Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. # Top 8 View | Theolympiashools.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. được cập nhật mới nhất trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trình Bày: Ngô Thị Quý Linh

NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM – CÁCH PHÁT ÂM 29 MẪU TỰ, NHẬN CHỮ, NHẬN ÂM, ĐÁNH VẦN

I. Các chữ cái

Chữ in hoa

A       Ă              B       C       D       Đ       E       Ê       G       H       I        K 

L       M      N       O       Ô       Ơ       P       Q       R       S       T       U       Ư

V       X       Y

Chữ in thường

a        ă        â        b        c        d        đ        e        ê        g        h        i         k

l         m       n        o        ô        ơ        p        q        r        s        t         u        ư

v        x        y

*10 nguyên âm: đó là những chữ cái đọc lên tự nó có thanh âm: a, e, i, o, u, y, và các biến thể ê, ô, ơ, ư. Tên chữ và âm chữ đọc giống nhau.

2 bán nguyên âm: ă, â. Hai chữ này không đứng riêng một mình được, phải ghép với một trong các phụ âm c, m, n, p, t.

Vần ghép từ nguyên âm: ai, ao, au, ay, âu, ây, eo, êu, ia, iu, oa, oe, oi, ôi, ơi, ua, ưa, uê, ui, uy, ưi, iêu, yêu, oao, oai, oay, uôi, ươi, ươu, uya, uyu…

Vần ghép từ một hay hai nguyên âm hợp với một hay hai phụ âm: ac, ăc, âc, am, ăm, âm, an, ăn, ân, ap, ăp, âp, at, ăp, ât, em, êm, en, ên, ep, êp, et, êt, …, inh, iêng, uông, …

*Phụ âm là những chữ tự nó không có âm, ghép vào nguyên âm mới có âm được.

15 phụ âm đơn: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, r, s, t, v, x.

2 phụ âm không đứng một mình được: p và q. Chúng ta chỉ có chữ bắt đầu bằng ph và qu, không có chữ bắt đầu bằng p hay q đứng một mình trong tiếng Việt. Ví dụ: quà, phở, quê, cà phê.

Ghi chú: Chữ “p” có thể dùng để phiên âm hay ký âm những danh từ riêng hay danh từ chung của dân sắc tộc thiểu số hay người ngoại quốc. Ví dụ: pin (từ chữ “pile” tiếng Pháp).

11 phụ âm ghép: ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, qu, th, tr.

II. Cách phát âm.

Chữ viết      Tên chữ     Phát âm            

A                a                      a                                             

Ă                ă                      á                                             

                â                      ớ

B                bê                    bờ

C                 xê                    cờ

D                dê                    dờ

Đ                đê                    đờ

E                e              e

Ê                ê              ê

G                giê                    gờ

H                hát                   hờ

I                  i                       i

K                ca                     cờ

L                el-lờ                  lờ

M               em-mờ             mờ

N                en-nờ               nờ

O                o                      o

Ô                ô                      ô

Ơ                ơ                      ơ

P                 pê            pờ

Q                cu/quy             cờ

R                 e-rờ                  rờ

S                 ét-sì                  sờ

T                 tê             tờ

U                u                      u

Ư                ư                      ư

V                vê                    vờ

X                ích-xì               xờ

Y                i- gờ-rếch         i

III.       Đánh vần

Với cách đánh vần tiếng Việt, ngay từ bài học tiếng Việt đầu tiên, học sinh bắt đầu từ một tiếng đơn giản là nguyên liệu tạo nên các từ đơn và từ phức tạp trong tiếng Việt. Cũng vì vậy, học sinh chỉ học ít tiếng nhưng lại biết được nhiều từ những tiếng mà các em đã biết.

Ai và ay, ui và uy đọc khác nhau.

I hay Y đứng sau một phụ âm có thể tùy nghĩa của chữ mà dùng “i” hay” y”.

Khi chữ “i” đứng liền ngay trước phụ âm: ch, m, n, p hay t, thì viết “i”.

Hai chữ cái “c” (xê), “k” (ca) đều đọc là “cờ”.

  – Chữ “c” đi với các nguyên âm: a, o, u và các biến thể nguyên âm: ă, â, ô, ơ, ư.

  – Chữ “k” đi với các nguyên âm: e, i, y và biến thể nguyên âm: ê.

