Xu Hướng 12/2022 # Đối Phó Trong Tiếng Tiếng Anh / 2023 # Top 19 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Đối Phó Trong Tiếng Tiếng Anh / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Đối Phó Trong Tiếng Tiếng Anh / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Khi đối phó với sự sỉ nhục, thường thì khi nào là “kỳ nín-lặng”?

In dealing with reproach, when is it usually “a time to keep quiet”?

jw2019

Thường thì chúng ta nên làm gì để đối phó với lỗi lầm của người khác?

What general approach should we take toward others’ errors?

jw2019

jw2019

Họ sẽ phải đối phó sự cám dỗ và áp lực làm điều quấy.

They would face temptations and pressures to do wrong.

jw2019

Đối phó với tai họa

Dealing With Adversity

jw2019

Chúng ta có thể đối phó với vấn đề này thế nào?

What can be done about the problem?

jw2019

Nhân Chứng Giê-hô-va đối phó thế nào trước quyết định đó?

How did the Witnesses deal with this decision?

jw2019

Nếu nó biến thành sự hỗn loạn, sau đó nó sẽ rất khó khăn để đối phó với.

If it turns into chaos, then it will be very difficult to deal with.

QED

Khó để đối phó.

It’s hard to comprehend.

OpenSubtitles2018.v3

Ngài dạy chúng tôi cách đối phó với những thử thách của mình bằng đức tin.

He taught us how to face our trials with faith.

LDS

Các người không biết đang đối phó với ai đâu.

You have no idea who you’re dealing with.

OpenSubtitles2018.v3

Đối phó với những khuynh hướng hung bạo

Coping With Violent Tendencies

jw2019

Nào, tôi đang đối phó với một đứa trẻ.

Well, I’m dealing with a child.

OpenSubtitles2018.v3

20 Pha-ra-ôn có thể làm gì để đối phó sự đói kém sắp xảy ra?

20 What could Pharaoh do about this impending famine?

jw2019

Cách họ đối phó với sự bắt bớ

How They Dealt With Persecution

jw2019

Bạn nên quan sát cách đối phó của họ .

Watch how they do it .

EVBNews

Thật ra, bạn có thể đối phó với kẻ bắt nạt mà không dùng nắm đấm.

In fact, you can fight a bully without using your fists.

jw2019

• Một người có thể đối phó với vấn đề lạm dụng rượu như thế nào?

• How can one deal with the problem of alcohol abuse?

jw2019

Làm sao một người có thể đối phó với sự khó khăn của việc đi thăm lại?

How can one meet the challenge of the return visit work?

jw2019

Đức Chúa Trời đối phó với sự thách thức xấc xược đó thế nào?

How would God handle such an insulting challenge?

jw2019

Vì hắn sẽ đối phó với cậu.

Because he’ll come after you, and there’s nothing that you can do!

OpenSubtitles2018.v3

Nương cậy nơi thánh linh Đức Chúa Trời để đối phó với những biến đổi trong đời sống

Rely on God’s Spirit in Dealing With Life’s Changes

jw2019

Ngoài ra, hằng ngày chúng ta phải đối phó với nhiều cám dỗ từ thế gian.

Every day, we are bombarded with countless suggestions and temptations to do wrong.

jw2019

Làm thế nào bạn đối phó với thực tế của sự tham nhũng đang lan tràn?

How do you cope with the reality of widespread corruption?

jw2019

Một số anh chị phải đối phó với những thử thách nào?

What challenges have some “need greaters” faced?

jw2019

Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay / 2023

Văn lớp 9 Nghị luận về hiện tượng học đối phó

Văn mẫu lớp 9: Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay. Đây là tài liệu tham khảo hay do VnDoc sưu tầm. Bài nghị luận xã hội lớp 9 này gồm dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu hay được đánh giá cao viết về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay. Các bài nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt chuẩn bị cho bài kiểm tra 1 tiết, thi học kì và ôn tập vào lớp 10, ngoài ra đây còn là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô nhằm phục vụ công tác giảng dạy.

Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay

Dàn ý nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay

1. Mở bài

Dùng danh ngôn hoặc câu hỏi gợi mở vào đề (nếu sử dụng cách mở bài gián tiếp).

Nêu ý chính, điều cần phân tích từ việc học đối phó.

2. Thân bài a/ Giải thích học đối phó là gì?

Học tập mà không có hứng thú, say mê, không tìm hiểu, không động não, ham thích.

Học để tránh né, bị ép buộc, áp đặt từ ba mẹ, gia đình.

Thể hiện sự đối phá bằng những hành động khác nhau, không gây ra tác hại ngay lập tức, nhưng để lại nhiều hậu quả xấu.

b/ Nêu một vài ví dụ điển hình thể hiện cách học thụ động này:

Chép sách khi thầy cô giao bài tập

Hỏi bạn, nhìn bài, làm mọi cách gian lận để có điểm cao.

Khi thầy cô giảng bài, lơ đễnh làm việc riêng, uể oải chép bài cho được cái mác “siêng học”.

Thiếu trung thực trong thi cử để có danh hiệu, đối phó với lòng tin của ba mẹ, sự nghiêm khắc của thầy cô, …

c/ Tác hại của việc học đối phó:

Ảnh hưởng đến tâm lý, gây thụ động, dẫn đến nhàm chán.

Mất căn bản, nạn học sinh “nhảy lớp”, học đến lớp 12 mà chính tả còn sai be bét, …

Ảnh hưởng đến sự trung thực của con người, học sinh đánh mất dần những nhân cách tốt.

Về lâu dài, làm suy thoái nền giáo dục nước nhà.

d/ Cần phải làm gì để ngăn chặn nạn học đối phó?

Học sinh chúng ta phải thay đổi ngay từ hôm nay, phải chủ động tìm hiểu và tiếp thu kiến thức.

Ứng dụng những công nghệ hiện đại để giúp ích cho việc học tập.

Trung thực khi thi cử, trong trường lớp, với bạn bè và chính bản thân.

3. Kết bài

Khẳng định lại giá trị đích thực của việc học.

Tự nhủ sẽ luôn học tập tốt, bằng chính khả năng và thực lực của mình.

Kêu gọi thiếu niên chủ động học tập, vì tương lai đất nước, vì hạnh phúc mỗi con người.

Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 1

Trong cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa hôm nay, đất nước Việt Nam ta đã có những đổi mới tích cự trong việc giáo dục. Nhưng song song với những mặt tích cực đó, còn có những cái xấu, cái chưa tốt nhìn thấy rõ, mà ví dụ điển hình là việc học đối phó của phần lớn học sinh ngày nay.

Vậy học đối phó là gì và do đâu? Ai trong chúng ta dám thừa nhận mình chưa bao giờ như thế? Việc học, quan trọng là lòng yêu thích, sự say mê tìm tòi, tạo cho mình một cái nhìn mới mẻ trong việc tiếp nhận và tích lũy kiến thức. Từ đó, ta mới có thêm niềm tin, những hứng thú để tiếp tục chặng đường học tập. Hãy nhìn những đứa trẻ, học tập đối với chúng luôn là sự tự do, là những bí ẩn chúng mong muốn được giải mã. Nhưng học sinh ngày nay thì lại khác. Học tập, xem như một nghĩa vụ bắt buộc, áp đặt và nặng nề. Thầy cô giảng, ta cứ dỏng tai lên nghe, nhưng chữ có vô đầu không thì không quan trọng. Nói điều này ra, một số người bảo ta bày vẽ, họ nói rằng: “Dào, chép bài mỏi tay chết còn học này học nọ!”. Vậy là việc học cũng nhàm chán như một nỗi khổ. Người ta dần dần nghĩ ra những “quái chiêu” để đối phó với việc học, để qua mặt thầy cô.

Phao, copy, chép sách giải, hỏi bài bạn, đến “lò” luyện mong vớ lấy vài con chữ,… Học mà không biết mình học vì cái gì, vì một mục đích cao đẹp nào, để đạt được thành công ra sao trên đường đời. Học như học vẹt, miệng đọc qua loa, bài tập không chuyên sâu, mồm miệng cố la cho lớn để ra vẻ ta đây với thiên hạ. Không những học sinh yếu kém mà các bạn có năng lực tốt cũng “đối phó”. Thầy dạy cho có và trò học đối phó, một khung cảnh dễ nhận thấy ở các lò luyện thi, trường chuyên, lớp giỏi,.. Việc đối phó như một tấm khiêng chống đỡ sự thất vọng của thầy cô, cha mẹ và những lời bàn tán của bạn bè. Chúng ta dần đánh mất những truyền thống học tập của người học sinh, để đổi lấy những con điểm cao chót vót, những nguyện vọng để bằng bạn bè.

