Xu Hướng 1/2023 # Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Lớp 1 Nắm Bắt Được Âm Trong Tiếng Việt 1 # Top 6 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Lớp 1 Nắm Bắt Được Âm Trong Tiếng Việt 1 # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Lớp 1 Nắm Bắt Được Âm Trong Tiếng Việt 1 được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

“Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 nắm bắt được âm trong Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục”

Trong chương trình này giáo viên cần dạy kỹ 12 tiết bài tiếng. Còn dạy bài âm đối với học sinh không cần học qua lớp Mẫu giáo, trong tập 1 gồm có 9 tuần dạy về phần âm (lưu ý phần âm mẫu 3 là quan trọng nhất. Khi dạy, bắt buộc giáo viên phải phát âm chuẩn, dùng từ chuẩn , khi nói: các em đọc âm…, vần…, tiếng… các em viết con chữ…, viết chữ…; âm Trong tiết dạy cần chú ý đến việc so sánh rất cần thiết vì học sinh hay sai ở âm cuối giáo viên cần làm giống và khác nhau Ở giai đoạn này, học sinh được học cấu trúc âm – chữ theo nguyên tắc: phụ âm ghép với nguyên âm để tạo thành tiếng (ma, mà, má, mạ…) Gồm 22 phụ âm và 11 nguyên âm (chỉ nguyên âm đơn, riêng khi dạy ở âm cờ có xuất hiện âm đệm u là điểm để phân biệt với vần sau này); dạy tiếng Việt là dạy chữ ghi âm, nghe sao viết vậy, học sinh phải được nhìn, nghe và luyện phát âm đúng (khi giáo viên phát âm mẫu); điểm ngoại lệ là dạy những âm được ghi bằng hai, ba chữ cái:

Bài đọc trong sách giáo khoa yêu cầu cần đạt chuẩn trang bên trái trước mà học sinh cần đạt, còn trang bên phải chỉ dành cho đối tượng học sinh nắm bài tốt và nhanh hơn, có thể lựa chọn 1 đoạn theo yêu cầu phù hợp với đối tượng học sinh để cho học sinh đọc không nhất thiết phải cho học sinh đọc cả bài. Cần bám chuẩn chương trình cụ thể: cuối học kỳ I bài đọc 20 tiếng, bài viết 1 tiếng/ phút.

Ví dụ: có thể học sinh đọc lại cho cô viết, giáo viên hỏi luyện cho học sinh viết, giáo viên viết nguyên âm, phụ âm vào bìa rô ky cho học sinh đọc trước khi vào lớp, ôn hàng ngày, để học sinh thuộc lòng.

đọc phân tích để “kiểm tra” đọc trơn. Đọc trơn để “thẩm định” đọc phân tích.

cờ được ghi bằng con chữ cờ (c), con chữ ka (k), con chữ cu (q); đánh vần ví dụ:i và y giáo viên thực hiện so sánh vào cuối việc 1, cần đọc mẫu hướng dẫn cách đọc và viết phải chuẩn. : cờ -a-ca; cờ- e- ke; cờ- ua- cua; cờ-oa- qua… ch, kh, ng, ngh, gh, nh, ph, th…(thường được dạy liền nhau để dễ phân biệt và gắn liền với luật chính tả: c- ch; g-gh; ng- ngh); nếu học sinh không nhớgiáo viên phải nói ra các âm được ghi bằng hai, ba chữ cái đồng thời thường xuyên cho học sinh nêu lại luật chính tả: g/gh, ng/ngh: tương tự cấu trúc như với c và k;riêng đối với những trường hợpnhư tr/ch; v/d/gi; r/d; s/x và các dấu thanh, đọc từ phiên âm tiếng nước ngoài, cũng bắt đầu được dạy từ giai đoạn này (sẽ đề cập ở phần sau). Về các giai đoạn sau này, nội dung dạy học cũng luôn được lặp lại, yêu cầu học sinh nhắc lại thường xuyên khi học các mẫu 2,3,4,5.

khi dạy chữ thì cần chú ý bộ nét, cơ bản là dạy đặt bút, chấm tọa độ, kéo viết, kết thúc, tên nét phải nắm và thuộc, học sinh quên giáo viên cho học sinh nhắc lại để nhớ, củng cố cho học sinh viết các nét và thuộc các nét.