Chữ “g” và “gh” đọc là “gờ”.

  – Chữ “g” đi với các nguyên âm: a, o, u và biến thể nguyên âm: ă, â, ô, ơ, ư.

  – Chữ “gh” đi với các nguyên âm: e, i và biến thể nguyên âm: ê.

Chữ “ng” và “ngh” đọc là “ngờ”.

  – Chữ “ng” đi với các nguyên âm: a, o, u và các biến thể: ă, â, ô, ơ, ư.

  – Chữ “ngh” đi với các nguyên âm: e, i và biến thể: ê.

Chữ “gi” phát âm là “giờ”. Nếu vần ghép bắt đầu bằng “i” thì vì trùng với “i” của phụ âm đầu từ “gi” nên đơn giản bớt một “i”.

Ví dụ: gi + iếng = giếng

Khi đọc tắt những chữ cái tên của một hãng hay là bảng số xe, ví dụ: ABC, chúng ta đọc tên chữ là “a”, “bê”, “xê”, chứ không đọc là “a”, “bờ”, “cờ”.

Âm và thanh –

Âm là tiếng phát ra của một chữ: a, o, u, …

Thanh là giọng lên xuống làm cho âm đó biến ra tiếng khác: á, ò, ũ, …

Một âm có thể biến đổi do sáu thanh:

Hai thanh bằng: đoản bình thanh, tràng bình thanh.

Bốn thanh trắc: thượng thanh, hạ thanh, khứ thanh, hồi thanh.

đoản bình thanh không có dấu

tràng bình thanh có dấu huyền

thượng thanh có dấu sắc

hạ thanh có dấu nặng

khứ thanh có dấu ngã

hồi thanh có dấu hỏi

Trong sáu thanh ấy, một thanh không có dấu giọng và năm thanh có dấu giọng.

Dấu giọng – Năm dấu giọng này rất quan trọng đối với tiếng Việt. Nếu dấu giọng bị bỏ sót hay sai dấu thì nghĩa của chữ bị thay đổi.

Năm dấu giọng là:

 dấu huyền (à)

dấu sắc (á)

dấu hỏi (ả)

dấu ngã (ã)

dấu nặng (ạ)

Tiếng nào viết không có dấu giọng thì giọng tự nhiên bằng phẳng.

Những tiếng không có dấu giọng hay có dấu huyền thuộc về âm bằng.

Những tiếng có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã và dấu nặng thuộc về âm trắc.

Một tiếng đầy đủ có 3 thành phần: âm đầu – vần – thanh, luôn luôn phải có: vần – thanh, có tiếng không có âm đầu.

Ví dụ 1. Tiếng on có vần “on” và đoản bình thanh (không dấu), không có âm đầu. Đánh vần: o – nờ – on.

Ví dụ 2. Tiếng òn có vần “on” và tràng bình thanh (dấu huyền), không có âm đầu. Đánh vần: o – nờ – on – huyền – òn.

Ví dụ 3. Tiếng còn có âm đầu là “c”, có vần “on” và tràng bình thanh (dấu huyền). Đánh vần: cờ – on – con – huyền – còn.

Ví dụ 4. Tiếng ngọn có âm đầu là “ng”, có vần “on” và hạ thanh (dấu nặng). Đánh vần: ngờ – on – ngon – nặng – ngọn.

Vần đầy đủ có âm đệm, âm chính và âm cuối.

Ví dụ 1. Tiếng Nguyễn có phụ âm đầu là “ng”, có vần “uyên” và khứ thanh (dấu ngã). Vần “uyên” có âm đệm là “u”, âm chính là “yê”, âm cuối là “n”. Đánh vần “uyên” là: u – i – ê – nờ – uyên hoặc u – yê – nờ – uyên. Đánh vần “Nguyễn” là: ngờ – uyên – nguyên – ngã – nguyễn.

Ví dụ 2. Tiếng ảnh, không có phụ âm đầu, có vần “anh” và hồi thanh (dấu hỏi). Vần “anh” có âm chính “a”, âm cuối là “nh”. Đánh vần: anh – hỏi – ảnh.

