tự học, tự rèn, khắc phục hạn chế, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trường Tiểu học Y Ngông được thành lập năm 2008 với ba điểm trường đóng trên ba buôn đặc biệt khó khăn của xã Dur Kmăl. Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số hàng năm chiếm trên 98% tổng số học sinh toàn trường. Hầu hết các em thuộc diện gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức về giáo dục và chăm lo việc học hành của cha mẹ học sinh đối với con em còn nhiều hạn chế. Vì vậy việc phối hợp với cha mẹ học sinh để nâng cao chất lượng học tập cho các em gặp không ít khó khăn. Đội ngũ giáo viên chủ yếu là người dân tộc kinh từ vùng thuận lợi chuyển vào công tác tại đơn vị. Hầu hết giáo viên không biết nói tiếng dân tộc cũng như không hiểu biết nhiều về phong tục tập quán của đồng bào nên công tác vận động học sinh ra lớp, phối hợp với cha mẹ học sinh để tăng cường tiếng Việt, nâng cao chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế. Một số giáo viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm về chuyên môn nên còn gặp những Người viết: Lê Thị Liên

-4-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

-5-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

công tác bồi dưỡng đội ngũ muốn đạt hiệu quả cao cần phải thực hiện một cách có kế hoạch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của nhà trường và nhu cầu của đội ngũ giáo viên. Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, nhà trường chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên một số vấn đề cơ bản sau: – Bản chất của tăng cường tiếng Việt là giúp học sinh chưa biết hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt không có nghĩa là tăng thêm lượng kiến thức mà chúng ta có thể giảm bớt hay nói cách khác là điều chỉnh lượng kiến thức làm cho nó dễ hiểu hơn, phù hợp hơn với đối tượng học sinh. – Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có vai trò quan quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Bởi vì, đối với học sinh dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Học sinh học bằng ngôn ngữ 1 (NN1) so với ngôn ngữ 2 (NN2) có sự khác biệt, cụ thể: + Học sinh học bằng NN1 có vốn tiếng Việt khoảng 4000 từ (trước khi đi học), tư duy trực tiếp bằng TV (tiếp cận TV tự nhiên), tiếp thu ngôn ngữ hiệu quả từ nghe – nói – đọc – viết và có tác động tích cực của gia đình, cộng đồng. + Học sinh học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn chế do không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ. – Khi thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần giúp các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm mà các em trích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức độ từ dễ đến khó. Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân. Vận dụng Người viết: Lê Thị Liên

-6-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Sử dụng đồ dùng học tập đa dạng, thường xuyên trong các hoạt động học tập. Hiểu được sự khác biệt giữa học sinh kinh và học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng việt sẽ giúp giáo viên lựa chọn được những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh học bằng NN2 lấp được chỗ trống về sự chênh lệch khoảng 4000 từ (trước khi đến trường). b.2. Thực hiện hiệu quả công tác Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường Chuẩn bị tiếng Việt là bước đầu của tăng cường tiếng Việt. Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một giúp các em có thể nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè; nhận diện được các chữ cái tiếng Việt, biết cách cầm bút, tư thế ngồi viết, thuộc một số bài hát, các nề nếp học tập…; có tâm thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục. Công tác chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số thường được tổ chức trong dịp hè, trong khoảng thời gian một tháng vào trước năm học. Để thực hiện hiệu quả công tác này, trước hết, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng kế hoạch Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một; phân công nhiệm vụ cụ thể và triển khai kế hoạch kịp thời đến từng giáo viên trong trường; phối hợp tốt với thôn buôn và cha mẹ học sinh điều tra vận động học ra lớp. Chương trình học được thực hiện theo chương trình “Tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc” theo tài liệu “Kế hoạch bài học Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường” của Bộ (tài liệu được cấp phát cho giáo viên tập huấn hè 2008), gồm 60 bài, 180 tiết. Căn cứ vào đối tượng HS cụ thể của từng lớp, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn một số nội dung ở tài liệu (phù hợp với đối tượng) để dạy cho trẻ. Ví dụ: – Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, giáo viên lựa chọn số lượng,