Nguyễn Thị Lan @ 11:15 21/11/2018 Số lượt xem: 3016

Một Số Giải Pháp Giúp Hs Dân Tộc Thạo Tiếng Việt

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH DÂN TỘC THẠO TIẾNG VIỆT

Trọng Hóa là một trong những xã biên giới đa số người dân là người dân tộc thiểu số, dân trí còn thấp, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn Hs khi đến trường chưa biết sử dụng Tiếng Viết, vì thế rất khó khăn trong học tập, ngại giao tiếp; ngại đến lớp.

Với mong muốn là giúp học sinh dân tộc sử dụng thành thạo Tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, thuận lợi cho các em trong học tập, giao tiếp, các em không còn mặc cảm khi đến lớp nữa là điều mà tôi cảm thấy hạnh phúc nhất. Chính vì thế mà tôi đã cố gắng học hỏi, tìm tòi các giải pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình của học sinh nơi tôi công tác. Đồng thời kết hợp những phương pháp mà Ngành đã tập huấn, hướng dẫn. Từ đó, tôi rút ra cho bản thân mình một số giải pháp sau:

Thứ nhất là: Tạo sự tự tin, mạnh dạn cho học sinh

Giáo viên cần quan tâm, gần gũi, thương yêu học sinh, giúp đỡ các em mọi mặt và chú ý tới từng việc nhỏ. Kiên trì trong việc rèn kĩ năng nói tiếng Việt cho các em trong từng tiết học, mọi lúc, mọi nơi có thể. Phối hợp tốt với phụ huynh học sinh, vận động phụ huynh học sinh dân tộc đảm bảo cho các em có đủ sách vở, đồ dùng học tập cũng như việc chuẩn bị bài ở nhà.

Thứ hai: Học hỏi, vận dụng tiếng dân tộc vào giảng dạy

Trong giảng giải kết hợp tiếng DTTS và tiếng Việt để học sinh hiểu tiếng Việt hơn. Tùy vào đối tượng học sinh là người dân tộc nào mà giáo viên học hỏi và sử dụng trong quá trình dạy học. Chẳng hạn, như điểm trường tôi công tác học sinh là người Mày, tôi phải học hỏi tiếng Mày để sử dụng một số vốn từ đã biết về tiếng Mày chuyển tiếp trong quá trình dạy học.

Dạy HSDTTS nói Tiếng Việt, giáo viên dùng tiếng dân tộc để giao tiếp, trò chuyện tạo sự gần gũi, thân thuộc giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi tiếp xúc với giáo viên.

Thứ ba: Rèn phát âm chuẩn

Với học sinh lớp 1, đây là giai đoạn đầu tiên của rèn kĩ năng nói. Vì vậy, giáo viên cần quan tâm hướng dẫn các em nói đúng âm, vần, tiếng, từ một cách kĩ hơn. Phải thật kiên trì trong từng tiết học để giúp học sinh dân tộc nói đúng, nói rõ tiếng Việt. Đồng thời, trong môn Tiếng Việt giáo viên cần cho học sinh luyện nói qua các câu đối thoại, thông qua phần trả lời các câu hỏi của bài Tiếng Việt hoặc kể chuyện; sử dụng giáo cụ trực quan, sinh động, gần gũi với đời sống của các em.

Vì vậy giáo viên cần có những biện pháp tích cực để giúp học sinh dân tộc rèn kĩ năng nói Tiếng việt của các em một cách tốt hơn, lưu loát hơn.

Thứ tư: Rèn kỹ năng nói trong các môn học

Mỗi môn học giúp học sinh dân tộc tự tin, mạnh dạn hơn trong học tập nhất là trong rèn kĩ năng nói, vì vậy giáo viên cần biết phát huy thế mạnh của mỗi môn.

Môn Toán: Trong quá trình tìm hiểu kiến thức mới, giáo viên luôn tạo điều kiện để các em luyện nói.