Học đối phó là vấn nạn lớn, nó ăn mòn và hủy diệt sự tự chủ trong mỗi con người, gặm nhắm những đức tính tốt đẹp trong mỗi học sinh chúng ta. Cần có biện pháp, không thể nói suông ngày một ngày hai. Mỗi khi học tập, hãy tìm tòi những câu hỏi, đi sâu vào những kiến thức, dành nhiều thời gian cho những mục tiêu mình cần vươn đến. Và hãy nhớ rằng: Chúng ta là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ học sinh mới, không thể đi lên mà không có kiến thức, trí tuệ và lòng hăng say yêu thích.

Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 2

Nền giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều góc khuất, nhiều vấn đề nan giải chưa giải quyết được. Có những hành động dù là nhỏ của học sinh nhưng lại gây ra hậu quả xấu đối với tương lai. Hiện tượng học đối phó là một trong những hiện tượng như vậy.

Học đối phó là gì? Là tình trạng học sinh học bài không trên tinh thần tự nguyên, học chỉ để thi, chỉ để qua một kì kiểm tra, và cuối cùng chữ thầy lại trả cho thầy. Đây là một hiện tượng xảy ra rất nhiều ở học đường, rất khó kiểm soát. Tình trạng này kéo dài sẽ gây nên hệ quả khó lường, học sinh hổng kiến thức cơ bản nặng, học xong là quên hết, không lưu lại một thứ gì trong đầu.

Hầu hết học sinh đang có suy nghĩ học để vừa lòng cha mẹ, thầy cô, học để được lên lớp, để đạt điểm cao. Chứ các em chưa nghĩ học để làm gì cho mình sau này. Chính suy nghĩ này mới dẫn đến tình trạng các em học đối phó một cách cứng nhắc như vậy.

Biểu hiện của việc học đối phó này rất phổ biến như làm bài tập ở nhà theo kiểu đối phó, chép lời giải ở sách mẫu, chép đủ, chép hết để sáng mai lên lớp thầy cô kiểm tra. Hoặc ngày mai có kiểm tra, thì tối nay bắt đầu thức đêm, cày kiến thức, để mong sao ngày mai không bị điểm kém. Khi thi xong thì coi như kiến thức cũng theo gió trời mà bay. Một khi đã đối phó thì sẽ không trên tinh thần tự nguyện, tự giác học.

Học sinh học đối phó nhưng giáo viên vẫn chưa có biện pháp để ngăn chặn hoặc xử lý để không tái diễn lần sau. Giáo viên vẫn cứ làm lơ, coi như không có chuyện gì, chính vì thế mà lối học này mới ăn sâu vào tiềm thức của các em như vậy.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em học đối phó, sau này ra xã hội, đi làm, lối sống này sẽ chi phối rất nhiều. Làm đối phó cho qua chuyện, cho xong việc dẫn đến tình trạng làm ẩu, không hoàn thành tốt công việc. Đây là một điều rất đáng tiếc

Chỉ vì lối học đối phó mà sẽ dẫn đến hệ lụy xấu cho các em trong tương lai sau này. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các em mà còn ảnh hưởng đến xã hội.

Để giải quyết tình trạng học đối phó thực sự không phải đã rơi vào bế tắc. Điều này cần xuất phát từ chính bản thân các em phải xác định cho mình mục đích học tập đúng đắn để có thể nghiêm túc hơn trong học tập. Giáo viên cần đi sâu giảng bài, kiểm tra bài, cần kiểm tra về chất chứ không nên chỉ kiểm tra lượng.

Giáo dục Việt Nam cần phải có biện pháp “rắn” để mang đến môi trường học tập lành mạnh cho các em. Phải làm sao cho suy nghĩ học đối phó ấy không tồn tại nữa. Như thế các em sẽ có một tương lai tươi sáng hơn.

Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 3

Học đối phó là một trong những mối quan tâm được đặt lên hàng đầu không chỉ với nhà trường mà còn ở trong ngành giáo dục Việt Nam. Hiện tượng này hiện vẫn đang tồn tại và lan rộng ra.

Học đối phó được hiểu là một cách học của học sinh nhằm mục đích qua một kì thi hoặc một môn học nào đó. Tuy nhiên những kiến thức học sinh đó tiếp thu được là rất ít, hoặc gần như là không có.

Xét về một khía cạnh nào đó, nó đem lại những lợi ích nhất thời với học sinh. Học sinh sẽ chỉ cần dành khoảng thời gian ngắn cho việc học mà vẫn đạt một mức điểm vừa đủ để bản thân không bị đánh trượt môn. Tuy nhiên về lâu dài, nó là một phương pháp học tiêu cực. Lượng kiến thức của học sinh khi ngồi trên ghế nhà trường sẽ bị thu hẹp và hạn chế. Khi nó trở thành một thói quen, đặc biệt là ngay từ những kiến thức nền tảng, thì sau này học chuyên sâu, học sinh đó sẽ khó nắm bắt được một cách tối đa. Hệ quả là, với kinh nghiệm non yếu cùng với kiến thức kém học sinh đó sẽ gặp vô vàn khó khăn khi bước vào đời.

Để có thể giải quyết một cách triệt để được những hiện tượng trên, thì ngay từ phía phụ huynh cần có những định hướng, quan tâm nhiều hơn về việc học hành cho con em mình. Ngoài ra, học cũng nên cho con em mình những khoảng thời gian riêng cho những hoạt động ngoại khóa. Phía nhà trường cũng cần có những biện pháp làm giảm tải áp lực thi cử cho học sinh.

Học sinh là thế hệ trẻ, là tương lai của đất nước. Việc ngăn chặn, bài trừ học đối phó là góp phần cho đất nước phát triển giàu mạnh, có thể sánh ngang cùng bạn bè quốc tế

Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 4

Người xưa có nói: sự học thì vô cùng mà cuộc đời con người chỉ là hữu hạn. Sống này chỉ có thể kéo dài khi chúng ta học tập, tiếp thu được càng nhiều tri thức và hiểu biết. Thế nhưng, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, đang ở tuổi học hành thì lại không nhận thức được điều đó. Học qua loa, đối phó đang là một vấn đề đáng buồn ở học sinh ngày nay.

Cách học qua loa, đối phó có thể hiểu là cách học, làm bài không tập chung, không chuyên tâm và cố gắng cho môn học. Việc học qua loa, đối phó là hành động thuộc về thái độ với việc học, là ý thức của từng người học sinh.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, hiện tượng học đối phó đã trở thành một căn “bệnh” khá phổ biến ở học sinh và có tốc độ “lây lan” khá nhanh. Bài làm qua loa, nhanh chóng, thậm chí đi chép bài để có đủ số lượng mà không hề quan tâm đến việc hiểu bản chất vấn đề, môn học. Ở trường học, học đối phó thường diễn ra với những môn xã hội: Lịch sử, Địa Lý, Ngữ Văn, … ở những học sinh ham chơi, không có ý thức phấn đấu trong môn học.

Hiện trạng học qua loa, đối phó đang phổ biến có nhiều nguyên do. Có thể thấy, sự khác nhau giữa các nước đều xuất phát từ nền giáo dục. Nền giáo dục Việt Nam vẫn còn chú trọng vào thành tích, điểm số mà chưa có giải pháp cho việc phát triển toàn diện năng lực học sinh, không tìm được động lực cho học sinh tự mình cố gắng. Những áp lực điểm số với bạn bè, áp lực bằng cấp của bố mẹ khiến cho học sinh không có thời gian làm một cách nghiêm túc. Quá nhiều bài phải làm, quá nhiều môn phải học, nhưng thời gian vẫn chỉ 24 tiếng như thế. Một phần đó cũng là do môn học quá nhiều kiến thức, chỉ chú trọng vào lí thuyết mà không đề cập tới thực hành dễ khiến học sinh chán ngán và sinh ra sự đối phó. Chính môi trường học như thế khiến học qua loa, đối phó lây lan nhanh như “virus”. Đặc biệt, đó cũng là do bản thân học sinh, không nhận thức được vai trò của việc học cũng như thái độ với công việc mình làm. Với học sinh, học vẫn là cho cha mẹ, thầy cô, không ảnh hưởng đến tương lai và việc của mình. Tự học sinh đã nghĩ như thế thì không chỉ có việc học qua loa, đối phó mà còn dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực khác.

Rất nhiều học sinh biết hành động của mình là không đúng, cũng biết tác hại của việc học đối phó nhưng vẫn không biết cách tự cứu lấy mình. Muốn thay đổi học sinh, phải thay đổi môi trường học tập của chúng. Điểm số sau này chẳng nói rằng bạn giỏi hay không, chẳng quyết định cuộc đời bạn sau này thế nào. Vì thế, hãy đặt vấn đề điểm số và bằng cấp sang một bên, khuyến khích học sinh tìm hiểu và phát huy năng lực của mình, tham gia nhiều hơn vào những hoạt động ngoại khóa, những thí nghiệm thực hành, … Khi đó, hứng thú với môn học sẽ tự đến. Học sinh cũng cần thay đổi suy nghĩ của mình, rằng học cho mình, không phải một ai khác. Không ai có thể sống thay ta và không ai có thể hủy hoại cuộc sống chúng ta ngoài chính chúng ta cả. Tự mình thay đổi, tự mình học hỏi để tự mình tỏa sáng!