Ví dụ 3. Tiếng nóng có phụ âm đầu là “n”, vần là “ong” và thượng thanh (dấu sắc). Đánh vần “ong”: o – ngờ – ong. Đánh vần tiếng “nóng”: nờ – ong – nong – sắc – nóng.

Ví dụ 4. Tiếng nghiêng có phụ âm đầu là “ngh”, có vần “iêng” và đoản bình thanh (không dấu). Vần “iêng” có âm chính “iê” và phụ âm cuối là “ng”. Đánh vần tiếng nghiêng: ngờ – iêng – nghiêng. Đây là tiếng có nhiều chữ cái nhất của tiếng Việt.

Ví dụ 5. Với từ có 2 tiếng Con cò, ta đánh vần từng tiếng: cờ – on – con – cờ – o – co – huyền – cò.

Một chút lịch sử về cách dạy đánh vần tiếng Việt

Trước năm 1935, các phụ âm gọi theo tên chữ, ví dụ: “b” là “bê”, “l” là “en-lờ”, “ngh” là “en-nờ-dê-hát”. Từ năm 1935 trở đi, có quy định mới cho chương trình học từ lớp đồng-ấu như sau:

“Học quốc-ngữ, cấm không được đánh vần theo lối cũ, nghĩa là không được gọi tên chữ mà phải gọi âm chữ”.

Do đó, “b” đọc là “bơ”, “l” đọc là “lơ”, “t” đọc là “tơ”, “ngh” đọc là “ngơ”, …

“gh” gọi là “gơ kép” để phân biệt với “g” gọi là “gơ đơn”;

“ngh” gọi là “ngơ kép” để phân biệt với “ng” gọi là “ngơ đơn”.

Người Việt từ xưa quen học chữ nho là một thứ chữ tượng hình, cho nên khi học tiếng Việt, các sách dạy vần ngày trước đều bắt đầu dạy bằng những chữ có nét giản dị, gạch một nét, hai nét, đường thẳng, đường tròn, rồi từ từ mới đến các chữ phức tạp khác.

Ví dụ: khi bắt đầu thì học chữ i, chữ u, chữ ư, chữ o, chữ e, chữ t, chữ l.

Sau đó, đến một giai đoạn, có thể là trong khoảng 1945 đến 1956, vì lý do chính trị, thay đổi chính phủ và nền hành chánh, từ một nước thuộc địa của Pháp thành ra một quốc gia độc lập, cho nên cách dạy đánh vần tiếng Việt đã trở lại như trước, không theo cách dạy thời thuộc Pháp (sách Quốc-văn Giáo-khoa Thư). Cách đọc các phụ âm khi đánh vần là “bê”, “xê”, “dê”.

Năm 1956, sau khi nền Đệ-nhất Cộng-hòa được thành lập, nghị định và định chế về ngôn ngữ của Bộ Quốc-gia Giáo-dục miền Nam Việt-Nam thay đổi cách đọc các phụ âm cho phù hợp với cách phát âm của âm vị.

Ví dụ: “b” phát âm là “bờ”, “c” phát âm là “cờ”.

Học sinh ghép vần trước, sau đó ghép phụ âm đầu vào với vần và thanh.

Các nhà ngôn ngữ học cho là theo cách này dễ ghép âm hơn là cách đánh vần theo kiểu cũ.

Ví dụ:

Trước năm 1956: từ BÀN, đánh vần là “bê-a-ba-en-nờ-ban-huyền-bàn”.

Sau năm 1956: từ BÀN, ghép vần như sau: “a-nờ-an-bờ-an-ban-huyền-bàn”.

Trong tiếng Việt cũng như mọi ngôn ngữ, mỗi một tiếng có một nghĩa khác nhau, đọc và viết khác nhau. Tuy nhiên, có nhiều tiếng đọc hơi giống nhau và cách viết khác đi. Do đó, chúng ta cần phải biết đọc và viết cho đúng để khỏi nhầm lẫn chữ nọ với chữ kia.

Theo học giả Lê Ngọc Trụ thì “Vấn-đề chánh-tả Việt-ngữ là vấn-đề tự-nguyên-học. Muốn viết trúng một tiếng, ngoài cách phát-âm đúng, phải biết nghĩa-lý hoặc nguồn-gốc của tiếng đó.” Muốn viết đúng chính tả, ông nói nên chú ý ba điểm sau:

Không viết sai phần âm khởi đầu;

Không viết sai các vận cuối;

Luật hỏi ngã.