Môn Âm nhạc: Đây là môn học sinh động nhiều học sinh thích thú, nhật là đối với học sinh dân tộc. Dạy kĩ năng nói thông qua việc dạy các em hát theo lời ca, giai điệu của bài hát.

Thứ năm: Chú trọng đổi mới phương pháp

Đổi mới phương pháp dạy học là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Trong các tiết học giáo viên chỉ là người đạo diễn, hướng dẫn, chỉ đạo, còn học sinh là người thực hiện.

Trong quá trình rèn kĩ năng nói cho học sinh dân tộc giáo viên phải luôn sáng tạo, linh hoạt trong sử dụng phương pháp dạy học cũng như lựa chọn hình thức dạy học phù hợp với trình độ và năng lực học sinh.

Phải thật sự tế nhị, nhẹ nhàng, linh hoạt thì mới phát huy được tính tích cực của học sinh bởi học sinh dân tộc hay mặc cảm, tự ti.

Ngoài ra còn rèn học sinh kĩ năng nghe, khi bạn nói, học sinh chú ý nghe để nhận xét lời nói của bạn cũng là một cách để các em nâng cao kĩ năng nói của mình.

Nói tóm lại, đồ dùng trực quan rất quan trọng trong dạy học học sinh tiểu học; càng quan trọng hơn với học sinh lớp 1, đặc biệt là học sinh dân tộc do vốn hiểu biết còn quá ít, vốn từ Tiếng Việt hạn hẹp nên học sinh dân tộc cần có cái gì đó cụ thể, cái cụ thể đó chính là đồ dùng trực quan.

Thứ sáu: Khuyến khích động viên học sinh đúng lúc, kịp thời

Điều cần chú ý là học sinh dân tộc rất thích khen mà không muốn nghe chê. Vì vậy trong từng tiết học giáo viên cần động viên học sinh kịp thời, đúng lúc để khuyến khích tinh thần của các em, giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn trong giờ học dù đó là những tiến bộ rất nhỏ để các em có niềm tin tiếp tục tham gia nói trong giờ học một cách tích cực hơn.

Thứ bảy: Tăng cường các hoạt động giao lưu, ngoài giờ lên lớp          

Cần phải tăng cường hoạt động ngoại giờ, sinh hoạt nhóm; tăng cường thực hành giao tiếp bằng Tiếng Việt và phải tiến hành thường xuyên.

Thứ tám: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Mỗi giáo viên khi giảng dạy cho học sinh ở những vùng khó, chúng ta cần hiểu được những vấn đề về tâm lý của học sinh, về điều kiện, hoàn cảnh sống của gia đình các em để tìm ra những biện pháp giáo dục, dạy học các em hiệu quả hơn, đưa các em đến với ánh sáng của tri thức.

Đồng thời mỗi một giáo viên khi công tác tại các vùng miền núi cần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học ngôn nagữ địa phương, thâm nhập vào đời sống bản làng nơi mình công tác. Đồng thời, hằng năm các sở Phòng Giáo dục  – Đào tạo cần có chương trình, kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên dài ngày cho các giáo viên, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường lên công tác tại các vùng miền núi để việc dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có hiệu quả hơn.

Đó là những gì mà tôi đã học hỏi, tìm tòi được. Tuy nhiên đó chưa phải là những giải pháp bất biến, mà còn rất nhiều những giải pháp tối ưu hơn nên tôi và các giáo viên trẻ khác rất cần được học hỏi và đóng góp, giúp đỡ của các đồng nghiệp để bản thân tôi có thêm kinh nghiệm, trau dồi thêm năng lực cho bản thân đồng thời góp phần giúp các em HSDTTS thạo Tiếng Việt hơn, nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới.