Người viết: Lê Thị Liên

-7-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

-8-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

thích, khả năng tiếp thu, đặc điểm cá nhân của học sinh,… – Sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường tổ chức dạy học theo nhóm, trò chơi học tập; sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên, có hiệu quả; khuyến khích sử dụng các trò chơi học tập để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh. – Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích giáo viên tự học tiếng mẹ đẻ của học sinh để giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ (có thể sử dụng song ngữ để giải nghĩa từ,…) – Sử dụng hiệu quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tài liệu bổ trợ tiếng Việt 1,2,3″ để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong các buổi học thứ hai. – Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học (giáo viên chủ nhiệm lập danh sách những học sinh cần tăng cường tiếng Việt cho giáo viên bộ môn, giáo viên bộ môn dành thời gian trong mỗi tiết học để tăng cường tiếng Việt cho học sinh). – Riêng khối lớp một, chỉ đạo giáo viên thực hiện phương án tăng thời lượng tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết (3 tiết/ bài) đối với chương trình hiện hành ( trong những năm học trước và năm học 2024-2024). Bên cạnh việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học, việc tổ chức dạy học môn Tiếng Êđê cho học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường cũng rất cần thiết. Học tiếng mẹ đẻ không chỉ giúp học sinh biết giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng, chữ viết của dân tộc mình mà còn hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc học tập các môn học khác, đặc biệt là môn tiếng Việt. Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt trong các môn học, lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, lãnh đạo nhà trường góp ý, chia sẻ và cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện.

Người viết: Lê Thị Liên

-9-

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

– 10 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

– 11 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

H1: Hội thi Phụ trách đội giỏi

Người viết: Lê Thị Liên

– 12 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

H2: Tổ chức các trò chơi dân gian trong tiết Hoạt động tập thể đầu tuần Bên cạnh việc tổ chức các hội thi, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp cũng là một trong những tiêu chí được nhà trường hết sức quan tâm. Trước hết, phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện: giữ vệ sinh khuôn viên trường, vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; giữ gìn vệ sinh và cảnh quan môi trường, có nhiều cây xanh bóng mát trong sân trường,… Tổ chức cho học sinh chăm sóc cây thường xuyên; vệ sinh phòng học đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng qui cách, đủ chỗ ngồi; trang trí lớp học thân thiện. Tổ chức hiệu quả các hoạt động tập thể lành mạnh giúp xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, trò và trò. Giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, ứng xử hợp lí các tình huống trong cuộc sống, kĩ năng làm việc và học tập theo nhóm, có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội… vì vậy, trong những năm học gần đây, không có tai nạn đáng tiếc nào xẩy ra với học sinh. Các em tự tin hơn trong giao tiếp, tích cực, tự giác hơn trong việc chấp hành các nội quy của nhà trường. Người viết: Lê Thị Liên

– 13 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

b.5. Tăng cường công tác vận động duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần Duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung và công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Để làm tốt công tác duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: b.5.1. Công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Bác Hồ đã chỉ rõ: ” Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách, trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải thực sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên. Chuẩn bị cho năm học mới, ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức thống kê số liệu học sinh đầu năm; tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung truyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào lớp 1. Đối với những gia đình ở xa thôn buôn, chúng tôi phân công giáo viên dân tộc tại chỗ đến tận nhà học sinh để vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đến trường nhập học. Sau ngày tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải Người viết: Lê Thị Liên

– 14 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động. Phối hợp với ban chỉ đạo xã tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò của công tác giáo dục. Vận động các gia đình tạo điều kiện cho con em được đi học và thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình. Tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cùng quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương. Từ đó, huy động các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập… b.5.2. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giúp nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh, trong đó có công tác duy trì sĩ số. Một giáo viên chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học tốt mà còn biết cách để giúp học sinh siêng năng học tập, yêu thích đến trường và làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần, ngay sau khi tổ chức bàn giao chất lượng học sinh, chúng tôi tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh cho từng giáo viên chủ nhiệm lớp, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để xét thi đua cuối năm. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm kiểm tra thường xuyên việc đi học chuyên cần của học sinh. Nếu học sinh nghỉ học không có lý do quá hai ngày, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đến nhà học sinh để vận động các em trở lại lớp. Trường hợp học sinh vẫn không ra lớp sau khi đã được vận động thì phải báo ngay cho ban giám hiệu nhà trường để kịp thời phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương có biện pháp vận động học sinh đi học lại. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình để giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ giúp các em được tiếp xúc với Người viết: Lê Thị Liên