Chúng ta chỉ có một cuộc đời để sống nhưng những kiến thức thì mênh mông và thành công vẫn đang đợi bạn. Học hay không, đối phó hay nhiệt huyết, chỉ có bạn mới có thế quyết định.

Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay – Bài văn mẫu 5

Giáo dục luôn là vấn đề được chú trọng và quan tâm nhất đối với con người. Cuộc sống ngày càng phát triển, khoa học công nghệ hiện đại xong cũng có nhiều phương pháp học tập mới. Bên cạnh đó trong xã hội vẫn tồn tại lối học đối phó. Đây là lối học sẽ gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh.

Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là lối học đối phó? Học đối phó là gì? Là tình trạng học sinh học bài, nghe giảng bài không trên tinh thần tự nguyện mà như bị ép buộc học chỉ để đối phó qua kì thi, chỉ để qua một kì kiểm tra, và cuối cùng chả được chữ gì vào đầu gây ra những hậu quả khôn lường. Đây là một hiện tượng xảy ra rất nhiều ở học đường, rất khó kiểm soát. Việc học này chủ yếu do ý thức của mỗi con người.

Hiện nay ở nước ta tình trạng học đối phó diễn ra khá nghiêm trọng và phổ biến khiến cho Nhà nước, ngành giáo dục và gia đình học sinh gặp nhiều phiền muộn trong việc nâng cao tinh thần, ý thức trách nghiệm của việc học tập đối với học sinh bởi nước ta luôn coi trọng giáo gục là quốc sách hàng đầu. Học đối phó ở trên lớp là những hành động lơ đãng, không chú ý nghe giảng, mất tập trung, chỉ ngồi cho “có mặt” trong lớp. Về nhà, học sinh thường không làm bài một cách nghiêm túc. Nhiều học sinh đến lớp trong tâm thế ngồi ở đây nhưng tâm hồn ở chỗ khác. Lại có những trường hợp coi thường môn phụ không để ý đến, ham chơi, chểnh mảng trong việc học. Với thái độ và ý thức học tập như thế sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào? Học đối phó sẽ khiến cho học sinh cảm thấy chán nản, căng thẳng cho người học, cứ đến mỗi giờ học như là một cực hình. Học đối phó còn làm cho con người bị hổng kiến thức vì chả tiếp thu vào đầu được chữ gì. Học đối phó sẽ dẫn đến lực học sa sút, yếu kém. Không chỉ có ý nghĩa tiêu cực cho bản thân mà còn kéo theo rất nhiều những hệ lụy khác ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình thậm chí là đối với cả xã hội bởi mỗi học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường chính là những mầm non tương lai của đất nước. Tương lai của đất nước là nhờ một phần không nhỏ ở các em. Học cho mình, cho tương lai mình mà học sinh vẫn có thái độ không cố gắng, không trung thực thì rất khó để làm những việc khác với sự nhiệt tình và cống hiến. Khi nó trở thành một thói quen, đặc biệt là ngay từ những kiến thức nền tảng, thì sau này học chuyên sâu, học sinh đó sẽ khó nắm bắt được một cách tối đa. Các bạn có hiểu tại sao Nhật Bản luôn là một nước phát triển không? Bởi do ý thức và thái độ học tập rất nghiêm túc hiệu quả, đạt kết quả cao. Đây là một trong những điều tạo nên sự khác biệt giữa nước phát triển với những nước còn nghèo nàn trên thế giới.

Học đối phó đã trở thành một căn bệnh lan rộng và phổ biến trong ngành giáo dục. Thế nên chúng ta cần làm gì để cho lối học đối phó đấy không tiếp diễn nữa. Chúng ta phải đầu tư cho môi trường học để tăng thêm sự lôi cuốn hấp dẫn học sinh thích thú với việc học. Chúng ta là những người còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Hãy níu giữ những gì mà mình đang có, đừng để đánh rơi thanh xuân, đánh rơi tuổi trẻ, đến lúc hối lại cũng không kịp sẽ chẳng còn lại gì cho bản thân nữa. Mỗi học sinh phải có ý thức học tập nghiêm túc, học sâu, học kĩ, học từng chi tiết để hiểu bản chất, có tinh thần học thoải mái thích thú, phân bố thời gian hợp lí, tránh lối học vẹt, học tủ, học đối phó. Còn với gia đình thì cần quan, chăm sóc, tạo điều kiện cho con em được học hành. Về phía nhà trường, xã hội cần luôn thay đổi phương pháp dạy học linh hoạt để không nhàm chán.

VnDoc đã hướng dẫn các bạn Nghị luận về hiện tượng học đối phó của học sinh hiện nay, sẽ là tài liệu hay giúp các bạn học sinh có thêm nhiều tài liệu tham khảo, có thêm nhiều ý tưởng cho bài văn của mình, mời các bạn cùng tham khảo

……………………………………..

Nghị Luận Về Hiện Tượng Học Qua Loa, Đối Phó Của Học Sinh Hiện Nay / 2023

Nghị luận về hiện tượng học qua loa, đối phó – Sưu tầm và tổng hợp những bài văn nghị luận hay lớp 8 bàn về việc học qua loa và học đối phó của một bộ phận học sinh hiện nay.

: Trình bày suy nghĩ về hiện tượng học qua loa, đối phó của học sinh hiện nay.

Top 3 bài văn nghị luận về hiện tượng học qua loa, đối phó của học sinh hiện nay

Giáo dục là một vấn đề được xã hội Việt Nam chú ý đến rất nhiều trong những năm đầu của thế kỉ XXI. Mặc dù đây là một trong những ngành quan trọng bậc nhất của đất nước và nhận được sự quan tâm rất lớn của chính phủ, nhưng nhưng khuất mắc, tiêu cực trong ngành vẫn cứ tồn tại và lan rộng ra. Một trong những vấn đề lớn nhất, nổi bật nhất chính là hiện tượng gian lận trong thi cử, kiểm tra, hay nói một cách khác là tình trạng học đối phó, quay cóp bài của học sinh trong kiểm tra, thi cử.

“Học đối phó” là hiện tượng học sinh học bài chỉ để vượt qua một kì thi, một giờ kiểm nào một cách gượng ép và không hề lưu giữ một tí gì về những thứ đã học sau lần kiểm tra, lần thi đó. Còn “quay cóp bài” là tình trạng học sinh xem bài của nhau hoặc xem tài liệu trong giờ kiểm tra, thi cử. Nói một cách đơn giản hơn, đó là những hiện tượng tiêu cực trong một nền giáo dục.

Và đáng tiếc thay, cái tiêu cực đó dường như đã trở thành “một phần tất yếu trong cuộc sống” của học sinh thời nay và nó đang ăn sâu, lan rộng vào tiềm thức của những người đang ngồi trên ghế nhà trường.

Xét về một mặt nào đó, những hành động này có thể cho họ lợi ích nhất thời, đó có thể là những điểm tám, điểm chín,..trong các kì thi, kiểm tra chẳng hạn. Nhưng nếu ta xét một cách toàn diện và sâu rộng hơn, thì cái lợi trước mắt đó sẽ lại là cái hại lâu dài cho chính bản thân họ và cho cả đất nước, dân tộc. Khi những người học sinh thực hiện những hành động tiêu cực đó, thì liệu khi họ rời khỏi ghế nhà trường bước vào xã hội, trong bộ óc của họ có chứa được một tý kiến thức nào để có thể chung sống với xã hội hay không. Và liệu một dân tộc, một đất nước sẽ ra sao khi nền giáo dục của đất nước đó, dân tộc đó chỉ tạo ra những con người trẻ tuổi với cái đầu rỗng tuếch và suy nghĩ dối trá, tôi chắc hẳn rằng sẽ trở nên suy yếu đi, thậm chí là diệt vong.

Mọi thứ đều có nguyên nhân của chính nó và những tiêu cực trên cũng thế. Nguyên nhân trước hết chính là mỗi bản thân người học sinh đã không tự xác định được học để làm gì và học như thế nào, từ đó suy nghĩ và hành động của họ trở nên sai trái là đương nhiên. Nhưng ta cũng ko thể trách họ hoàn toàn được, làm sao họ có thể tốt được khi mà những người thầy, người cô cứ mãi đếm tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ tốt nghiệp,…khi mà những người đứng đầu ngành cứ mãi loay hoay với những vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” như cải cách sách giáo khoa, học phí,…khi mà….Và tất cả những thứ đó đã góp phần tạo nên một hiện tượng tiêu cực phổ biến này.