Tiếng Việt cũng có hệ thống mạch lạc và hợp lý, có nguyên tắc cốt yếu là “luật tương-đồng đối-xứng của các âm-thể”, có nghĩa là “các âm-thể đồng tánh-cách phát-âm và đồng chỗ phát-âm đi chung nhau và đổi lẫn cho nhau.” Nếu hiểu được nguyên tắc này và hiểu được nguồn gốc tiếng Việt thì ta sẽ hiểu được nghĩa lý của mỗi tiếng, từ đó việc thống nhất chính tả và điển chế văn tự sẽ dễ dàng hơn.

Tham khảo:

Việt-Nam Văn-Phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm

Tiểu-học Việt Nam Văn-Phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Quang Oánh

Quốc-văn Giáo-khoa-thư, Lớp Đồng-Ấu, Việt-Nam Tiểu-Học Tùng-Thư, do Nha Học-chính Đông-pháp giao cho Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận soạn.

Chánh Tả Việt Ngữ của Lê Ngọc Trụ

Học đọc tiếng Việt của Đỗ Quang Vinh

Vần Việt ngữ, Nhóm Lửa Việt thực hiện

Văn Phạm Tiếng Việt, Nguyễn Ngọc Lan, cựu giáo sư

NGÔ THỊ QUÝ LINH

Tháng Bảy Năm 2019

Nhà giáo Ngô Thị Quý Linh

* Đã xuất bản một số sách soạn cho thanh thiếu niên từ năm 1990.* Tác giả một số tác phẩm về lịch sử và văn hóa Việt Nam:

  – Sử Xanh Lưu Truyền (1991) – Lời Mẹ Hiền qua tục ngữ ca dao (1993) – Lược sử Triết lý Giáo dục Việt Nam (1997) – Lịch sử Việt Nam từ thuộc Pháp đến Độc Lập, 1858-1945 (2002) – Việt Nam và Công cuộc Duy Tân (2019)

* Cố vấn cho Viện Bảo Tàng Thiếu Nhi tại Houston (Children’s Museum of Houston) năm 2004 để thực hiện triển lãm “Con Rồng Cháu Tiên”.

* Thành lập Trường Truyền Thống Việt từ năm 2006.

* Phụ trách chương trình Văn Hóa Việt trên đài Saigon Houston từ năm 2007.

* Cộng tác từ năm 2014 với Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam tại Hải Ngoại do Giáo sư Nguyễn Song Thuận chủ trương.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Bảng Chữ Cái Tiếng Anh: Cách Đọc, Phiên Âm, Đánh Vần Và Điều Cần Biết

I. Bảng chữ cái tiếng Anh

Phân loại chữ cái nguyên âm và phụ âm

Các chữ cái nguyên âm trong Tiếng Anh bao gồm 5 chữ cái: A, E, I, O, U.

Chức cái phụ âm trong Tiếng Anh gồm 21 chữ cái phụ âm: B, C, D, F, G, H, J, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, V, W, X, Y, Z.

Để đễ nhớ hơn bạn có thể sắp xếp các chữ cái nguyên âm theo thứ tự U E O A I, lên tưởng đến “uể oải” trong Tiếng Việt, các chữ cái còn lại sẽ là phụ âm. Các nguyên âm và phụ âm sẽ có cách đọc khác nhau tùy thuộc vào từ nó thành thành, do đó bạn cần phải thường xuyên sử dụng, tiếp xúc để nhớ mặt chữ và cách phát âm chuẩn. Bạn hoàn toàn có thể tìm cho bạn phương pháp học tự vựng hiệu quả mỗi ngày.

Mức độ quan trọng và tần suất sử dụng của từng kí tự

II. Phiên âm bảng chữ cái tiếng Anh

Phiên âm hay cách đọc bảng chữ cái tiếng Anh được xây dựng dựa trên bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế IPA (International Phonetic Alphabet). Chúng ta sẽ có 20 nguyên âm và 24 phụ âm, do hai nguyên âm khi ghép lại với nhau sẽ tạo thành một nguyên âm ghép.

1. Nguyên âm (vowel sounds)

Nguyên âm bao gồm 12 nguyên âm đôi và 8 nguyên âm đơn.