Rèn Phát Âm Chuẩn Cho Học Sinh Lớp 1 Trong Phân Môn Tiếng Việt

Chúng ta biết rằng một nền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng đóng góp cho sự phát triển năng lực khoa học – công nghệ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững là cái đích mà tất cả các quốc gia đều nhắm tới. Mục tiêu của nền giáo dục là mang đến cho học sinh niềm say mê học tập, khát khao được vươn tới những chân trời mới của tri thức với một niềm tin mãnh liệt rằng mình có thể thực hiện được khát vọng đó. Nói cách khác giáo dục phải đặt trọng tâm vào việc khơi dậy sự say mê học tập, kích thích sự tò mò và sáng tạo của học sinh để các em có khả năng kiến tạo kiến thức từ những gì nhà trường mang đến cho họ để học sinh thấy được mỗi ngày đến trường là một ngày có ích. Như vậy một nền giáo dục tiên tiến không đặt trọng tâm vào việc giúp người học tiếp thu các tri thức khoa học mà nhà trường mang lại cho họ. Mà mục tiêu của nền giáo dục đó là giúp người học nhận ra được những năng lực trí tuệ của mình để đi tìm tiếp những lời giải cho những vấn đề chưa hẳn hoàn toàn đã viết theo con đường phù hợp nhất với năng lực trí tuệ của bản thân. Vì vậy trong công cuộc xây dựng đất nước trở thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện chỉ thị 06-CP/TW của bộ chính trị về việc thực hiện cuộc vận động ” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thực hiện cuộc vận động ” Mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức tự học tự sáng tạo cho học sinh noi theo”. Thực hiện theo công văn sử dụng làm đồ dùng có sẵn và đồ dùng tự làm trong mỗi tiết dạy. Thực hiện thông tư 30/2014/TT-BGDĐT về quy định đánh giá học sinh tiểu học giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học như hiện nay. Tôi tự nhận thấy bậc tiểu học là một nền tảng mang tính hội tụ toàn diện trong 9 môn học. Đặc biệt ở lớp 1 Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác. Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kĩ năng: Nghe- nói- đọc – viết cho học sinh. Tập đọc là một trong những phân môn của chương trình giảng dạy ở bậc tiểu học. Vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu cho học sinh ở bậc tiểu học. Kĩ năng đọc có nhiều mức độ đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức, đọc diễn cảm. Bên cạnh những thành công còn có nhiều hạn chế là học sinh của chúng ta chưa đọc được như mong muốn các em chưa nắm được công cụ để lĩnh hội được tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản được đọc. Nên việc dạy đọc phải có định hướng, có kế hoạch. Đặc biệt là học sinh lớp 1 lớp đầu cấp. Việc dạy đọc cho học sinh thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt ở lớp 1 thì khi học ở các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn, mà mục tiêu của môn Tiếng Việt là phải hướng đến giáo dục các em yêu Tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Thế nhưng mặt âm thanh của ngôn ngữ chưa được chú ý đúng mức, cần đọc bài tập đọc với giọng như thế nào, làm thế nào để chữa lỗi cho học sinh khi phát âm, làm thế nào để phát âm chuẩn? Để từ đó các em đọc hay hơn diễn cảm hơn và làm tiền đề cho các em hiểu văn bản được đọc, để cho những gì các em đọc được tác động vào cuộc sống của các em. Đó là những trăn trở của tôi trong mỗi tiết dạy tập đọc. Vì vậy, tôi chọn đề tài: ” Rèn phát âm chuẩn cho học sinh lớp 1 trong phân môn Tiếng Việt “.

b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

Giáo viên cần luyện kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh ngay từ chữ cái đầu tiên. Muốn học sinh phát âm chuẩn trước hết giáo viên phải phát âm chuẩn, phải biết cách lắng nghe và quan sát cách phát âm của từng học sinh để nhanh chóng nhận ra lỗi phát âm của các em là do đâu. Từ đó giáo viên lập kế hoạch hướng dẫn cho các em phát âm theo mẫu. Giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh tự quan sát và lắng nghe lời đọc của bạn. Cho học sinh tự nêu lỗi phát âm của mình. Sau đó giáo viên hướng dẫn cách phát âm của chữ em phát âm chưa đúng và nghe cô đọc mẫu. Từ đó các em phát âm lại theo âm chuẩn thật chính xác.

Ví dụ: Học âm v trong lớp có 8 em là tiếng của miền Nam các em phát âm sai giữa v/d, giáo viên hưỡng dẫn phát âm trước và sau đó gọi học sinh đọc chuẩn đọc trước, tiếp theo gọi em phát âm chưa đúng luyện đọc lại.