Để có thể giải quyết một cách triệt để được những hiện tượng trên, thì những vị lãnh đạo của chúng ta cần phải có những chiến lược, mục đích thật sự đúng đắn và sáng tạo cho ngành giáo dục, cùng với đó những người giáo viên phải truyền được cho học sinh tinh thần học tập, phải cho họ thấy mục đích của học tập không phải là để trở thành “ông này bà nọ”, để được “ăn sung mặc sướng”, để có cái bằng cấp vô nghĩa,…mà là tích lũy tri thức để có thể tồn tại, chung sống, phát triển và tự khẳng định mình. Và trên hết, bản thân mỗi học sinh cần phải tự nỗ lực học tập, tự xác định được mục đích học tập và phương pháp học tập hiệu quả, và nhất là phải để cho lòng tự trọng của mình lên tiếng trước những cám dỗ của tiêu cực.

Hãy hành động ngay bây giờ, và đừng chờ đợi nữa. Nếu không, đến một lúc nào đó, khi những sản phẩm thất bại này của ngành giáo dục bước ra xã hội và làm chủ đất nước thì dân tộc ta, đất nước ta sẽ phải đứng bên bờ suy thoái, diệt vong.

Trong cuộc sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa hôm nay, đất nước Việt Nam ta đã có những đổi mới tích cực trong việc giáo dục. Nhưng song song với những mặt tích cực đó, còn có những cái xấu, cái chưa tốt nhìn thấy rõ, mà ví dụ điển hình là việc học đối phó của phần lớn học sinh ngày nay.

Vậy học đối phó là gì và do đâu? Ai trong chúng ta dám thừa nhận mình chưa bao giờ như thế? Việc học, quan trọng là lòng yêu thích, sự say mê tìm tòi, tạo cho mình một cái nhìn mới mẻ trong việc tiếp nhận và tích lũy kiến thức. Từ đó, ta mới có thêm niềm tin, những hứng thú để tiếp tục chặng đường học tập. Hãy nhìn những đứa trẻ, học tập đối với chúng luôn là sự tự do, là những bí ẩn chúng mong muốn được giải mã. Nhưng học sinh ngày nay thì lại khác. Học tập, xem như một nghĩa vụ bắt buộc, áp đặt và nặng nề. Thầy cô giảng, ta cứ dỏng tai lên nghe, nhưng chữ có vô đầu không thì không quan trọng. Nói điều này ra, một số người bảo ta bày vẽ, họ nói rằng: “Dào, chép bài mỏi tay chết còn học này học nọ!”. Vậy là việc học cũng nhàm chán như một nỗi khổ. Người ta dần dần nghĩ ra những “quái chiêu” để đối phó với việc học, để qua mặt thầy cô.

Phao, copy, chép sách giải, hỏi bài bạn, đến “lò” luyện mong vớ lấy vài con chữ,… Học mà không biết mình học vì cái gì, vì một mục đích cao đẹp nào, để đạt được thành công ra sao trên đường đời. Học như học vẹt, miệng đọc qua loa, bài tập không chuyên sâu, mồm miệng cố la cho lớn để ra vẻ ta đây với thiên hạ. Không những học sinh yếu kém mà các bạn có năng lực tốt cũng “đối phó”. Thầy dạy cho có và trò học đối phó, một khung cảnh dễ nhận thấy ở các lò luyện thi, trường chuyên, lớp giỏi,.. Việc đối phó như một tấm khiêng chống đỡ sự thất vọng của thầy cô, cha mẹ và những lời bàn tán của bạn bè. Chúng ta dần đánh mất những truyền thống học tập của người học sinh, để đổi lấy những con điểm cao chót vót, những nguyện vọng để bằng bạn bè.

Học đối phó là vấn nạn lớn, nó ăn mòn và hủy diệt sự tự chủ trong mỗi con người, gặm nhắm những đức tính tốt đẹp trong mỗi học sinh chúng ta. Cần có biện pháp, không thể nói suông ngày một ngày hai. Mỗi khi học tập, hãy tìm tòi những câu hỏi, đi sâu vào những kiến thức, dành nhiều thời gian cho những mục tiêu mình cần vươn đến. Và hãy nhớ rằng: Chúng ta là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ học sinh mới, không thể đi lên mà không có kiến thức, trí tuệ và lòng hăng say yêu thích.

Nền giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công, được bạn bè quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều góc khuất, nhiều vấn đề nan giải chưa giải quyết được. Có những hành động dù là nhỏ của học sinh nhưng lại gây ra hậu quả xấu đối với tương lai. Hiện tượng học đối phó là một trong những hiện tượng như vậy.

Học đối phó là gì? Là tình trạng học sinh học bài không trên tinh thần tự nguyên, học chỉ để thi, chỉ để qua một kì kiểm tra, và cuối cùng chữ thầy lại trả cho thầy. Đây là một hiện tượng xảy ra rất nhiều ở học đường, rất khó kiểm soát. Tình trạng này kéo dài sẽ gây nên hệ quả khó lường, học sinh hổng kiến thức cơ bản nặng, học xong là quên hết, không lưu lại một thứ gì trong đầu.

Hầu hết học sinh đang có suy nghĩ học để vừa lòng cha mẹ, thầy cô, học để được lên lớp, để đạt điểm cao. Chứ các em chưa nghĩ học để làm gì cho mình sau này. Chính suy nghĩ này mới dẫn đến tình trạng các em học đối phó một cách cứng nhắc như vậy.

Biểu hiện của việc học đối phó này rất phổ biến như làm bài tập ở nhà theo kiểu đối phó, chép lời giải ở sách mẫu, chép đủ, chép hết để sáng mai lên lớp thầy cô kiểm tra. Hoặc ngày mai có kiểm tra, thì tối nay bắt đầu thức đêm, cày kiến thức, để mong sao ngày mai không bị điểm kém. Khi thi xong thì coi như kiến thức cũng theo gió trời mà bay. Một khi đã đối phó thì sẽ không trên tinh thần tự nguyện, tự giác học.

Học sinh học đối phó nhưng giáo viên vẫn chưa có biện pháp để ngăn chặn hoặc xử lý để không tái diễn lần sau. Giáo viên vẫn cứ làm lơ, coi như không có chuyện gì, chính vì thế mà lối học này mới ăn sâu vào tiềm thức của các em như vậy.

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em học đối phó, sau này ra xã hội, đi làm, lối sống này sẽ chi phối rất nhiều. Làm đối phó cho qua chuyện, cho xong việc dẫn đến tình trạng làm ẩu, không hoàn thành tốt công việc. Đây là một điều rất đáng tiếc

Chỉ vì lối học đối phó mà sẽ dẫn đến hệ lụy xấu cho các em trong tương lai sau này. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các em mà còn ảnh hưởng đến xã hội.

Để giải quyết tình trạng học đối phó thực sự không phải đã rơi vào bế tắc. Điều này cần xuất phát từ chính bản thân các em phải xác định cho mình mục đích học tập đúng đắn để có thể nghiêm túc hơn trong học tập. Giáo viên cần đi sâu giảng bài, kiểm tra bài, cần kiểm tra về chất chứ không nên chỉ kiểm tra lượng.

Giáo dục Việt Nam cần phải có biện pháp “rắn” để mang đến môi trường học tập lành mạnh cho các em. Phải làm sao cho suy nghĩ học đối phó ấy không tồn tại nữa. Như thế các em sẽ có một tương lai tươi sáng hơn.

Giáo dục của nước ta trong thời gian gần đây đã thu được một số thành quả nhất định, có thể gọi là thành công, gây được tiếng vang lớn với bạn bè trong nước và quốc tế. Chúng ta đã biết đưa ra những phương pháp học tập hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nước nhà. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những phương pháp học đáng bị lên án và cần phải được loại bỏ, đó chính là học đối phó. Phương pháp học này đang dần dần gây nên hậu quả nghiêm trọng khiến chúng ta khó có thể lường trước được.

Vậy thế nào là học đối phó? Đó chính là hiện tượng các em học sinh học bài không trên tinh thần tự nguyện và ý thức tự giác học tập để tiếp thu kiến thức. Các em học chỉ mang tính chất tạm bợ, ví dụ như học chỉ để vượt qua bài kiểm tra, vượt qua kỳ thi, rồi sau đó lượng kiến thức không hề đọng lại trong tâm trí của các em. Hiện tượng này đang xảy ra rất phổ biến ở học sinh hiện nay, dần trở thành một vấn đề khó có thể kiếm soát. Nếu cứ kéo dài tình trạng học thế này, sẽ gây nên một hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai của đất nước khi mà các em ra trường, sẽ không có kiến thức thực sự để phục vụ cho công việc, cuộc sống. Lý do của tình trạng này có lẽ một phần do tư tưởng của các em, học chỉ để đối phó,báo cáo kết quả với cha mẹ, thầy cô, chứ các em không hề nghĩ rằng học là để cho mình, cho tương lai của chính bản thân của mình.