2. Phụ âm (Consonant sound)

Đối với phụ âm, nó bao gồm 8 phụ âm vô thanh, 8 phụ âm hữu thanh và 6 phụ âm khác. Bạn có thế xem hình:

Phụ âm vô thanh: màu xanh lục

Phụ âm hữu thanh: màu xanh lá cây tươi

Phụ âm khác: màu còn lại

Hoặc tham khảo hình tóm tắt sau

III. Phiên âm chữ cái trong tiếng Anh

Phiên âm chữ cái trong tiếng Anh

Lưu ý có 2 cách để đọc chữ cái Z. Đó là /zed/ hoặc /zi:/.

Bảng chữ cái tiếng Anh và cách phát âm theo phiên âm tiếng Việt ( Gần giống)

Nếu đọc bảng chữ cái được phiên âm theo chuẩn quốc tế có thể khiến bạn gặp nhiều vấn đề thì việc tham khảo phiên âm tiếng Việt này sẽ hỗ trợ bạn rất nhiều trong việc cải thiện và làm quen với cách đọc bảng chữ cái.

Cách Đánh Vần Tiếng Việt 2022

Bảng đánh vần tiếng Việt mới

Học đánh vần là bài học rất quan trọng đối với các bé chuẩn bị bước vào lớp 1. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ bảng chữ cái đánh vần, cách đánh vần tiếng Việt cho học sinh lớp 1 đơn giản dễ hiểu giúp các bé nắm được cách đánh vần chuẩn nhất.

1. Bảng chữ cái tiếng VIệt

Đối với trẻ nhỏ cần tạo ra tâm lý thoải mái nhất trong quá trình học chữ cái. Nên kết hợp hình ảnh gắn liền với chữ cái cần học để tăng sự hứng thú đối với ngôn ngữ cần học và giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn. Đối với việc dạy bảng chữ cái thì giáo viên đứng lớp cũng phải lưu ý rằng cần phải đưa ra cách đọc thống nhất cho các chữ cái, cách tốt nhất là hướng dẫn trẻ đọc theo âm khi được ghép vần trong quá trình giảng dạy.

2. Bảng chữ cái Tiếng Việt chuẩn Bộ Giáo dục

Theo Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam thì hiện nay bảng chữ cái Tiếng Việt có 29 chữ cái. Đây là con số không quá lớn để nhớ đối với mỗi học sinh trong lần đầu tiên được tiếp xúc với tiếng Việt. Các chữ cái trong bảng chữ cái đều có hai hình thức được viết, một là viết nhỏ hai là viết in lớn.

– Chữ hoa – chữ in hoa – chữ viết hoa đều là những tên gọi của kiểu viết chữ in lớn.

– Chữ thường – chữ in thường – chữ viết thường đều được gọi là kiểu viết nhỏ.

Ngoài các chữ cái truyền thống có trong bảng chữ cái tiếng Việt chuẩn thì hiện nay bộ giáo dục còn đang xem xét những ý kiến đề nghị của nhiều người về việc thêm bốn chữ mới vào bảng chữ cái đó là: f, w, j, z. Vấn đề này đang được tranh luận hiện chưa có ý kiến thống nhất. Bốn chữ cái được nêu trên đã được xuất hiện trong sách báo nhưng lại không có trong chữ cái tiếng Việt. Bạn có thể bắt gặp những chữ cái này trong các từ ngữ được bắt nguồn từ các ngôn ngữ khác như chữ “Z” có trong từ Showbiz,…

3. Các phụ âm ghép, các vần ghép trong Tiếng Việt

Các phụ âm ghép trong Tiếng Việt: Các vần ghép trong Tiếng Việt

4. Các dấu câu trong Tiếng Việt

Dấu Sắc dùng vào 1 âm đọc lên giọng mạnh, ký hiệu ( ´ ).

Dấu Huyền dùng vào 1 âm đọc giọng nhẹ, ký hiệu ( ` ).

Dấu Hỏi dùng vào một âm đọc đọc xuống giọng rồi lên giọng

Dấu Ngã dùng vào âm đọc lên giọng rồi xuống giọng ngay, ký hiệu ( ~ ).