– 15 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

môi trưòng rộng lớn hơn, phong phú hơn. Từ đó, học sinh học hỏi được nhiều hơn, có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, yêu thích đến trường hơn và từng bước giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình. b.5.3. Phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò hết sức quan trọng trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên cần của học sinh trong các buổi học thứ hai. Vì vậy, bên cạnh việc giao trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi cũng gắn trách nhiệm cho giáo viên bộ môn trong công tác phối hợp vận động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số học sinh. Học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai có thể vì do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập. Cũng có thể vì các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,…Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn. Hơn nữa, thông qua việc trao đổi với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm được số lượng của học sinh nghỉ học qua từng buổi học, tiết học, kịp thời tìm hiểu nguyên nhân để có pháp phù hợp vận động học sinh đi học chuyên cần. b.5.4.Nâng cao chất lượng học tập của học sinh Tiếp thu bài chậm là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh dễ chán học và bỏ học. Để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, người giáo viên không chỉ cần có chuyên môn tốt mà còn phải có sự kiên trì, tận tụy, hiểu tâm lý học sinh. Nếu người giáo viên yêu cầu ở các em quá cao hay phương pháp dạy học không phù hợp có thể khiến các em nẩy sinh tâm lý “sợ học” dẫn đến chán học và bỏ học. Vì vậy, bài giảng cần phải vừa sức với học sinh nhưng vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức và thu hút được các em trong học tập. Để thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, ngay từ đầu năm học, chúng tôi đã chỉ đạo giáo viên tổ chức khảo sát chất lượng học sinh. Thông qua khảo sát, giáo viên nắm bắt trình độ nhận thức của từng em, Người viết: Lê Thị Liên

– 16 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

phân loại các đối tượng học sinh trong lớp từ đó xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp. Khuyến khích giáo viên tăng cường sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tổ chức các tiết học vui tươi, nhẹ nhàng, hiệu quả, kích thích được sự khám phá, tìm tòi, tạo hứng thú cho các em trong học tập. Tạo nhiều cơ hội để học sinh được giao tiếp bằng tiếng Việt trong các hoạt động học, cần tránh sự căng thẳng, khô cứng trong các tiết học làm cho các em chán học dẫn tới bỏ học. Thường xuyên liên hệ, Phối hợp với cha mẹ học sinh để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Tuyên dương, khen thưởng kịp thời những học sinh có tiến bộ, đạt thành tích cao trong học tập. Từ đó, nhân rộng điển hình trong toàn trường. Gắn trách nhiệm cho từng giáo viên trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh, lấy chất lượng giáo dục học sinh làm tiêu chí để đánh giá giáo viên cuối năm học. c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Các giải pháp, biện pháp trong đề tài có mối quan hệ chặt chẽ, lôgic với nhau. Đội ngũ giáo viên trong nhà trường thực sự yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có năng lực chuyên môn là một trong những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Bên cạnh đó, làm tốt công tác duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần sẽ là nền tảng quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong nhà trường. Giáo viên cần linh hoạt khi thực hiện các giải pháp, biện pháp trên để đạt được hiệu quả cao nhất. d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng Đề tài thực hiện đã góp phần thiết thực trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại đơn vị. Các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được triển khai và thực hiện hiệu quả trong Người viết: Lê Thị Liên

– 17 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

nhà trường. Kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh được nâng lên; các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp; tích cực, tự giác hơn trong học học tập; chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số của nhà trường được nâng lên. Các giải pháp trên tiếp tục được áp dụng hiệu quả tại đơn vị trong năm học 2024-2024. Kết quả khảo nghiệm về kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số năm học 2024-2024 cụ thể như sau: Tổng số học sinh dân tộc thiểu số

276

Trước khi thực hiện đề tài (đầu năm học) Có kĩ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt, đáp ứng được yêu cầu học tập.

Sau khi thực hiện đề tài (cuối năm học) Có kĩ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt, đáp ứng được yêu cầu học tập.

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

185

67.0

91

33.0

262

96.3

10

3.7

Kết quả tham gia các hội thi các cấp năm học 2024-2024 đạt được như sau: Thi học sinh giỏi toán, Tiếng Anh qua mạng cấp huyện đạt 02 em; Tham gia Hội khỏe Phù Đổng cấp huyện 01 học sinh đạt giải ba môn điền kinh; Giao lưu tiếng Việt học sinh dân tộc thiểu số cấp huyện – phần thi năng lực đạt công nhận 06/06 học sinh tham gia, trong đó 02 em đạt giải ba. Thông qua khảo nghiệm, giúp bản thân nắm bắt được một cách chính xác thực trạng của vấn đề mà đề tài nghiên cứu. Từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý nhất nhằm giải quyết vấn đề; kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp để có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình thực hiện. Đề tài thực hiện đã có tác động tích cực đến ý thức của đội ngũ giáo viên trong công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và trang bị cho mình các kỹ năng, kiến thức cần thiết để đảm nhiệm công việc một cách tự tin hơn.