Hiện tượng học đối phó đang diễn ra rất nhiều trong học sinh, biểu hiện rõ ràng khi học đối phó cơ bản nhất là khi hàng ngày, các em làm bài tập về nhà một cách đối phó, chép lời giải ở sách giải mẫu, hoặc chép của chính các bạn cùng lớp…mục đích chỉ để hôm sau các thầy cô kiểm tra không bị phạt, không bị điểm kém. Hoặc đó là khi ngày thường các em không học, không tập trung trau dồi kiến thức, chỉ khi sắp đến đợt có bài kiểm tra, hoặc trước một kỳ thi, các em mới lao vào học vẹt, học tủ, với mục đích vượt qua kỳ thi, rồi sau kỳ thi thì kiến thức đọng lại trong các em chẳng còn là bao nhiêu.

Hậu quả của việc học đối phó là rất nghiêm trọng. Các em mới chỉ là học sinh, học cho mình nhưng đã tìm cách đối phó. Vậy đến khi các em trưởng thành, đi làm, cống hiến cho gia đình và xã hội, nhưng không có kiến thức thực sự thì các em sẽ ra sao? Một thế hệ trẻ, tương lai của đất nước đang bị đe dọa vô cùng nghiêm trọng, nếu như các em học sinh vẫn có tư tưởng học đối phó như vậy.

Muốn xử lý tình trạng học đối phó, chỉ có thể bắt đầu từ ý thức của chính bản thân các em. Các em phải hiểu được mục đích việc học của các em là để làm gì? Cho chính tương lai của các em, cho gia đình, cho đất nước. Có như vậy các em mới có thể thay đổi tư tưởng và học hành nghiêm túc. Gia đình, nhà trường cần phải thường xuyên theo dõi, bảo ban các em học hành cẩn thận, để các em không xao nhãng học hành, dẫn đến những hậu quả không đáng có.

Thật vậy, để thay đổi một nền giáo dục không phải chuyện dễ. Và muốn làm được điều đó, chính các em học sinh hiện nay sẽ là người quyết định, các em là tương lai của đất nước. Vậy nên mỗi chúng ta, cần phải ngăn chặn, bài xích hiện tượng học đối phó, vì một nền giáo dục của nước nhà phát triển tốt đẹp hơn.

Sưu tầm và tuyển chọn Văn mẫu lớp 8 hay nhất / Đọc Tài Liệu

Đặc Điểm Tiếng Anh Chuyên Ngành Dược Học Trong Sự Đối Chiếu Với Tiếng Việt Tt / 2023

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ BÊ

ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu Mã số: 9 22 20 24

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2019

Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Văn Vân

Phản biện 1: chúng tôi Lê Quang Thiêm Phản biện 2: GS. TS. Nguyễn Quang Phản biện 3: chúng tôi Nguyễn Văn Chính

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. vào hồi…giờ….phút, ngày….tháng….năm 2019

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: – Thư viện Quốc gia Việt Nam – Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Dược học trước đây từng là một bộ phận trong ngành Y học. Song với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật trong thế giới hiện đại, Dược học đã nhanh chóng tách ra thành một ngành độc lập nhưng vẫn còn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Y học, các ngành khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng khác (Lê Văn Truyền, 2014). Ngành dược chuyên về bào chế, sản xuất các loại thuốc (hay còn gọi là dược phẩm) cũng như thực hiện việc khám chữa bệnh, phân phối thuốc và có trách nhiệm đảm bảo an toàn, hiệu quả của các loại dược phẩm. Vì vậy, khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành thành thạo sẽ giúp những người làm trong ngành Y Dược có thể tiếp cận với tri thức cũng như với những tiến bộ của ngành một cách nhanh nhất. Bàn về vai trò của tiếng Anh khoa học, Robert Goldbort (2006) khẳng định: “Tiếng Anh khoa học có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học”. Trên thực tế, những tài liệu nghiên cứu hay những phát minh, ứng dụng mới về dược học trên thế giới hầu hết đều được công bố bằng tiếng Anh. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành (ví dụ, Halliday et al.,1964; Widdowson, 1979; Johns & Dudley-Evans, 1991) cho rằng hiểu biết được những đặc điểm ngôn ngữ và văn bản của ngôn ngữ chuyên ngành sẽ giúp quá trình đọc hiểu được nhanh hơn, viết các bài viết về chuyên ngành có hiệu quả hơn và dịch chuyên ngành từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia một cách chính xác hơn và thoát ý hơn. Hơn nữa, hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích, đối chiếu những đặc điểm của VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt dựa trên quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Thực tế trên đây là động lực chủ yếu để chúng tôi triển khai đề tài ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: (i) Mục đích nghiên cứu: Luận án đặt ra hai mục đích nghiên cứu cơ bản sau: Thứ nhất, phân tích bản chất và đặc điểm để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong văn bản chuyên ngành dược học (VBCNDH) tiếng Anh và tiếng Việt từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực (Register). Thứ hai, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ trong hai loại văn bản trên để tìm ra những nét tương 1

đồng và khác biệt về phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể là về đặc điểm: Hệ thống chuyển tác, Tham thể/Chủ ngữ, thuật ngữ, cấu trúc/dạng, thức, tình thái, đề ngữ, quy chiếu và liên kết logic; (ii) Nhiệm vụ nghiên cứu: (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên ngành, ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành y dược tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và ở Việt Nam; (ii) Tổng quan những đặc điểm cơ bản về cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để xây dựng khung lí thuyết cho luận án ngữ vực; (iii) Sử dụng khung lí thuyết đã được thiết lập để mô tả, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt trên quan điểm của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về phương diện Trường, Không khí và Cách thức; (iv) Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt theo các phương diện đã nêu, từ đó thiết lập những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ; và (v) Kết luận chung về những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội về đặc điểm Trường, Không khí, Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án: (i) Phạm vi nghiên cứu của luận án gồm những đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Đối tượng nghiên cứu là đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (iii) Nguồn ngữ liệu là VBCNDH được thu thập từ Tạp chí chuyên ngành dược, cụ thể là: Tiếng Anh: British Journal of Pharmaceutical Research (Tạp chí nghiên cứu Dược học Anh); Tiếng Việt: Tạp chí Dược học – Bộ Y tế. Luận án lựa chọn 25 VBCNDH tiếng Anh và 25 VBCNDH tiếng Việt được xuất bản từ năm 2011 đến 2015 về các loại thuốc, dược chất, bệnh, hay hướng nghiên cứu kết hợp sử dụng các loại thuốc để miêu tả, phân tích và đối chiếu. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án: (i) Phương pháp miêu tả: được sử dụng để giúp luận án miêu tả để tìm ra một số đặc điểm ngôn trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để tìm hiểu ý nghĩa về đặc điểm của Trường, Không khí và Cách thức trong VBCNDH như thế nào; (iii) Phương pháp so sánh – đối chiếu được sử dụng để đối sánh các đặc điểm ngôn ngữ nổi trội của VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai văn bản. Khung lỳ thuyết luận án dùng để phân tích chủ yếu dựa trên lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực và một số nhà nghiên cứu khác như Halliday & Hassan (1976), Hoàng Văn Vân (2005) v.v và lý 2

3

thể. Tuy nhiên, về cơ bản, ESP được gọi chung là tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam (Lâm Quang Đông, 2014). Khi nghiên cứu về bản chất các văn bản khoa học trong mối quan hệ với dịch thuật, đi theo cách tiếp cận của Halliday (1993), Hoàng Văn Vân (2005, 2010) đã chỉ ra một số đặc điểm có thể khu biệt văn bản khoa học với các kiểu ngữ vực. Ông đã phác thảo một bức tranh khái quát về ngữ vực trong ngôn ngữ khoa học. Ông cũng cho thấy các văn bản khoa học trong tiếng Anh thường có những thuật ngữ bằng tiếng Latinh hay có nguồn gốc từ tiếng Latinh. Như vậy, xét trên bình diện nghiên cứu diễn ngôn, Hoàng Văn Vân (1993, 2005, 2006) v.v. và một số công trình nghiên cứu khác của ông đã có những đóng góp đáng kể vào nghiên cứu ngữ pháp, dịch thuật, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nói chung và đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng. Ngoài ra, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ chuyên ngành, mặc dù những chuyên ngành này không gần với chuyên ngành dược học như công trình của Nguyễn Hòa (1999), Lê Hùng Tiến (1999), Nguyễn Xuân Thơm (2001), Đỗ Tuấn Minh (2001), Nguyễn Thị Thanh Hương (2003), Đỗ Kim Phương (2012), Trần Bình Tuyên (2017) v.v. Bên cạnh những công trình về tiếng Anh chuyên ngành, đã có nhiều nghiên cứu về tiếng Việt trên các bình diện khác nhau dựa trên các quan điểm lí thuyết khác nhau như Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban (1989, 2005), Cao Xuân Hạo (1991, 2004), Hoàng Văn Vân (1997, 2002), Nguyễn Văn Hiệp (1999, 2007, 2008), Lâm Quang Đông (2007, 2011, 2014), Nguyễn Hồng Cổn (2000, 2004) và rất nhiều công trình nghiên cứu khác. Trong các nghiên cứu trên, Cao Xuân Hạo là người đầu tiên áp dụng triệt để quan hệ Đề – Thuyết vào phân tích cú pháp câu tiếng Việt (dẫn theo Nguyễn Hồng Cổn, 2008). Ngoài ra, trong tiếng Việt, trên lĩnh vực nghiên cứu về thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu nổi bật như Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Thiện Giáp (1978), Hoàng Văn Hành (1983), Nguyễn Đức Tồn (2002, 2010, 2016), Nguyễn Văn Khang (1999, 2007), Hà Quang Năng (2009, 2010) và nhiều nghiên cứu khác. 1.3. Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới và ở Việt Nam 1.3.1. Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới: Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành dược trên các bình diện và hình thức khác nhau. Cụ thể là nghiên cứu của Boudemagh Wided (2010), Lukasz Grabowski (2013, 2015) v.v. Những nghiên cứu này đã cho thấy một số phát hiện hữu ích không những về mặt sư 5