Dấu Nặng dùng vào một âm đọc nhấn giọng xuống, kí hiệu ( . )

5. Cách Đánh Vần Các Chữ Trong Tiếng Việt

6. Cách đọc Bảng Chữ Cái Tiếng Việt chuẩn Bộ GD-ĐT

Chữ viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ dạng văn bản, là sự miêu tả lại ngôn ngữ thông qua các ký hiệu hoặc biểu tượng. Chữ viết trong mỗi ngôn ngữ được cấu thành từ bảng chữ cái đặc trưng của ngôn ngữ đó. Đối với mỗi người học ngoại ngữ thì việc làm quen với bảng chữ cái sử dụng cho ngôn ngữ đó là việc đầu tiên hết sức quan trọng.

Trong bảng chữ cái tiếng Việt mới nhất hiện nay gồm các nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i, y, o, ô, ơ, u, ư, oo. Ngoài ra còn có ba nguyên âm đôi với rất nhiều cách viết cụ thể như là: ua – uô, ia – yê – iê, ưa – ươ.

– a và ă là hai nguyên âm. Chúng có cách đọc gần giồng nhau từ trên căn bản vị trí của lưỡi cho đến độ mở của miệng, khẩu hình phát âm.

– Hai nguyên âm ơ và â cũng tương tự giống nhau cụ thể là âm Ơ thì dài, còn đối với âm â thì ngắn hơn.

– Đối với các nguyên âm, các nguyên âm có dấu là: ư, ơ, ô, â, ă cần đặc biệt chú ý. Đối với người nước ngoài thì những âm này cần học nghiêm chỉnh bởi chúng không có trong bảng chữ cái và đặc biệt khó nhớ.

– Đối với trong chữ viết tất cả các nguyên âm đơn đều chỉ xuất hiện một mình trong các âm tiết và không lặp lại ở cùng một vị trí gần nhau. Đối với tiếng Anh thì các chữ cái có thể xuất hiện nhiều lần, thậm trí đứng cùng nhau như: look, zoo, see,… Tiếng Việt thuần chủng thì lại không có, hầu hết đều đi vay mượn được Việt hóa như: quần soóc, cái soong, kính coong,…

– Hai âm “ă” và âm “â” không đứng một mình trong chữ viết Tiếng Việt.

– Khi dạy cách phát âm cho học sinh, dựa theo độ mở của miệng và theo vị trí của lưỡi để dạy cách phát âm. Cách miêu tả vị trí mở miệng và của lưỡi sẽ giúp học viên dễ hiểu cách đọc, dễ dàng phát âm. Để học tốt những điều này cần tới trí tưởng tưởng phong phú của học sinh bởi những điều này không thể nhìn thấy bằng mắt được mà thông qua việc quan sát thầy được.

Trong bảng chữ cái tiếng Việt có phần lớn các phụ âm, đều được ghi bằng một chữ cái duy nhất đó là: b, t, v, s, x, r… Ngoài ra còn có chín phụ âm được viết bằng hai chữ cái đơn ghép lại cụ thể như:

– Ph: có trong các từ như – phở, phim, phấp phới.

– Th: có trong các từ như – thướt tha, thê thảm.

– Tr: có trong các từ như – tre, trúc, trước, trên.

– Gi: có trong các từ như – gia giáo, giảng giải,

– Ch: có trong các từ như – cha, chú, che chở.

– Nh: có trong các từ như – nhỏ nhắn, nhẹ nhàng.

– Ng: có trong các từ như – ngây ngất, ngan ngát.

– Kh: có trong các từ như – không khí, khập khiễng.

– Gh: có trong các từ như – ghế, ghi, ghé, ghẹ.

– Trong chữ cái tiếng Việt có một phụ âm được ghép lại bằng 3 chữ cái: chính là Ngh – được ghép trong các từ như – nghề nghiệp.