Người viết: Lê Thị Liên

– 18 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Các giải pháp, biện pháp trong đề tài dễ thực hiện, có thể áp dụng cho các trường tiểu học có học sinh dân tộc thiểu số và đã được chia sẻ tại chuyên đề cấp huyện năm học 2024-2024. III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Tăng cường tiếng Việt là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Đây là việc làm xuyên suốt trong hoạt động giáo dục. Muốn thực hiện tốt các giải pháp trên, nhà trường cần thực hiện tốt một số vấn đề sau: Định hướng cho giáo viên lựa chọn các nội dung bồi dưỡng thường xuyên phù hợp với nhiệm vụ năm học, tình hình thực tế của đơn vị, địa phương và nhu cầu cần bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên. Nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề trong nhà trường theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, đặc biệt chú trọng đến các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện cho giáo viên dự giờ, thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm trong trường, cụm chuyên môn cũng như các trường bạn trong huyện để nâng cao năng lực chuyên môn. Tổ chức hiệu quả lớp Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường. Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt công văn số 8114/BGDĐT ngày 15/9/2009, công văn số 145/TB-BGDĐT ngày 2/7/2010 về việc Thông báo Kết luận của Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển tại hội nghị giao ban dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Công tác tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số phải được thực hiện thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Phối kết hợp tốt với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và cha mẹ học sinh trong việc quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương nói chung và của nhà trường nói riêng. Từ đó, huy động các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học chuyên cần, làm tốt công tác duy trì sĩ số. 2. Kiến nghị – Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tổ chức các chuyên đề về tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Người viết: Lê Thị Liên

– 19 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Đề tài : Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Lê Thị Liên

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………… CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Hiệu trưởng

Người viết: Lê Thị Liên

– 20 –

Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc

Học sinh là người dân tộc thiểu số vốn dĩ rất nhút nhát, ngại giao tiếp với bạn bè người Kinh và thầy cô giáo. Nhiều em khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng và im lặng vì hoặc là không hiểu được câu hỏi hoặc là không tự tin với những câu trả lời bằng tiếng phổ thông của mình do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Trong khi chương trình sách giáo khoa quá tải, chưa thật sự phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số; giáo viên thì ôm đồm, “tham”, chạy đua với thời gian, tìm mọi cách để làm sao truyền đạt, chuyển tải hết những kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian của 1 tiết học. Do đó tiết học thường rơi vào tình trạng hối hả nhưng trầm lặng, nặng nề, khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều. Vì vậy, muốn tiết dạy đạt hiệu quả cần tạo ra một không khí thật nhẹ nhàng, hấp dẫn. Đây là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tất cả các Bậc học đặc biệt là bậc Mầm non.

Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số, trường tiểu mẫu giáo Hoa Tang Bi đã có những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và nhiều giáo viên ở trường mẫu giáo Hoa Tang Bi đã áp dụng những phương pháp phù hợp tùy theo các môn học nhưng đều chú trọng đến những yếu tố vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học (chủ yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ sử dụng ngôn ngữ) như: Đọc thơ luyện phát âm cho trẻ…

* Tạo điều kiện bồi dưỡng cho giáo viên học tiếng Êđê

Cán bô, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có rất nhiều thuận lợi để học tiếng Êđê để phục vụ cho việc giao tiếp với trẻ, vì ở trường chiếm 50% là giáo viên người Êđê, tiếp xúc và trao đổi những câu từ đơn giản và thông dụng nhất, nhà trường cũng tạo điều kiện và khuyên khích chị em đi học lớp học tiếng Êđê và tìm hiểu thêm về bản sắc và phong tục tập quán của người Êđê.

* Kết hợp với hội cha mẹ học sinh là người Êđê

Nhà trường và Ban chấp hành hội phụ huynh cùng nhau kết hợp để tham gia tổ chức các phong trào của nhà trường cũng như của ngành đưa ra. Tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các khối lớp với nhau, tổ chức các ngày lễ hội như ngày 8/3, Gia đình dinh dưỡng trẻ thơ…để có dịp giao tiếp giữa cô trò và cả phụ huynh gần gũi thân mật, tự tin hơn.

* Kết hợp với Ban tự quản thôn, Buôn, tổ dân phố

Ban giám hiệu nhà trường cùng kết hợp với Ban tự quản, thôn, Buôn, tổ dân phố tổ chức họp dân trong Buôn để tuyên truyền rộng rãi các mặt hoạt động tổ chức của nhà trường và có ích cho nhân dân, như đưa con em đi học đầy đủ khi đến tuổi đi học, để trẻ nhanh tiếp xúc và giao tiếp với bạn bè ở trường bằng tiếng phổ thông, trẻ được học, được chơi sạch sẽ. Tham gia đầy đủ các phong trào của trường tổ chức cũng như của thôn, Buôn tổ chức.

Thời gian hè đề nghị đoàn thanh niên của Buôn phải tổ chức những trò chơi có ích cho trẻ, được giao lưu học hỏi từ bạn bè, giao tiếp với bạn bè bằng tiếng phổ thông. Tạo sự mạnh dạn cho trẻ khi đi học tốt hơn, trẻ sẽ không bị nhút nhát hoặc kì thị phân biệt ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Giúp Hs Dân Tộc Thạo Tiếng Việt trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!