Giáo viên hướng dẫn cách phát âm của từng chữ ví dụ: âm “v” với phụ âm v giáo viên cần mô tả vị trí của lưỡi; răng trên ngậm hờ môi dưới, hơi ra bị sát nhẹ rồi giáo viên phát âm mẫu, học sinh Nam, Thảo, Nhi luyện đọc theo.

Tương tự với âm tr đầu lưỡi chạm vào vòm cứng bật ra không có tiếng thanh. Âm ch lưỡi trước chạm lợi rồi bật nhẹ, không có tiếng thanh (trăn/chăn. tre/che…).

Âm l/n: âm l lưỡi đưa lên chạm lợi hơi đưa ra từ họng xát nhẹ, âm n đầu lưỡi chạm lợi hơi thoát ra cả miệng lẫn mũi.

Ví dụ: la/na; nón/lón; làng/nàng;…).

Âm s/x: âm s uốn đầu lưỡi về phía vòm hơi thoát ra xát mạnh không có tiếng thanh, âm x khe hẹp phía đầu lưỡi và răng-lợi hơi thoát nhẹ không có tiếng thanh

Trong các lớp tôi nghiên cứu có gần 2/3 là học sinh nói tiếng của miền Trung. Các em thường phát âm chưa đúng ở các tiếng chứa dấu thanh Vì vậy tôi phân tích các tiếng rồi cho học sinh phân biệt các dấu thanh gắn trên các tiếng đó, sau đó đọc mẫu và hướng dẫn các em cách phát âm đúng, từ đó các

em đọc theo và giáo viên uốn nắn sửa chữa kịp thời.

– Ví dụ: Thanh ngã các em hay lẫn với thanh nặng như: “dũng / dụng, mỡ/mợ, nỡ / nợ, …).

Giáo viên đưa ra một số tiếng từ chữa dấu thanh học sinh thường đọc không đúng và nêu tác hại khi phát âm không đúng người nghe sẽ hiểu nghĩa khác đi rồi yêu cầu học sinh luyện đọc đúng theo nhiều hình thức cá nhân, nhóm, đôi bạn cùng đọc cho nhau nghe.

Giáo viên chữa lỗi phát âm bằng cách phân tích âm và vần:

Giải pháp này là giáo viên phân tích các âm học sinh thường phát âm chưa đúng rồi giáo viên đọc mẫu. Luyện cho học sinh đọc phân biệt l/n, tr/ch, s/x, v, r /d bằng cách nói các từ ngữ, câu tập trung nhiều phụ âm l/n, tr/ch…

Trong lớp có nhiều học sinh là nói tiếng miền Trung Nam bộ các em thường đọc chưa đúng vần có kết thúc bằng n, t, nh như: nhăn nhó/nhăng nhó, tát nước/tác nước, bát ngát/ bác ngác, nhanh nhẹn… Hoặc các vần uôn học sinh đọc là un, ươu / iêu, ưu/iu. luyện đọc các câu khó như: “Trùng triềng như nón không quai”. “Ấm đẹp lòng người lúa lổ lung linh”. “Đi Hà Nội mua cái nồi nấu cơm nếp”. “Chăn rách giặt sạch vắt cành chanh”. “Lúa lên lớp lớp nồng nàn lâng lâng”. Sau đó các em luyện theo nhiều hình thức tổ, nhóm, cá nhân.

Giáo viên chữa lỗi phát âm bằng cách luyện tập, thực hành trong các môn học:

Giáo viên luôn động viên nhắc nhở các em phải luôn mạnh dạn rèn phát âm chuẩn trong tất cả các môn học, chú ý, quan sát, lắng nghe cô giáo hướng dẫn, tự tin, chăm chỉ trong học tập, biết phối hợp cùng bạn bè, mạnh dạn hỏi thầy, cô giáo và bạn bè khi mình chưa hiểu, luôn có ý thức luyện phát âm đúng. Không những trong phân môn tập đọc mà các em cần phải phát âm chuẩn trong các môn học khác như: Toán khi đọc số, đọc yêu cầu bài tập, bài toán có lời văn.Nếu đọc không đúng người nghe sẽ không hiểu được bài toán. Trong phân môn Âm nhạc giáo viên cũng cần hưỡng dẫn. Âm vực của thanh huyền thấp hơn thanh sắc nên tập hát thanh sắc thành thanh huyền, không thanh rất thuận lợi. Chẳng hạn học sinh hát câu “Cái cây xanh xanh, thì lá cũng xanh. Bé bé bằng bông, hai má hồng hồng” hoặc luyện phát âm thanh điệu cho học sinh hát câu” Mặt trời soi rực rỡ…”