Không chỉ có thế mà còn có ba phụ âm được ghép lại bằng nhiều chữ cái khác nhau cụ thể là:

– /k/ được ghi bằng:

K khi đứng trước i/y, iê, ê, e (VD: kí/ký, kiêng, kệ, …);

Q khi đứng trước bán nguyên âm u (VD: qua, quốc, que…)

C khi đứng trước các nguyên âm còn lại (VD: cá, cơm, cốc,…)

– /g/ được ghi bằng:

Gh khi đứng trước các nguyên âm i, iê, ê, e (VD: ghi, ghiền, ghê,…)

G khi đứng trước các nguyên âm còn lại (VD: gỗ, ga,…)

– /ng/ được ghi bằng:

Ngh khi đứng trước các nguyên âm i, iê, ê, e (VD: nghi, nghệ, nghe…)

Ng khi đứng trước các nguyên âm còn lại (VD: ngư, ngả, ngón…)

7. Những chú ý trong phát âm và đánh vần Tiếng Việt

Mặc dù đại thể tiếng Việt chúng ta đã thành hệ thống thống nhất. Tuy nhiên, vẫn còn một vài điểm ngoại lệ gây khó khăn khi dạy vần tiếng Việt:

Trường hợp vần gi, ghép với các vần iêng, iếc thì bỏ bớt i.

Trường hợp ngược lại là hai chữ chỉ đọc một âm: chữ g và gh đọc là gờ. Ðể phân biệt, giáo viên đọc gờ đơn (g) và gờ kép (gh). Tương tự với chữ ng (ngờ đơn) và ngh (ngờ kép).

Trường hợp chữ d và gi: mặc dù thực chất hai chữ nầy phát âm khác nhau như trong từ gia đình và da mặt, nhưng học sinh thường lẫn lộn (đặc biệt phát âm theo giọng miền Nam). Ðể phân biệt, giáo viên đọc d là dờ và gi đọc là di.

Một âm được ghi bằng nhiều chữ cái: âm cờ được ghi bằng 3 chữ c, k và q. Khi dạy, c đọc cờ, k đọc ca và q đọc cu. Ðặc biệt âm q không bao giờ đứng một mình mà luôn đi với u thành qu đọc là quờ. Âm i có i ngắn và y dài.

Học Cách Dạy Trẻ Lớp 1 Đánh Vần Theo Chương Trình Mới

Độ tuổi thích hợp để dạy con đánh vần

Trong giai đoạn 0 – 5 là lứa tuổi vàng cho sự phát triển của trẻ về thể chất, cảm xúc, tình cảm xã hội… Bé cần học những bài học làm người đầu tiên, tham gia hoạt động tập thể, vui chơi, đặc biệt là phát triển nhận thức và ngôn ngữ. Vì vậy cần tạo môi trường thân thiện cho trẻ vui chơi, hoạt động, khám phá để phát triển đúng quy luật phát triển, không nên gò trẻ vào việc học ở giai đoạn này.

Hầu hết chữ của trẻ đều viết sai từ các nét cơ bản cho đến độ rộng, độ cao và khoảng cách.

Cách đánh vần trẻ học trước thường thực hiện theo kiểu cũ, chẳng hạn chữ “lan” phải đánh vần đúng là “lờ-an-lan” thì trẻ lại đánh vần thành “a-nờ-an-lờ-an-lan”.

Học sinh còn ngồi sai tư thế dẫn đến cách cầm bút, để vở theo thói quen xấu, khó sửa và dễ thành tật.

Tập đánh vần cho bé lớp 1 bắt đầu từ việc làm quen mặt chữ

Cách dạy bé lớp 1 đánh vần hiệu quả cần phải cho bé làm quen với các mặt chữ cái, dấu câu. Mẹ có thể mua các thẻ chữ cái ở các nhà sách hoặc tự làm, trang trí thành những bảng màu ngộ nghĩnh, dễ thương, kích thích thị giác của trẻ.

Ngoài ra, mẹ cũng có thể mua những chữ cái có gắn nam châm, gắn lên cánh cửa tủ lạnh hoặc mua bảng chữ cái ngộ nghĩnh dán lên góc học tập, vị trí bé dễ nhìn thấy nhất.

Cách dạy bé đánh vần vào lớp 1 từ những chữ đơn giản

Với những từ khó đánh vần hoặc từ quá dài, mẹ không nên nôn nóng bắt bé phải học được ngay. Do khả năng phát âm của bé vẫn chưa hoàn thiện, nếu mẹ dạy những từ đánh vần khó, bé sẽ cảm thấy không hứng thú với việc học. Tốt nhất, mẹ hãy bắt đầu cho bé làm quen với những từ ngắn, dễ nhớ, kích thích việc ham học ở bé, sau đó thì mới nâng độ khó lên.