phạm cho cả giáo viên và học viên tiếng Anh chuyên ngành dược học mà còn có thể mở rộng đối với những loại văn bản chuyên ngành khác. 1.3.2. Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học ở Việt Nam Về lĩnh vực khoa học ngành dược có công trình của Lâm Thị Thùy Linh (2011). Nghiên cứu đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ của hai loại văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc trong tiếng Anh và tiếng Việt. Công trình đã có ý nghĩa to lớn đối với việc dạy học tiếng Anh chuyên ngành y dược cũng như trong việc dịch thuật tiếng Anh như là một ngoại ngữ. Tiếp theo là công trình nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp trong diễn ngôn dược học của Vũ Thị Mẫu (2012). Nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm của ẩn dụ ngữ pháp trong các diễn ngôn dược học tiếng Anh và mối quan hệ mật thiết giữa việc sử dụng ẩn dụ ngữ pháp và sự tạo thành của văn bản dược học. Như vậy, có thể cho thấy ngôn ngữ chuyên ngành có thể được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ và trên các bình diện của diễn ngôn chuyên ngành (Nguyễn Xuân Thơm, 2008). 1.4. Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích thể loại diễn ngôn (genre analysis) 1.4.1. Khái niệm diễn ngôn: Trên thế giới, khái niệm diễn ngôn đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra những quan điểm khác nhau. Khái niệm diễn ngôn lần đầu được Z. Harris (1952) cho rằng diễn ngôn là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu. Nó là một đơn vị mở, có khả năng phân tích. Sau này Halliday và Hassan (1976) cũng nhận định diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó khi nó nhấn mạnh văn bản hay diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp. Ở Việt Nam, đi theo khuynh hướng về quan điểm diễn ngôn của Halliday và Hassan, Hoàng Văn Vân (2006) đã khẳng định ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng. Chính vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thay thế cho nhau để mô tả đặc điểm văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt. 1.4.2. Khái niệm phân tích diễn ngôn: Cho đến nay đã có nhiều quan điểm về phân tích diễn ngôn. Halliday (1994) đã có quan điểm khái quát hơn về phân tích diễn ngôn. Ông cho rằng: “Phân tích diễn ngôn phải được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ. Đồng thời, lý do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng tỏ ngôn bản – điều mà người ta nói và viết, nghe và đọc. Cả hệ thống và ngôn bản đều phải nằm trong tiêu điểm của sự chú ý. Nếu không thì sẽ không có cách nào để so sánh ngôn bản này với ngôn bản kia, hay với cái mà chính nó có thể đã là như vậy nhưng trong thực tế thì nó lại không phải là thế. Và, có thể 6

tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm (1999) cho rằng cũng có các phương tiện liên kết tương tự trong tiếng Anh. Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã cho thấy cấp độ của các chỉ tố liên kết văn bản. Như vậy, đặc trưng về Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh được tiến hành tìm hiểu các loại cấu trúc đề thuyết, các cách thức tổ chức diễn ngôn cả ở phương tiện quy chiếu cũng như liên kết logic sẽ được dựa chủ yếu vào khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday cũng tham khảo lý thuyết của nhà ngôn ngữ Nguyễn Văn Hiệp và một số nhà Việt ngữ học khác trong tiếng Việt. 1.6. Lý thuyết về ngữ vực Halliday & Hassan (1989) mô tả như sau: (i) Trường của ngôn bản là chỉ ra cái gì đang xảy ra, bản chất của hành động xã hội đang diễn ra (ii) Không khí của ngôn bản là chỉ ra việc ai đang tham gia vào, bản chất của những người tham gia, các vai diễn và vị thế của họ; (iii) Cách thức của ngôn bản là chỉ ra vai trò của ngôn ngữ đang đóng, cái mà những người tham gia đang chờ đợi ngôn ngữ thực hiện cho họ trong tình huống đó là gì. Như vậy, trong phạm vi luận án, nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ chuyên ngành dược học trên các phương diện ngữ vực theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday chính là nghiên cứu các đặc điểm về Trường, Không khí và Cách thức được thực hiện hóa qua các bình diện về kinh nghiệm, liên nhân và văn bản. 1.7. Lý thuyết ngôn ngữ so sánh đối chiếu Luận án áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng (2008). Bước một, mô tả (luận án mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp – từ vựng, văn bản sử dụng chủ yếu khung ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và tham khảo một số nhà nghiên cứu khác. Bước hai, xác định những thông số để so sánh đối chiếu (dựa vào những đặc điểm ngôn ngữ qua mô tả chúng tôi sẽ chọn các đặc điểm ngôn ngữ điển hình của văn bản chuyên ngành dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt để so sánh đối chiếu). Bước ba, đối chiếu. 1.8. Tiểu kết Chương này luận án đã điểm lại tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành nói chung cũng như ngôn ngữ chuyên ngành dược trong tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và Việt Nam. Hơn nữa, luận án đã trình bày một số đặc điểm quan trọng nhất của lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống về phương diện ngữ vực và lí thuyết ngôn ngữ học so sánh đối chiếu. Như vậy, những quan điểm của Halliday về lý thuyết ngữ vực và các siêu chức năng của ngôn ngữ sẽ là công cụ để luận án tiến hành phân tích VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt trên các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức. 9

phương pháp ghép; (vi) phương thức viết tắt. Thứ tư, thuật ngữ dược học tiếng Anh đều là các từ loại mở, bao gồm danh từ, tính từ, động từ, và có thể có cả trạng từ (dẫn theo Vương Thị Thu Minh, 2005). 2.1.4. Kết quả phân tích cấu trúc/dạng Thứ nhất, dạng bị động được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng Anh (chiếm 31%), đặc biệt là ở phần thân bài. Kết quả này cũng minh chứng cho quan điểm khi phân tích ngữ vực của tiếng Anh khoa học của Ewer & Latorre’s đã được Tom Hutchinson & Alan Waters chỉ ra “There was little that was distinctive in the sentence grammar of Science English beyond a tendency to favour particular forms such as the present simple tense, the passive voice, and nominal compounds” (1987). Thứ hai, dạng bị động trong VBCNDH tiếng Anh thường có dạng: Chủ ngữ + be + Quá trình ở mẫu phân từ quá khứ + by. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số cú dạng bị động bị lược bỏ quá trình be. Thứ ba, một số phụ ngữ chỉ sự đánh giá hay tần suất được đứng trước các quá trình trong nhiều cú dạng bị động. 2.2. Đặc điểm về Không khí trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh 2.2.1. Kết quả phân tích Thức Kiểu thức được sử dụng duy nhất trong VBCNDH tiếng Anh đó là thức tuyên bố. Trong đó, thức tuyên bố khẳng định chiếm tỷ lệ đa số. Bên cạnh đó, một số thức tuyên bố phủ định cũng được sử dụng để khẳng định những kết quả của người viết diễn ngôn đã đưa ra. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Derewianka (2011). 2.2.2. Kết quả phân tích tình thái Thứ nhất, việc sử dụng các động từ tình thái đặc biệt như may, might, could với tần số cao để chỉ mức độ khả năng chắc chắn của một tuyên bố trong VBCNDH tiếng Anh. Kết quả này đã chứng tỏ đây là đặc điểm yêu cầu trong một văn bản khoa học (Tony Dudley-Evan, 1998). Ngoài ra, tần số sử dụng động từ tình thái cao vượt trội trong VBCNDH tiếng Anh cũng cho thấy “Dạng ngôn ngữ chung được tìm thấy trong văn bản khoa học đó là các động từ đặc biệt, ví dụ như động từ tình thái” (Hutchíon & Waters, 1984). Thứ hai, Phụ ngữ tình thái xuất hiện không đáng kể trong VBCNDH tiéng Anh. Như vậy, với cách kiến tạo của các động từ tình thái và Phụ ngữ tình thái chỉ ra tình thái trong VBCNDH tiếng Anh phù hợp với khung cảnh của khoa học hiện đại, đó là một khung cảnh trong đó phần nhiều kiến thức được khám phá chỉ mang “tính sác xuất” (Probability) hay “tính không chắc chắn” (uncertainty) (Halliday, 1993) và Moss (2000). 11