Hằng ngày dành thời gian hợp lí để đọc báo măng non, đọc truyện trong sáng lành mạnh. Khi giáo viên nắm chắc các biện pháp chữa lỗi phát âm và đã phát âm đúng, chuẩn, rõ ràng, diễn cảm rồi thì người đọc dễ dàng phát âm chuẩn.

Tranh ảnh và đồ dùng dạy học rất quan trọng không thể thiếu được trong việc dạy học nhất là ở phân môn tập đọc. Càng có tranh ảnh, đồ dùng thì càng tạo nên sự hứng thú của học sinh trong tiết học. Chính vì vậy, mỗi tiết học, giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, nắm được mục tiêu của từng bức tranh, cách sử dụng đồ dùng,…

Khi dạy Tập đọc lớp 1 phải thường xuyên sử dụng tranh, ảnh, vật thật phù hợp với nội dung từng bài học.

Đồ dùng dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, phát triển kĩ năng thực hành. Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh. Phát triển trí tuệ, giáo dục nhân cách cho học sinh.

Đồ dùng dạy học giúp cung cấp các kiến thức một cách chắc chắn. làm cho việc giáo dục trở nên cụ thể hơn, nhẹ nhàng hơn. Giúp giáo viên kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.

Vào những buổi học ôn luyện tôi thường cho các em làm các bài tập chính tả và phát âm bằng bảng đồ dùng như sau:

BẢNG RÈN PHÁT ÂM VÀ RÈN CHÍNH TẢ

Biết được đặc điểm phát âm sai do phương ngữ của gia đình ngay cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã mạnh dạn nêu ra những lỗi phát âm của học sinh thường mắc phải. Những lỗi đó đa số do ảnh hưởng của phương ngữ nếu sửa lỗi một mình trên lớp học chưa đủ. Tôi đã nhờ các bậc phụ huynh kết hợp với cô giáo sửa lỗi phát âm ngay cả khi giao tiếp ở nhà bằng nhiều hình thức như: nói chuyện, đọc truyện cho bố mẹ nghe…Vì bố mẹ là chìa khóa mở ra cánh cửa trí tuệ và tài năng cho trẻ đặc biệt là nuôi dưỡng tâm hồn lẫn trí tuệ phát triển ngôn ngữ và sáng tạo. Muốn làm được điều đó phụ huynh cần trang bị đầy đủ đồ dùng, sách học ở nhà, nói chuyện giao tiếp bằng tiếng phổ thông, hạn chế sử dụng tiếng địa phương khi nói chuyện với trẻ. Định hướng cách học cho các em đưa lại kết quả tốt nhất.

Nhà tâm lí học người Nga đã nói: “Một ý tưởng hay giống như một đám mây chữ nghĩa”. Khi động não học sinh đã sản xuất ra một dòng ý tưởng, chảy xối xả mà ta có thể thu gom lại trên bảng đen những sản phẩm quý từ nguồn cảm hứng dồi dào và chân thật. Có thể gây động não cho bất cứ gì. Ý tưởng cho một đề án tập thể, suy nghĩ cho một bài học, buổi học của lớp. Học sinh nghĩ được gì đều nói và ghi lại tất tuyệt đối không được ai chỉ trích và bàn lùi ý kiến của bạn, bất cứ ý kiến nào cũng quý. Sau khi tất cả học sinh đều đã nói lên được suy nghĩ đóng góp của mình. Giáo viên sắp xếp phân loại và mời mọi người bàn luận, phân tích, khai thác, chọn lọc. Giải pháp giúp mọi học sinh được dịp đề xuất ý kiến của mình cho tập thể bàn luận và khai thác, tận dụng.