Thời gian dạy bé bao nhiêu là đủ?

Kinh nghiệm trong cách đánh vần tiếng việt chuẩn

Thời gian cùng bé học đánh vần nên vào những thời điểm bé ít bị chi phối bởi những trò chơi. Theo các nghiên cứu, thời gian tốt nhất là khi tắm vì trong phòng tắm bé không có nhiều trò chơi nên dễ tập trung hơn.

Bố mẹ nào cùng mong con mình nhanh biết đánh vần, nhưng mẹ nên nhớ không được dùng biện pháp bạo lực, ép buộc trẻ. Trẻ con rất ưa nịnh, thích những điều vui vẻ, vì thế đừng tạo áp lực cho con. Dạy trẻ học cần phải kiên nhẫn, mỗi ngày cho bé tiếp nhận một ít và tích tụ dần.

Trước khi dạy trẻ lớp 1 đánh vần, bố mẹ cần đảm bảo việc dạy cho bé nhớ hết mặt chữ cái, dấu câu. Có thể mua các thẻ chữ, số, kèm hình ảnh để bé có hứng thú học hơn.

Để ôn những chữ đã dạy, không ép bé phải thuộc cả chữ, nên cho bé tìm chữ cái bị mất, ví dụ như từ “bàn” chỉ còn “…àn” rồi cho bé từ “b” và “d” hỏi xem phải ghép chữ nào.

Trẻ nhỏ thường hiếu động nên rất khó ngồi “ôm sách”, do đó bạn nên dán bảng chữ cái lên tường và cùng chơi trò học chữ cùng với trẻ. Khi chơi, xem xét độ hào hứng của trẻ, nếu trẻ thích có thể dạy nhiều chữ, còn trẻ không hứng thì chỉ nên dạy khoảng 2-3 chữ. Sau đó, khi bé xem phim thì cha mẹ nhắc lại những chữ đã dạy để trẻ nhớ.

Đánh vần theo công nghệ giáo dục mới

Cách dạy trẻ lớp 1 đánh vần có nhiều thay đổi so với trước đây. Âm là “Vật thật, là âm thanh”. Chữ là “Vật thay thế” dùng để ghi lại, cố định lại âm. Theo quan điểm của Công nghệ Giáo dục, 1 âm ghi lại bằng 1 chữ, nghĩa là các chữ ghi âm có vai trò như nhau. Ví dụ: 1 âm /chờ/ được ghi lại bằng 1 chữ “ch” (chữ: chờ) chứ không phải là được ghép lại từ 2 chữ c và h.

Đánh vần theo Âm, không đánh vần theo Chữ

Ví dụ: ca là /cờ/ – /a/ – ca/, ke là /cờ/ – /e/ – /ke/, quê là /cờ/ – /uê/ – /quê/

Do đánh vần theo âm nên khi viết phải viết theo Luật chính tả: Âm /cờ/ đứng trước âm /e, ê, i/ phải viết bằng chữ k (ca). Âm /cờ/ đứng trước âm đệm phải viết bằng chữ q (cu), âm đệm viết bằng chữ u.

Đánh vần theo cơ chế 2 bước

Bước 1: Đánh vần tiếng thanh ngang (Khi đánh vần tiếng thanh ngang, tách ra phần đầu/phần vần). Ví dụ: ba là /bờ/ – /a/ – /ba/.

Bước 2: Đánh vần tiếng có thanh. Khi đánh vần tiếng có thanh khác thanh ngang thì tạm thời tách thanh ra, để lại thanh ngang. Ví dụ: bà: /ba/ – /huyền/ – /bà/. Học sinh chỉ học tiếng có thanh khi đã đọc trơn được tiếng thanh ngang.

Bảng âm và vần theo chương trình mới

Các chữ đọc như cũ: a, ă, â, b, ch, e, ê, g, h, i, kh, l, m, n, ng, ngh, nh, o, ô, ơ, ph, s, t, th, u, ư, v, x, y.

Các chữ đọc là /dờ/ nhưng phát âm có phần khác nhau: gi; r; d.

Các chữ đều đọc là /cờ/: c; k; q.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài 1: Cách Phát Âm Và Đánh Vần. trên website Theolympiashools.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!