khoa học khác. Đây là một trong những phương tiện quan trọng nhất mang lại cho VBCNDH tiếng Anh khác với các văn bản khoa học khác. Ngoài ra, luận án chỉ ra số lượng vượt trội của các Chủ ngữ không phải là người mà là các sự vật về một loại dược liệu, dược chất, hóa chất, thuốc, hay hiện tượng của một bệnh nào đó. Đồng thời, luận án cũng cho thấy dạng bị động được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng Anh; (ii) Đặc điểm về Không khí: với sự xuất hiện đại đa số các cú tuyên bố khẳng định và số lượng đáng kể của các yếu tố tình thái chứng minh rằng trong VBCNDH tiếng Anh, những luận điểm khoa học được khẳng định một cách khách quan với cách diễn tả thông qua kiểu tình thái hóa với tư cách là đặc điểm của cú trong hai ý nghĩa “khả năng” và “sự thường lệ” (Tony Dudley-Evans, 1998). (iii) Đặc điểm về Cách thức: sự kết hợp của kiểu Đề hóa cùng với quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ định và liên kết logic cao đã mang lại cho VBCNDH tiếng Anh tính liên kết và minh xác cao. CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TIẾNG VIỆT 3.2. Đặc điểm về Trường trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt 3.2.1. Kết quả phân tích các kiểu quá trình Thứ nhất, quá trình vật chất và quá trình quan hệ chiếm ưu thế tuyệt đối (chiếm 40% cú quá trình vật chất). Thứ hai, quá trình phát ngôn được sử dụng như là quá trình giải thích ‘hành động hữu ngôn’ hay hành động phát ngôn. Thứ ba, quá trình hiện hữu chỉ xuất hiện 3,3% nhưng VBCNDH tiếng Việt đã thể hiện hay thừa nhận một thực thể nào đó hiện hữu. Thứ tư, quá trình tinh thần tri giác trong VBCNDH tiếng Việt có thể được biểu hiện quá trình chỉ cảm giác như nhận thấy, quan sát thấy. Thứ năm, VBCNDH tiếng Việt thể hiện các ngữ vực khoa học, vì vậy chúng chỉ có thể tồn tại hay hoạt động, chúng không thể ứng xử như các thực thể có tư duy (Hoàng Văn Vân, 2016). 3.2.2. Kết quả phân tích Tham thể/ Chủ ngữ Thứ nhất, các cú có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn phân bố không đồng đều trong VBCNDH tiếng Việt. Thứ hai, đối với các cú không có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn được tái hiện lại đa phần các sự vật, hiện tượng hình thành nên một phần của văn bản. Tuy nhiên, các cú không có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn ở phần kết luận khi được tái hiện lại thì đại đa số là Tham thể/Chủ ngữ chỉ người hoặc sự vật. 13

3.2.3. Kết quả phân tích thuật ngữ khoa học Thứ nhất, thuật ngữ khoa học xuất hiện trong tất cả các cú. Chính đặc điểm này đã minh họa cho nhận định của Halliday về đặc điểm cơ bản của văn bản khoa học “Các khái niệm đan xen nhau, tính kỹ thuật, và mật độ từ vựng cao” (Halliday, 1993). Thứ hai, các thuật ngữ xuất hiện trong Chủ ngữ tập trung hầu hết trong quá trình vật chất và quá trình quan hệ (ví dụ: Viêm khớp là chứng bệnh thường gặp với biểu hiện viêm sưng và đau khớp). Thứ ba, thuật ngữ dược học tiếng Việt được vay mượn theo nguyên dạng viết tắt hoặc dựa trên cơ sở các yếu tố thuần Việt, Hán – Việt, và Ấn Âu. Thứ tư, thuật ngữ dược học tiếng Việt có thể được hình thành từ phương thức dịch nghĩa như: dược trị liệu (pharmacotherapy), dược động học (pharmacodynamics) v.v. Thứ năm, đặc điểm từ loại của thuật ngữ dược học tiếng Việt bao gồm: (i) danh từ; (ii) tính từ; (iii) động từ; và (iv) ngữ danh từ. 3.2.4. Kết quả phân tích cấu trúc/dạng Thứ nhất, dạng chủ động chiếm ưu thế, dạng bị động được sử dụng trong các trường hợp cú có Tham thể chủ ngữ hiển ngôn và cú có Tham thể chủ ngữ không hiển ngôn. Kết quả này có thể được giải thích như sau: “Nếu xét về mặt lý thuyết, trong tiếng Việt luôn luôn có đầy đủ ý niệm về tính chủ động và hậu quả bị động của các hành động tích cực, có ý thức tác động lên sự vật của con người. Nếu xét về mặt thực hành, trong văn phong khoa học các cấu trúc bị động được sử dụng khá rộng rãi và thường xuyên” (Nguyễn Văn Thành, 2003). Thứ hai, ý nghĩa bị động thường được thể hiện bằng tiểu từ bị động được. 3.3. Đặc điểm về không khí trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt 3.3.1. Kết quả phân tích thức Thứ nhất, cú tuyên bố chiếm vị trí độc tôn trong VBCNDH tiếng Việt, trong đó cú tuyên bố khẳng định chiếm đại đa số. Thứ hai, khi nhận định về những bằng chứng hay kết quả của những nghiên cứu thì giá trị liên nhân được thể hiện thông qua các cú tuyên bố để chỉ ra những nhận định chủ quan của tác giả thông qua những bằng chứng, kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, các cú tuyên bố còn chỉ rõ tính mục đích của tác giả trong VBCNDH tiếng Việt. 3.3.2. Kết quả phân tích tình thái Thứ nhất, chức năng liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt được hiện thực hóa bằng tình thái, trong đó phương tiện phù hợp để thể hiện là kiểu tình thái chỉ “khả năng” và nghĩa đặc thù của kiểu tình thái này là có thể, có khả năng. Thứ hai, về ý nghĩa tình thái chỉ “sự thường lệ”, chỉ có Phụ ngữ tình thái xuất hiện là thường/thông thường và luôn/luôn luôn. Ngoài ra chỉ xuất hiện duy nhất 1 lần Phụ ngữ tình thái chỉ sự thường lệ khác. 14

3.4. Đặc điểm về Cách thức trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt 3.4.1. Kết quả phân tích Đề ngữ Thứ nhất, kiểu Đề ngữ không đánh dấu được sử dụng phổ biến hơn Đề ngữ đánh dấu. Điều này cho thấy, trong VBCNDH tiếng Việt kiểu Đề ngữ trong cú “cú như là thông điệp” (Halliday, 1998), nó giữ chức năng tuyền tải thông điệp, đề cập thẳng đối tượng được nói đến người nghe/người đọc. Thứ hai, các Đề ngữ đánh dấu tuy xuất hiện ít hơn Đề ngữ không đánh dấu, nhưng VBCNDH tiếng Việt muốn nhằm tới mục đích đảm bảo tính chân thực, tính chính xác của các hành động, các sự việc diễn ra về không gian, thời gian, cách thức v.v. Thứ ba, Đề ngữ văn bản trong VBCNDH tiếng Việt có chức năng liên kết thông điệp, tạo nên sự logic trong văn bản. Thứ tư, Đề ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt bao gồm các phụ ngữ tình thái với chức năng liên nhân có giúp người viết/ người nói bộc lộ cách đánh giá tạo nên sự tương tác với người đọc/ người nghe. 3.4.2. Kết quả phân tích liên kết Thứ nhất, Quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định được sử dụng không đáng kể. Kết quả này cũng nhận định quan niệm của Brown (dẫn theo Nguyễn Quang, 2002) “Việc sử dụng tên riêng chính là xác định cá nhân như một thể duy nhất”. Thứ hai, VBCNDH tiếng Việt đã sử dụng liên kết logic cao để diễn đạt trong lập luận của diễn ngôn. Thứ ba, các tổ hợp từ ngoài ra, hơn nữa làm liên tố và chỉ cái dùng để so sánh (cách nói khác: hơn thế nữa) trong cú chứa nó, đồng thời nêu lên quan hệ bổ sung với những điều đã nói đến trước đó trong VBCNDH tiếng Việt. 3.5. Tiểu kết (i) Đặc điểm về Trường: quá trình quan hệ được khai thác cao nhất trong VBCNDH tiếng Việt đồng thời độ đậm đặc các thuật ngữ khoa học cao kết hợp với sự xuất hiện của nhiều thuật ngữ khoa học khác đặc biệt là thuật ngữ Latinh và từ Hán – Việt. Đây là một trong những phương tiện quan trọng nhất mang lại cho VBCNDH tiếng Việt khác với các văn bản khoa học khác. Hơn nữa, luận án cũng chỉ ra số lượng chiếm ưu thế của các Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn. Thêm vào đó, có sự xuất hiện số lượng đáng kể của dạng bị động trong VBCNDH tiếng Việt. (ii) Đặc điểm về Không khí: kiểu thức tuyên bố khẳng định chiếm ưu thế tuyệt đối trong VBCNDH tiếng Việt. Ngoài ra, các kiểu tình thái hóa cũng được sử dụng để xây dựng ý nghĩa khách quan trong VBCNDH tiếng Việt. Với việc sử dụng đại đa số các cú tuyên bố khẳng định và một số lượng các yếu tố tình thái cho thấy cách thức trong VBCNDH tiếng Việt thể hiện thái độ đối với thông tin nhìn từ chức năng liên nhân. (iii) Đặc điểm về Cách thức: việc phân tích Đề ngữ đã cho thấy ba bình diện cấu trúc ngữ nghĩa của cú trong VBCNDH tiếng Việt. 15