Khi nền kinh tế nước nhà ngày càng phát triển, tri thức không những là sản phẩm quí báu của con người mà nó có vai trò cực kỳ quan trọng là: “Dùng trí thức để tạo ra trí thức mới” đó là khi học sinh được lĩnh hội lượng kiến thức học được trong nhà trường từ bậc mầm non đến đại học trở nên ít ỏi và mau chóng lạc hậu, không đủ dùng trong suốt cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, để đáp ứng với nền kinh tế trí thức, trong sự bùng nổ công nghệ thông tin, bùng nổ về khoa học kỹ thuật thì việc học tập suốt đời mặc nhiên trở thành một nhu cầu tất yếu của con người, buộc mỗi thành viên trong xã hội phải luôn là một học sinh, phải học tập thường xuyên dù đang ở cương vị nào, độ tuổi nào, nhưng để học tập thường xuyên, học suốt đời có kết quả thì phải biết ” Tự học”, “Tự tìm tòi”, “Tự khám phá” vì chúng ta làm gì có thầy giáo, cô giáo dạy cho hàng ngày hay ở bên cạnh ta suốt đời. Chính vì thế, vai trò của người giáo viên trong bước đầu giúp học sinh hình thành khả năng ” Tự lực” trong học tập ở cấp đầu tiên là khá quan trọng, là tiền đề cho khả năng tự học khi lớn lên. Vậy thế nào là tính tự lực trong học tập ? Hiểu được nội dung câu hỏi. Tôi nghĩ rằng nên rèn cho học sinh tính ” Tự học” khi các em còn nhỏ là rất quan trọng, người giáo viên giúp các em hiểu và khắc sâu tự lực học tập là một phẩm chất, nhân cách quan trọng của con người được hình thành trong quá trình hoạt động học tập của chủ thể. Nó là mục đích, là động cơ học tập đúng đắn, luôn luôn bồi dưỡng năng lực học tập và tự tổ chức học tập cho bản thân, người học có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực và ý chí nhằm lĩnh hội trí thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức nói chung và học tập nói riêng của bản thân.

Ví dụ: Những bài thực hành tìm từ, đặt câu chữa các âm, vần vừa học. Giáo viên chỉ cần ghi mục đề và định hướng phương pháp học tập cho học sinh những yêu cầu cần đạt, các em phải tự lực học tập về rèn luyện, tư duy theo hướng tích cực của chính mình.

Một số học sinh cần thời gian mới hiểu được lời nói hay hành vi của người khác. Những học sinh hướng ngoại đó thường tận dụng được lối học tập thể. Nhưng vì học sinh đều có trí tuệ giao tiếp ở mức độ này hay mức độ khác nên giáo viên phải biết tận dụng lối tiếp cận đòi hỏi một sự tương tác giữa nhiều người trong cộng đồng.

Giải pháp này giúp học sinh khắc sâu trong trí nhớ hơn và hứng thú học hơn.

– Theo thông tư 32 khuyến khích học sinh để động viên, khích lệ giúp đỡ các em học tập và rèn luyện thì hàng tuần, hàng tháng tôi đã kết hợp với ban phụ huynh của lớp cùng với học sinh tham gia nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và trao phần thưởng như tặng bút, thước kẻ, tẩy cho những học sinh có tiến bộ rõ rệt trong tuần, trong tháng dù giá trị vật chất của phần quà không lớn nhưng nó lại mang giá trị tinh thần rất lớn để động viên học sinh có hứng thú phấn đấu trong học tập. Qua thực hiện tôi thấy học sinh thi đua học tập rất tốt.

Tôi nghĩ những giải pháp nêu trên có thể áp dụng rộng rãi ở các lớp đó là những yếu tố không thể thiếu được để nâng cao chất lượng dạy học. Tôi mong rằng kinh nghiệm này sẽ được nhân rộng ra ở các lớp ở bậc tiểu học nói chung và đặc biệt là ở lớp 1 nói riêng để tạo cho các em có một hành trang đầy tự tin khi học phân môn này. Là giáo viên ở bậc Tiểu học tôi nghĩ rằng, người giáo viên cần phải tăng cường sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học, đổi mới cách đánh giá, kiểm tra. Bên cạnh đó người giáo viên phải có lòng nhiệt tình, tâm huyết trong việc giảng dạy. Thường xuyên theo dõi, quan tâm, giúp đỡ đến mọi đối tượng học sinh. Tạo điều kiện để tất cả các em đều được hoạt động. Tổ chức cho các em tự phát hiện, tìm tòi ra kiến thức mới từ đó sẽ phát huy được óc tư duy sáng tạo, tính độc lập, tự giác cho các em. Bên cạnh đó cần thường xuyên trao đổi, liên lạc với phụ huynh học sinh để phối kết hợp với phụ huynh nhằm giúp đỡ các em một cách kịp thời trong quá trình học tập.

– Trong quá trình dạy học, nếu giáo viên phát hiện được những sai sót của học sinh, tìm hiểu nguyên nhân của những lỗi sai đó và tìm ra những biện pháp khắc phục kịp thời thì hiệu quả các tiết học chắc chắn sẽ được nâng cao.

– Trong thời gian tìm tòi và nghiên cứu, khi áp dụng những giải thực nghiệm đã đạt những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên do thời gian và trình độ còn hạn chế, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học quý cấp để sáng kiến kinh nghiệm áp dụng rộng rãi hơn trong quá trình giảng dạy nói riêng và giáo dục hóa nói chung.

Bấm vào đây để tải về

Giúp Bé Nắm Chắc Từng Bài Học Tiếng Anh Lớp 1

Giúp bé nắm chắc từng bài học tiếng anh lớp 1

Hệ thống và ôn lại kiến thức sau mỗi bài học

Sau mỗi bài học, phụ huynh đừng quên nhắc bé hệ thống lại kiến thức tiếng anh đã học. Thói quen ghi chép và hệ thống kiến thức rất tốt. Mỗi một lần ghi chép là một lần bé được ôn tập lại. Và nếu lỡ may quên thì bé chỉ cần mở sổ ghi chép ra là tìm thấy thôi.

Việc ôn lại kiến thức sau mỗi bài học rất quan trọng

Sau mỗi bài học tiếng anh lớp 1, phụ huynh nên hướng dẫn con ghi từ vựng mới vào sổ tay từ vựng. Bằng cách này, bé sẽ hình thành thói quen tốt, giúp ích rất nhiều trong quá trình học tiếng anh sau này; khi bé tự biết hệ thống kiến thức vào những quyển sổ tay ngữ pháp; sổ tay giao tiếp tiếng anh….

Làm các bài tập thực hành tiếng anh lớp 1

Cách tốt nhất để ghi nhớ kiến thức trong các bài học tiếng anh lớp 1 chính là làm các bài luyện tập. Sau mỗi bài học trong sách giáo khoa, các bé luôn có những bài tập luyện tập kèm theo. Phụ huynh nhớ nhắc bé làm hết những bài tập đó. Ngoài ra, để bé làm quen tốt hơn với các dạng bài tập, phụ huynh có thể mua thêm những cuốn sách bài tập cho con làm trong giờ tự học ở nhà.

Các app học tiếng anh cũng ngày càng phát triển. Phụ huynh có thể tìm những phần mềm phù hợp với các bé lớp 1 để cho con học online mỗi ngày. Các chương trình online thường có những game thú vị để con vừa học, vừa chơi nên bé nào cũng thích.

Phụ huynh nên đầu tư nghiêm túc cho việc học tiếng anh cho con

Bé có thể nắm chắc bài học tiếng anh lớp 1 nếu có đủ thời gian cho môn học này. Nhưng thực tế, trên lớp không phải bé nào cũng được giáo viên “cầm tay chỉ việc” vì sĩ số lớp học rất đông. Các bé cũng sẽ gặp khó khăn khi tự học tiếng anh ở nhà. Để tạo môi trường học tiếng anh tốt nhất cho con, nhiều phụ huynh cho con tham gia những khóa học tiếng anh chất lượng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Giúp Học Sinh Lớp 1 Nắm Bắt Được Âm Trong Tiếng Việt 1 trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!