tồn tại những đơn vị từ vựng mà nó vừa có mặt trong ngôn ngữ thông thường, vừa có mặt trong ngôn ngữ chuyên ngành dược học. Điều này được Lê Quang Thiêm (2006) gọi “đây là quá trình trí tuệ hóa các từ thông thường”. Thứ ba, số lượng lớn mật độ thuật ngữ khoa học dày đặc trong đó có sự kết hợp của thuật ngữ dược học với các thuật ngữ khoa học khác như thuật ngữ hóa học, sinh học, y học v.v. đây cũng là một trong những đặc điểm của ngôn ngữ khoa học mà Lưu Trọng Tuấn đã chỉ ra “Dùng những thuật ngữ đặc thù cho từng ngành khoa học, tuy nhiên có khuynh hướng trao đổi thuật ngữ giữa các ngành khoa học khác nhau” (2008). 4.2.2.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, tỉ lệ cú có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn trong VBCNDH tiếng Anh cao hơn trong tiếng Việt. Thứ hai, tần số xuất hiện của thuật ngữ khoa học trong các cú có Tham thể làm chủ ngữ trong VBCNDH tiếng Anh cao hơn không đáng kể so với chúng có trong tiếng Việt. Nhưng về nguồn gốc thì có sự khác nhau cơ bản về hệ thuật ngữ dược học trong hai ngôn ngữ. Điều này cho thấy “Thuật ngữ thường gắn liền với nơi sản sinh ra nó, vì thế một thuật ngữ tiếng Anh đôi khi không tìm thấy tương đương hoàn toàn trong tiếng Việt, có thể do khái niệm đó chỉ có ở văn hóa phương Tây chưa chuyển di sang văn hóa Việt, song cũng có thể do cách nhìn khác nhau từ hai nền văn hóa khác nhau cho cùng một khái niệm”(Lưu Trọng Tuấn, 2008). Sự khác biệt đáng kể này cũng có thể được giải thích theo Nguyễn Văn Khang đó là: “chỉ như vậy mới có thể thể hiện chính xác được nội dung của khái niệm vừa nêu” [32, tr. 26]. 4.2.3. Kết quả đối chiếu đặc điểm cấu trúc/dạng 4.2.3.1. Những nét tương đồng: Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt cùng khai thác tỷ lệ dạng bị động cao. Thứ hai, dạng bị động được sử dụng kết hợp với các động từ tình thái giúp người viết diễn ngôn thể hiện thông điệp một cách trang trọng hơn. Thứ ba, việc sử dụng dạng bị động cho phép người viết diễn ngôn có thể diễn giải thông điệp bằng cách đặt các khách thể nhận tác động của hành động vào vị trí của chủ ngữ thay vì đặt các chủ thể (Lâm Thị Thùy Linh, 2011). 4.2.3.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, dạng bị động được sử dụng trong tiếng Anh cao hơn nhiều so với tiếng Việt. Kết quả này được Janice R Mathews và Robert W Mathews (2007) nhận định về dạng bị động được sử dụng trong văn bản khoa học trong Successful scientific writing. Thứ hai, dạng bị động trong VBCNDH tiếng Anh hầu như thường có dạng: Chủ ngữ + be +Quá trình ở mẫu phân từ quá khứ + by. Trong khi đó, trong VBCNDH dược học tiếng Việt, các cú ở dạng bị động được xuất hiện dưới hai hình thức mà ngữ pháp truyền thống gọi là các động từ bị động “bị” và “được”. Sự khác nhau về các cấu trúc tương ứng giữa dạng chủ động và dạng bị động có thể được trình bày như sử dụng thuật ngữ của ngữ pháp hình thức: NP1 + V (chủ 17

động) + NP2 [chủ động]; NP2 + V1 (bị động) + NP2 + V2 [bị động] (Hoàng Văn Vân, 2002). Hoặc, các cú ở dạng bị động trong VBCNDH tiếng Việt, ngoài cấu trúc: Chủ ngữ + được/bị (theo cách gọi của ngữ pháp truyền thống) + Động từ (quá trình) + Chu cảnh (chu cảnh chỉ nguyên nhân) thì còn có nhiều cú được sử dụng với cấu trúc: Chủ ngữ + được/bị + Chủ ngữ + Quá trình (Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên, 2004). 4.3. Đối chiếu đặc điểm về Không khí trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 4.3.1. Kết quả đối chiếu đặc điểm Thức Thứ nhất, việc khai thác tỉ lệ cao của cú tuyên bố trong cả hai ngôn ngữ kết hợp xu hướng tạo Phụ ngữ tình thái nhằm diễn tả quan điểm của người viết diễn ngôn trong VBCNDH. Thứ hai, dạng thức nghi vấn hoặc thức mệnh lệnh vắng mặt trong cả hai ngôn ngữ mặc dù cùng chỉ sử dụng dạng thức tuyên bố và chủ yếu là thức tuyên bố khẳng định để kiến tạo văn bản. Kết quả này cũng thể hiện rõ nét VBCNDH tiếng Anh cũng như tiếng Việt mang những đặc trưng chung của văn bản khoa học đã được Lưu Trọng Tuấn (2008) chỉ ra như sau: “Văn bản khoa học có chức năng thông báo là chủ yếu, thường trình bày những hiện tượng, quy luật của tự nhiên v.v”. 4.3.2. Kết quả đối chiếu đặc điểm Tình thái 4.3.2.1. Những nét tương đồng: Thứ nhất, Tình thái trong cả hai văn bản cao hơn so với các văn bản thông thường (Ewer & Hughes-Davies, 1971), đây cũng chính là đặc điểm khác biệt giữa văn bản chuyên ngành dược học so với các văn bản khác. Thứ hai, VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt cùng sử dụng động từ tình thái nhiều hơn tình thái chỉ sự thường lệ, có nghĩa là người nói/ người viết muốn đưa ra nhận xét, quan điểm của mình một cách khách quan hơn khi họ dùng trạng từ, tính từ hoặc danh từ (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2012) 4.3.2.2. Những nét khác biệt: Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh dường như phù hợp hơn với kiểu kiến thức khám phá chỉ mang “tính xác suất” hay “tính không chắc chắn” (Halliday, 1993), Moss (2000). Như vậy, mặc dù không có sự khác biệt đáng kể nhưng với cách kiến tạo văn bản theo kiểu này trong VBCNDH tiếng Anh đã giúp người đọc có khả năng đàm phán văn bản cao hơn so với văn bản tiếng Việt. Thứ hai, trong văn phong khoa học tiếng Anh và tiếng Việt, xu hướng sử dụng động từ tình thái (có thể/ có khả năng/ có năng lực/ được phép/ biết) được sử dụng nhiều hơn so với các phụ ngữ tình thái. Thứ ba, kiểu kiến tạo văn bản với các phụ ngữ tình thái chỉ “sự thường lệ” xuất hiện ở cả hai ngôn ngữ cho thấy “Phụ ngữ tình thái rất quan trọng về mặt chức năng trong cú” (Halliday, 1993). Tuy nhiên, phụ ngữ tình thái xuất hiện chỉ có 12 lần/2.101 cú (chiếm 0,6%) trong VBCNDH tiếng Anh, trong khi đó chúng xuất hiện 20 lần/1.161 cú (chiếm 1,7%) trong VBCNDH tiếng Việt. Kết quả này có thể lý giải sự khác nhau về về việc ưa chuộng cách sử dụng 18

Cập nhật thông tin chi tiết về Đối Phó Trong Tiếng Tiếng Anh / 2023 trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!